Chút Tâm tình Tháng Hoa

Đức Mẹ đã đưa tôi vào đạo

 


“Tôi là người con gái kế út trong gia đình 9 anh chị em. Tôi không rõ ba tôi có là tín đồ Phật giáo không, nhưng ba tôi thích phóng sinh các con vật như chim, cá, rùa mỗi năm vài lần. Mỗi lần rất nhiều và tổ chức long trọng lắm. Ba tôi rất thương vợ con, và rất ghét những gì gian dối, đặc biệt là ba tôi luôn sẵn lòng giúp đỡ những người kém may mắn. Má tôi thì hết lòng xây dựng gia đình, hết lòng thương con cái. Tôi chưa hề thấy má tôi lớn tiếng la mắng con cái, nhưng luôn kiên nhẫn dùng lời phân tách giảng giải cho các con. Má tôi thật là tín đồ sùng bái Phật giáo và rất thương người.

Trong khi đó, nhìn ra lối xóm, thấy có nhiều người dữ dằn, nhiều người đàn bà lúc nào cũng sẵn sàng tuôn ra những lời chửi bới nguyền rủa con cái hay người khác cách độc ác, trong những người này, có nhiều người theo đạo Thiên Chúa (Công giáo). Lớn lên, khi tôi đi học, tôi cũng gặp nhiều người bạn Công giáo, những người này thường hay khinh miệt các tôn giáo khác, mà bản thân họ chỉ thấy cuồng tín, ích kỷ, chứ không có gì nói lên rằng đạo Công giáo là hay là tốt. Do đó, đầu óc tôi mamg những ý tưởng e dè mấy người Công giáo, cho tới khi trưởng thành tôi vẫn luôn nghĩ là sẽ KHÔNG BAO GIỜ theo đạo Công giáo.

Khi tôi quen chồng tôi, tôi không biết anh là người miền Bắc và Công giáo, vì anh nói giọng Nam. Anh lôi cuốn tôi, vì tôi thấy anh biết quan tâm tới cha mẹ và các em của anh, nên tôi nghĩ rằng anh có thể là người chồng tốt. Tới khi biết anh là người Bắc và Công giáo tôi rất phân vân. Tôi viết thư hỏi ý kiến ba má tôi. Ba má tôi để tôi tự do, và có lần khuyên tôi nên theo Công giáo cho đồng vợ đồng chồng. Chồng tương lai tôi cũng thuyết phục nhiều lần, dầu vậy, tôi quyết không theo Công giáo. Làm sao tôi quên được những ám ảnh từ hồi còn nhỏ về những người Công giáo kia. Sau cùng ảnh nhượng bộ: Đạo ai nấy giữ, nhưng với vài điều kiện tôi phải chấp nhận theo giáo luật như cho con rửa tội, và dạy con theo tinh thần đạo, không được cố tình ngăn cản anh theo đạo anh…Tôi thấy mỗi bên nhượng nhau một chút cũng là phải, nên tôi chấp nhận. Trong thời gian này, tôi theo học khóa dự bị hôn nhân. Tôi quen biết và kính trọng các linh mục, nhất là cha bác của chồng tôi. Tôi được làm lễ Gia Tiên, làm hôn phối trong nhà thờ, được các cha quan tâm, mến chuộng cách sống của chồng tôi, nhưng tôi vẫn không đổi ý, nhất quyết không theo Công giáo. Điều này làm phật ý bố mẹ chồng tôi, là những người Công giáo gốc, tôi biết những tiếng xì xèo, bóng gió, nhưng tôi cứ nín thinh, cho tới khi sinh đứa con thứ hai, thì sự cay đắng với cha mẹ chồng đã vượt quá sức chịu đựng của tôi. Tôi nảy mầm thù ghét đạo Công giáo. Thời gian này tôi được hung tin từ VN: Má tôi vĩnh viễn ra đi. Nghe tin ấy, tôi đau buồn tới ngã quị. Người mẹ mà tôi sùng bái như mẫu gương hy sinh đã không còn nữa. Người mẹ mà từ ngày rời gia đình tôi vẫn mang theo trong lòng để có sức phấn đấu nơi quê người. Suốt mấy tháng, tôi sống thẫn thờ, tâm hồn tan nát, nước mắt tuôn tràn. Vào lúc tôi ở trong tận đáy của đau buồn thì Đức Mẹ đã soi dẫn tôi.

Nếu tôi nhớ không lầm thì sau khi điều đình với chồng tôi, và chúng tôi bàn nhau, dù tôi không rõ đón tượng Đức Mẹ để làm gì, nhưng chiều ý chồng tôi, tôi bằng lòng chuyện ấy. Chiều ngày 22/7/1995, bác Phổ đưa tượng Đức Mẹ đến nhà tôi, có thêm vài gia đình trong Khu xóm đến đọc kinh. Tôi không dự. Tượng Đức Mẹ ở lại nhà tôi một tuần. Tối nào chồng tôi cũng bế con, thắp nến cầu nguyện cách rất sùng kính trước tượng này. Tôi để mặc, không nghĩ gì.

Rồi hôm thứ Tư tuần đó, vào buổi trưa, sau khi đã dỗ cho 2 đứa bé ngủ, tôi ngồi một mình ở ghế sôpha nhìn lên tượng Mẹ, tâm hồn tôi trống vắng, nhìn mà không có chút ý tưởng nào hết. Đột nhiên, tôi như thiếp đi, không thấy gì nữa. Tôi nghe như có tiếng phụ nữ đang êm ái kể ra cho tôi ngững nguy nan tôi đã trải qua, và chỉ cho tôi biết Thiên Chúa đã quan phòng sắp xếp để che chở tôi. Tôi hỏi lại là Thiên Chúa biết việc tôi sao? Giọng người nữ đoan chắc điều đó. Rồi Người an ủi tôi, cho biết là mọi thử thách đã qua, còn khen tôi đã sống đẹp lòng Chúa…Tới đây tôi bừng tỉnh, tôi thấy mặt Đức Mẹ đẹp rạng ngời, ánh mắt tha thiết yêu thương như bao dung khích lệ. Tôi nhận ra ngay là vừa rồi chính Mẹ đã nói chuyện với tôi. Hồn tôi bừng tỉnh nhận ra là Người đã sinh ra tôi, tôi còn có người Mẹ thánh thiêng. Nước mắt tôi tuôn trào. Tôi đã khóc vì vui sướng, mà không thể diễn tả vui sướng chừng nào.

Tôi đã sốt sắng ghi tên vào lớp Dự tòng. Nay tôi đã tin. Tôi nhiệt thành học hỏi đạo Chúa. Thời gian thấm thoát, sau 6 tháng đã tới ngày vui: Ngày lễ mừng Chúa Phục sinh năm 1996, tôi đã được nhận Phép Rửa, chính thức gia nhập đạo Công giáo. Tôi tạ ơn Đức mẹ, cảm ơn các linh mục, và những ai đã giúp tôi nhập đạo Chúa. Tôi hãnh diện là người Công giáo. Nhớ lại câu chuyện “Vết chân trên cát”, rõ ràng là Chúa đã đi bên tôi những ngày đau khổ. Chúa đã không chấp tội tôi mưu nghịch lại đạo Chúa.

Bây giờ tôi say mê đạo lắm, thích đi lễ để nghe giảng dạy. Tôi rất yêu đời, yêu mái ấm gia đình nhỏ bé đang được Chúa che chở. Bây giờ tôi nhìn những người không sống đạo tử tế, tôi thấy tội nghiệp cho họ, mà không thấy khinh ghét như xưa.

(Truyện của chị Ngô T. Ngọc Sương, Fort Worth, Texas)

VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH

 

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM A

 


“Mục Tử nhân lành thí mạng sống vì chiên...” Cái chết của Chúa trên Thập giá, được tái hiện trong thánh lễ hôm nay, một lần nữa giúp chúng ta xác tín vào lòng nhân lành của Mục Tử Giêsu.

Xin cho mỗi chúng ta, không chỉ nhìn ra Chúa là Mục Tử của chúng ta, nhưng còn biết sống xứng đáng là chiên của Chúa, khi biết nghe và đi theo Ngài, để nhờ đó ta được dẫn đến với vương quốc của Con Chiên là chính hạnh phúc nước trời.

Trong cuốn chân dung Thánh GH. Gioan Phaolô II, tác giả Andzé Frossard đã giới thiệu với chúng ta : “Đầy dũng cảm và với sức mạnh siêu nhiên, Đức Thánh Cha xông pha khắp mọi miền của thế giới, không quản ngại nhọc nhằn, không mảy may lo ngại biết bao nguy hiểm, để làm cho mọi người vững tin. Như thế, người thực hiện sứ mạng của người kế vị Phêrô, người thừa tác của Chúa Kitô, người chủ chăn của Giáo Hội... Trong thời buổi đen tối mịt mù này, Thánh GH. Gioan Phaolô II là người cống hiến cho mọi người ánh sáng của Chúa Kitô. Người đã dũng cảm, mạnh mẽ xác nhận các chân lý của đức tin. Trong thời buổi đại khổ nạn, chối bỏ Chúa, người kêu mời, khẩn xin mọi người tiến bước trên con đường tương ái và hoà bình, giữa bối cảnh của thế giới đầy bạo lực, hận thù, hỗn loạn và chiến tranh”.

Bức tranh mà tác giả mô tả về Thánh GH Gioan Phaolô II mang dáng dấp hình ảnh sống động của Đức Kitô Mục Tử nhân hậu, mà thánh Gioan hôm nay đang diễn tả. Nếu như tội lỗi đã làm cho nhân loại băng hoại và tản mác như những chiên lạc đàn, xa nẻo, thì nhờ nước và máu đổ ra trên thập giá, Con Chiên Thiên Chúa đã tẩy rửa, giao hoà và đem chúng ta về sống trong đàn chiên Chúa là Giáo Hội. Hơn nữa, Ngài còn lo lắng và nuôi dưỡng đàn chiên bằng ơn sủng của Bí Tích, cũng như nơi sự quan phòng yêu thương của Ngài. Để chiên khỏi bị lạc bầy và rơi vào tình trạng ốm yếu, đói khát, lang thang tiều tụy, Ngài quan tâm hướng dẫn và hết lòng dạy dỗ. Đáp lại tình thương của Mục Tử nhân lành, chiên phải biết lắng nghe và đi theo tiếng chủ chiên. Thái độ vâng phục đức tin ấy, không làm chúng ta thui chột hay vong thân. Trái lại, nhờ đi trong đường nẻo và ánh sáng Chúa, vâng phục chủ chiên, ta không chỉ tránh được những cạm bẫy nguy hiểm của ma quỉ, mà còn được vui thoả trong đồng cỏ xanh, hạnh phúc nơi dòng suối mát. Lòng yêu thương của Mục Tử còn trải rộng đến vô biên, khi mong ước cho mọi người được gia nhập và sống trong đàn chiên Chúa: “Ta còn những chiên khác chưa thuộc về đàn này, cả chúng nữa Ta cũng phải đưa về, để chúng nên một đàn chiên dưới quyền chăn dắt của một chủ chiên”.

Sứ mạng ấy, Chúa Giêsu không chỉ ôm ấp, thao thức, nhưng Ngài đã chia sẻ cho Giáo Hội qua thánh Phêrô:  “Con hãy chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Ta”. Đáp lại lời mời gọi của Chúa, thánh tông đồ đã mạnh dạn rao giảng và mời gọi : “ Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội và sẽ nhận được ân huệ của Thánh Thần”.

Đón nhận của các thánh tông đồ, cả một đoàn lũ đông đảo gồm 3.000 người đã tin vào Đức Kitô, mục tử tối cao, và sẵn sàng bước đi theo sự chăn dắt của Ngài : “Xưa kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc. Nhưng nay đã quay về với vị mục tử Giêsu, Đấng chăn dắt linh hồn anh em”.

Kính thưa ông bà anh chị em,

Đến với Chúa nhật IV Phục sinh, ngày Chúa nhật lễ Chúa Chiên Lành, chúng ta không chỉ được mời gọi để khám phá ra chân dung của Vị Mục Tử Giêsu, nhưng còn biết đón nhận hạnh phúc khi sống trong đàn chiên của Ngài là Giáo Hội. Cảm nghiệm ấy thôi thúc chúng ta nhìn lại chính mình, để thấy được tương quan cần có giữa ta và Mục Tử Giêsu:

-   “Mục tử nhân lành thí mạng sống vì chiên”. Theo gót Mục Tử Giêsu, biết bao vị mục tử đã sống đời tận hiến, hi sinh phục vụ, cho dù có phải vì thế mà bị thiệt thòi, mất mát và đe doạ ngay cả mạng sống mình. Chúng ta hôm nay có ý thức đến điều này, để cầu nguyện cho có nhiều mục tử tốt lành. Nhất là còn biết chia sẻ trách nhiệm với các vị mục tử bằng tất cả quảng đại nhiệt tình, cũng như giúp các Ngài luôn sống xứng đáng là mục tử như lòng Chúa mong ước không?

-  “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”. Hôm nay, chúng ta có phải là chiên thật của Chúa khi biết lắng nghe Lời Chúa qua vị chủ chiên, hay như những người Do Thái xưa, chối bỏ Lời Thiên Chúa. Sống trong đoàn chiên giáo xứ mà cứ muốn theo ý riêng, bất chấp mọi lời giảng dạy, liều mình vào đường tội lỗi, và chối bỏ không muốn sống trong đàn chiên Giáo Hội không?

-  “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người”. Ngày lễ Chúa chiên lành cũng là ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi tu trì. Chúng ta có ý thức điều đó để tha thiết xin Chúa mở lòng những người trẻ sẵn sàng quảng đại đáp lại tiếng Chúa. Đồng thời cũng biết tích cực góp phần của mình vào việc nuôi dưỡng và phát triển ơn gọi trong giáo xứ qua những đóng góp chia sẻ chưa?

Xin cho phép tôi có đôi lời với anh chị em họ Mathêu Gẫm. Anh chị em thân mến,

Mừng lễ Mathêu Gẫm ngay trong ngày Chúa Nhật 4 Phục sinh, Chúa nhật lễ Chúa chiên lành, ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi, một dịp để chúng ta soi lại mẫu gương của thánh Mathêu Gẫm bổn mạng.

Năm 15 tuổi, Mathêu Gẫm đã từng ao ước dâng mình cho Chúa. Nhưng do không được Chúa kêu gọi, ngài đã trở về thế gian để sống đời người Kitô hữu. Lập gia đình và có bốn con, Ngài đã lo lắng chu toàn bổn phận của người chồng, người cha gia đình công giáo. Bên cạnh đó Ngài còn gắn bó yêu mến Giáo Hội, lo lắng bảo vệ cho các Đấng thừa sai trong công cuộc truyền giáo. Chính vì liên lụy đến việc chở các vị thừa sai từ Singapore về Việt Nam mà Ngài đã bị bắt, bị kết án chém đầu và chôn tại họ đạo Chợ Quán.

Cả cuộc đời, ngài đã luôn gắn bó với chủ chiên, và sống như một con chiên ngoan hiền trong đàn chiên của Chúa. Mẫu gương và đời sống của ngài mời gọi mỗi chúng ta, đặc biệt anh chị em họ Mathêu Gẫm, hãy cổ võ và quảng đại dâng con cái cho Chúa trong đời sống tu trì. Đồng thời, luôn biết là những con chiên ngaon hiền trong đoàn chiên Chúa, bằng cách vâng nghe lời chủ chiên, hiệp nhất gắn bó với anh chị em chung quanh. Nhất là biết hợp tác và rộng rãi chia sẻ, góp phần làm cho đoàn chiên ngày càng lớn mạnh thăng tiến. Có như vậy việc mừng lễ bổn mạng hôm nay mới thực sự tôn vinh Thiên Chúa, ngợi khen thánh Mathêu Gẫm, và đồng thời đem đến cho mỗi chúng ta lòng nhiệt thành hăng say dấn thân phục vụ Chúa và Giáo Hội như thánh Mathêu Gẫm nêu gương. Amen.

 

 

Lòng Thương Xót Của Chúa

 

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

 


Chuyện kể rằng, trong thời kỳ bắt hại đạo có một linh mục đã mạnh dạn can đảm tuyên xưng niềm tin của mình đến chết. Khi bị đánh đập, ngài vẫn không hề run rẩy mà xưng ra rằng tôi tin. Lý hình cho cắt lưỡi, ngài lấy tay chấm máu từ lưỡi ngài mà viết : Tôi tin. Quá tức giận vì không lay chuyển được một niềm tin kiên cường và bất khuất của vị linh mục, lý hình đã cho chém đầu người tôi trung của Chúa.

Vị linh mục anh hùng kia đã không đòi thấy rồi mới tin. Nhưng ngài đã tin để được thấy. Mỗi người đều biết rằng, đã mang thân xác con người – ai cũng sợ roi đòn lao tù, cũng đều ham sống sợ chết. Vây mà vị linh mục trên đã không hề lùi bước trước những lao luỵ, gian đau khổ, ngay cả đến cái chết. Niềm tin trung kiên của ngài, hẳn đã làm cho những người có mặt thấy thế nào là đức tin của người Kitô hữu.

Niềm tin ấy cũng đã từng được các tín hữu đầu tiên trân trọng và thực hành một cách rất sống động và phong phú. Sách Tông Đồ Công Vụ hôm nay sẽ minh hoạ điều đó.

Được lãnh nhận niềm tin nơi các Tông đồ, các tín hữu sơ khai đã không ngừng củng cố và làm cho niềm tin thêm vững mạnh, nhờ vào việc lắng nghe giáo huấn của các Tông đồ. Hơn nữa, họ còn làm cho đức tin ấy ngày càng triển nở, và đâm rễ sâu bởi một đời sống gắn bó với Đức Kitô trong cầu nguyện và hiệp thông bẻ bánh. Như một kết quả hiển nhiên, đức tin của các tín hữu ấy dẫn đến một đời sống hiệp nhất yêu thương, công bình và bác ái để không ai thấy mình còn bị thiếu thốn. Từ đó , họ trở thành một cộng đoàn Kitô hữu đạo đức, vui vẻ, dễ thương, mở đường cho nhiều người qua đó được  trở về cùng Thiên Chúa.

Tuy nhiên, niềm tin mà các Tông đồ đắc thủ để chuyển thông cho các tín hữu, đã phải trải qua rất nhiều những thăng trầm vất vả : Một Thiên Chúa quyền năng thế mà lại tỏ ra quá yếu đuối trước những lời nhục mạ, dể duôi của kẻ thù. Từng thực hiện biết bao phép lạ, kể cả cho người chết sống lại, vậy mà Con Thiên Chúa lại không xuống được khỏi cây thập giá, mà dạy cho kẻ thù của Ngài bài học lễ độ. Vì vậy, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi biết rằng Chúa Giêsu sau khi chịu chết và chôn trong mồ đá thì các Tông đồ, kẻ thì bỏ trốn về quê như hai môn đệ Emmau, số còn lại trốn chui lủi trong phòng kín.

Cảm thông điều đó, nên Chúa Giêsu đã nhiều lần hiện ra cùng các Tông đồ, cho họ xem tay chân và cùng ăn uống với họ, để củng cố niềm tin cho các ông. Ngài cũng không hề khó chịu chấp nhận trước sự cứng cỏi của Tôma : Nếu tôi không thấy các vết thương. Nếu tôi không thọc bàn tay các lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, thì tôi không tin. Hiện ra với Tôma hôm nay, Chúa không chỉ muốn củng cố niềm tin của Tôma mà còn của mỗi chúng ta, những con người vốn quá dòn mỏng và yếu tin. Hơn nữa Ngài muốn chúng ta hiểu rằng, niềm tin không phải là món hàng vay mượn, nhưng còn là niềm xác tín của mỗi cá nhân, của từng người : Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con .

Có được niềm tin và sự xác tín vào Chúa đã là khó, nhưng  còn khó hơn nhiều trong việc giữ và củng cố đức tin của mình. Ý thức điều này nên thánh Phêrô trong thư thứ I hôm nay đã an ủi và khích lệ chúng ta rằng : “Anh em hãy vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin anh em. Anh em hãy hớn hở vui mừng, đầy hãnh diện hiên ngang và chan chứa niềm vui khôn tả, vì đã nắm được thành quả của đức tin anh em là ơn cứu độ”.

Niềm tin và ơn cứu độ của Đức Kitô đã được ban tặng cho nhân loại hơn 2000 năm qua. Vậy mà cây đức tin xem ra vẫn chưa bén rễ sâu nơi lòng giáo xứ và mỗi chúng ta. Trái lại vẫn đang từng ngày bị lung lay và chao đảo bởi một lối sống phù phiếm xa hoa và tội lỗi. Vì thế bài Tin Mừng hôm nay phải là một dịp để khơi lên và làm cho đức tin của chúng ta ngày càng bén rễ và chín muồi :

*  Đức tin có được nhờ nghe . Các tín hữu sơ khai đón nhận đức tin và không ngừng làm cho đức tin triển nở nhờ vào việc siêng năng lắng nghe lời rao giảng của các Tông đồ. Hôm nay, chúng ta có biết chăm lo vun xới cây đức tin của chúng ta, bằng việc học hỏi giáo lý, siêng năng cầu nguyện, tham dự thánh lễ, và lắng nghe lời của Chúa qua các vị chủ chăn ?

*   Đức tin không việc làm là đức tin chết. Niềm tin của các tín hữu sơ khai, đã không hề bị đóng khung,  nhưng luôn được cụ thể, biểu thị cách sống động bởi một đời sống đoàn kết yêu thương, phục vụ quên mình, chuyên chăm cầu nguyện và bẻ bánh. Hôm nay gia đình tôi, bản thân tôi đã có việc làm gì, dấu chỉ nào để biểu hiện đức tin của tôi với Chúa và tha nhân, với đồng loại.

*  Anh em hãy vui mừng, mặc dù còn phải ưu phiền giữa trăm chiều thử thách. Lời của thánh Tông đồ Phêrô có thôi thúc chúng ta mạnh dạn can đảm tuyên xưng đức tin và sống đức tin, để giữa đau khổ luôn vui tươi, giữa khó khăn luôn trông cậy, giữa thử thách luôn kiên trì, giữa thất bại luôn tin tưởng, giữa yếu đuối luôn phó thác, giữa nghi kỵ luôn yêu thương không?

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con. Lời các Tông đồ xưa thưa với Chúa cũng là tâm tình của chúng con trong giờ phút này.

Xin Chúa cho chúng con, một lần như Tôma được xác tín vào Chúa, thì cũng sẵn sàng hiên ngang rao giảng về Chúa, để không phải nhờ thấy mới tin, nhưng nhờ tin mà chúng con sẽ được thấy mọi sự. Amen.

 

 

Chúa Đã Sống Lại- Alleluia

 

LỄ  PHỤC  SINH


 

“ Cánh Bướm Mùa Xuân”, vũ khúc do các em thiếu nhi thành phố thực hiện trên đài truyền hình cách đây ít lâu, đã gieo vào lòng người xem một sự hấp dẫn và thích thú. Nhìn các em nhẹ nhàng uyển chuyển theo lời bài hát, điệu múa, dễ làm người xem liên tưởng đến những cánh bướm muôn màu sặc sỡ, vẫn luôn có mặt để điểm tô cho mùa xuân của con người thêm tươi vui và ngập tràn sức sống. Phải chăng cũng từ ý nghĩa ấy mà Giáo Hội thường coi bướm như là biểu tượng của mùa Phục Sinh, của sự sống mới.

Ai lại chẳng hiểu rằng cánh bướm xinh đẹp duyên dáng kia là kết quả của chú sâu róm lột xác. Để ý quan sát chúng ta thấy : sâu chỉ biết bò chầm chậm sát đất, còn bướm thì nhởn nhơ trong không gian thơm ngát hương hoa của mùa xuân. Sâu chỉ sống bám dưới gốc cây kẽ lá, còn bướm thì lượn quanh những khóm hoa muôn sắc rực rỡ. Sâu làm người ta sợ và gây thiệt hại cho hoa quả, còn bướm đem lại niềm vui, tô điểm thêm vẻ đẹp của đất trời. Thế nhưng sâu và bướm lại là biến thể của cùng một thực tại. Đó là mầu nhiệm thâm sâu của thiên nhiên, của cuộc sống, của Đức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh.

Thật vậy, cũng như chú sâu róm xấu xí hèn hạ, đã phải chui vào cái tổ kén nhỏ hẹp đen tối của mình để lột xác, trước khi biến dạng thành một nàng bướm nhẹ nhàng kiêu diễm, thì Đức Kitô trước khi bước vào vinh quang Phục Sinh, cũng đã từng trải qua những giờ phút đau thương sỉ nhục và tăm tối nơi mồ đá ba ngày. Cả cuộc đời, Ngài chỉ biết sống phục vụ yêu thương. Thế nhưng những gì Ngài nhận lại, chỉ là những phản bội bất trung, thù ghét và cái chết nhục nhã trên Thập giá. Bài học mà Ngài để lại cho ta qua cuộc tử nạn Phục Sinh, đã giúp ta có thể hiểu mình, hiểu người, hiểu đời hơn. Cảm nhận ra chân giá trị của cuộc sống để học biết kiên nhẫn, cảm thông, thứ tha tự hạ và tự thoát. Phải chăng cái giá của sự sống là phải đi qua cái chết : “Đức Kitô phải trải qua đau khổ mới bước vào vinh quang”.

Chân lý này xem ra quá đơn giản, nhưng để có thể xác tín thì không dễ dàng tí nào. Hai Tông đồ Phêrô và Gioan mà Tin Mừng ghi lại đã theo chân các phụ nữ ra thăm ngôi mộ Chúa. Họ thấy có các dây băng và khăn liệm nhưng lại không có xác Ngài, nên các ông vẫn chưa tin dù từng nghe biết trước: “Theo Kinh Thánh, Ngài phải sống lại từ cõi chết”. Chỉ sau này, khi được Chúa nhiều lần hiện ra và qua Thánh Thần tác động, các ông mới có được niềm xác tín ấy và sẵn sàng làm chứng cho mọi người rằng: Đức Giêsu chính là Đấng mà người ta đã treo trên Thập giá, nhưng ngày thứ ba Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại. Đây không chỉ là nền tảng, là niềm hy vọng, mà còn phải trở thành điểm tựa, sức bật và là một kinh nghiệm sống mầu nhiệm Phục Sinh của mỗi Kitô hữu : “Anh em thân mến, anh em đã chỗi dậy làm một với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa”. Vì vậy, tất cả những gì phải làm lúc này, là hãy cởi mở tâm hồn mình, dấn bước theo ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh :

- Mỗi lần chúng ta khước từ dịp tội, cám dỗ và lôi cuốn của ma quỷ, thế gian, xác thịt, là chúng ta đang tham dự vào quyền năng Phục Sinh, là rũ bỏ kiếp sâu bọ hèn hạ tầm thường mà mặc lấy vẻ đẹp rực rỡ của những cánh bướm trong vườn xuân Thiên Quốc.

- Mỗi lần chúng ta kiên trì cầu nguyện giữa đơn côi bệnh tật, nỗ lực cố gắng sau những cứng cỏi thất bại, luôn tin tưởng tín thác sau những phản bội bất trung, là chúng ta đang làm cho sứ điệp Phục Sinh tái hiện trong chính bản thân mình.

- Mỗi khi chúng ta thắp lên lửa tin yêu, hy vọng giữa bóng đêm của hụt hẫng khổ đau, chấp nhận dấn thân phục vụ ngay trong lừa lọc lợi dụng ; quảng đại để tha thứ dù bị vu khống lên án và đay nghiến, là lúc chúng ta làm cho niềm tin Phục Sinh được rực sáng giữa bầu trời đen tối của nhân loại đau thương.

Giữa bóng đêm âm u của sự chết, Anh Sáng Phục Sinh của Đức Kitô đã tỏ hiện. Bình minh của ngày thứ I, ngày Chúa nhật Phục Sinh không chỉ xua tan đi băng giá của tội lỗi bất hạnh, nhưng còn khơi lên biết bao niềm vui và hy vọng. Sự sống đã xuất hiện trước tiên và trên hết cho những mảnh đời vỡ vụn nơi Maria Mad, nơi các Tông đồ. Từ nơi họ, sứ điệp Phục Sinh đã được loan đi, và vang xa đến tận cùng trái đất. Sứ điệp ấy là: Không gì có thể huỷ diệt chúng ta dù là đau khổ, tội lỗi, chối từ và kể cả sự chết. Sứ điệp Phục Sinh ấy là Đức Kitô đã ngự bên hữu Thiên Chúa, để từ đây mở đường khai lối và dẫn đưa chúng ta về trời.

Như các Tông đồ, như Maria Mad, chúng ta hãy làm cho niềm xác tín của ta vào Chúa thêm mãnh liệt, sâu xa nhờ lắng nghe, suy niệm lời Kinh Thánh, gặp gỡ Ngài nơi Bí Tích Thánh Thể, qua anh chị em nghèo khổ bất hạnh. Với sức mạnh tình yêu Phục Sinh, chúng ta sẽ không chỉ phá đổ mọi bức tường của tội lỗi, san bằng những núi đồi của ích kỷ hận thù, xua tan những băng giá của chán chường thất vọng, cay cực nước mắt. Chắc chắn một khi đã chấp nhận đi vào mầu nhiệm tử nạn giữa những đau khổ hy sinh, quên mình phục vụ, như đi vào trong tổ kén nhỏ hẹp tăm tối, chúng ta sẽ có dịp để hoá thân thành những cánh bướm sặc sỡ, nhởn nhơ trong vườn xuân thên quốc, nơi ngập tràn ánh sáng và tình yêu của Chúa Kitô Phục Sinh. Amen.

 

 

Bổn mạng và lễ giỗ tháng 4




 

Tam Nhật Thánh.

                                             TAM NHẬT THÁNH LÀ GÌ?



Tam Nhật Thánh là cao điểm quan trọng nhất của Năm Phụng Vụ, thường được gọi với các tên như: Tam Nhật Thánh (Holy Triduum), Tam Nhật Vượt Qua (Paschal Triduum), Tam Nhật Phục Sinh (Easter Triduum). Đây là trung tâm điểm của đức tin Kitô giáo: sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô.

Từ “Triduum” có gốc tiếng Latinh nghĩa là “ba ngày”:

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Năm và kết thúc vào chiều tối Thứ Sáu.

Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Sáu và kết thúc vào chiều tối Thứ Bảy.

Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Bảy và kết thúc vào chiều tối Chúa Nhật.

Tam Nhật Thánh bắt đầu từ chiều Thứ Năm Tuần Thánh và kết thúc vào Kinh Chiều (Evening Prayer ) của Chúa Nhật Phục Sinh. Tam Nhật Thánh bao gồm 3 ngày trọn vẹn: bắt đầu và kết thúc vào chiều tối. Như vậy, Tam Nhật Vượt Qua bao gồm: Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday), Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday), Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday), Đêm Vọng Phục Sinh (Great Easter Vigil), đỉnh cao của Tam Nhật Thánh, và Chúa Nhật Phục Sinh (Easter). Nếu tính theo cách của người Việt Nam, thì không phải ba ngày, mà là, bốn ngày: Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy, Chúa Nhật.

Tam Nhật Thánh là một phần của Mùa Chay, nên, Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy Tuần Thánh vẫn được tính vào 40 ngày Mùa Chay truyền thống.

Tam Nhật Thánh tưởng niệm Mầu Nhiệm Thánh Thể (Bí tích của các Bí tích), Mầu Nhiệm Tử Nạn và Mầu Nhiệm Phục Sinh vinh quang của Chúa Giêsu vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Các Mầu Nhiệm quan trọng của Tam Nhật Thánh, cùng với Mầu Nhiệm Thăng Thiên làm nên Mầu Nhiệm Vượt Qua (Paschal Mystery).

Lễ Truyền Dầu trước Tam Nhật Thánh: Sở dĩ được gọi là Lễ Truyền Dầu, bởi vì, trong Thánh Lễ này, Đức Giám Mục sẽ thánh hiến dầu SC (Sacrum Chrisma), để dùng vào việc thánh hiến, và làm phép dầu OS (Oleum Sanctum) hay OC (Oleum Catechumenorum), để dùng cho dự tòng, và dầu OI (Oleum Infirmorum), để dùng cho bệnh nhân. Dầu được làm phép: OI - Dầu Ông I đi kẻ liệt; OS hoặc OC - Dầu Ông Sáu, Dầu Ông Cha thoa dự tòng. Dầu được thánh hiến: SC - Dầu Siêu Chuẩn thuần thánh hiến: được dùng để thánh hiến nhà thờ, bàn thờ, và được dùng trong các bí tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh.

 Lễ Truyền Dầu còn có mục đích tưởng niệm việc Đức Giêsu lập Bí Tích Truyền Chức Thánh, tấn phong một số người được tuyển chọn lên làm Linh Mục, ban cho các ngài quyền hành động nhân danh Đức Kitô để làm những việc, mà đúng ra, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể làm, như tái diễn hy lễ của Đức Kitô trên Thánh Giá, tha tội cho con người... Lễ Truyền Dầu liên quan trước tiên đến các Linh Mục, vì thế, vào một ngày thích hợp trước Tam Nhật Thánh, các Linh Mục Giáo Phận quy tụ về xung quanh Vị Chủ Chăn Giáo Phận để cử hành Thánh Lễ Truyền Dầu, trong đó, các ngài sẽ lặp lại lời thề với Đấng Bản Quyền: hứa trung thành với Sứ Vụ Linh Mục đã được trao phó cho mình.

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Phục Sinh Vĩnh Cửu

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY ( Năm A )


 
 Mối bận tâm của chúng ta trong Mùa Chay, không chỉ là tìm về với Thiên Chúa bằng cách dứt mình ra khỏi tội, mà còn được mời gọi để sống cuộc sống mới, cuộc sống của những người được Chúa Giêsu giải thoát và được Thần Khí Chúa tác sinh.

Tin Mừng các Chúa nhật Mùa Chay bao giờ cũng khởi đầu bằng cơn cám dỗ của Đức Kitô trong địa. Ngay sau đó là cuộc biến hình tràn ngập ánh quang vinh hiển, để kẻ tin định hướng ngay từ đầu : Mùa Chay là mùa sám hối, nhưng không chỉ có nghĩa là ăn năn mà còn hàm chứa một lời mời gọi đổi mới; không chỉ nhìn về quá khứ  để xót xa nhưng còn là băng mình về tương lai để hi vọng. Được như thế là vì chính Thiên Chúa là Đấng không ngừng mở rộng cánh cửa cho con người đi về phía trước, và không gì có thể ngăn cản hành vi cứu thoát của Người.

Ý nghĩa ấy được làm nổi bật trong Chúa nhật V Mùa Chay hôm nay, khi Thiên Chúa qua Đức Kitô mở ra cho con người một tương lai ở mức độ tận cùng, tương lai của ơn Phục Sinh giải thoát.

Bài đọc I hôm nay với những lời lẽ đầy an ủi, vang vọng bên tai Ezêkiel vừa là lời minh giải, vừa là lời hiện thực hoá những hình tượng mà tác giả đã một lần nhìn thấy trong thị kiến về cánh đồng xương khô. Cả một cánh đồng la liệt những bộ xương khô đét. Hình ảnh ấy đưa ta về với thực tế của một dân tộc đang đắm chìm trong cảnh lưu đày, như thể bị chôn vùi trong nấm mồ sự chết. Tất cả đã úa tàn và khô héo: Khô héo xác thân, khô héo tâm hồn, khô héo niềm vui, khô héo cả đến ước mơ và hi vọng. Ay thế mà với Lời Thiên Chúa, những bộ xương kia đã bắt đầu chuyển động, từ từ xích lại gần nhau. Đã xuất hiện những đường gân nối kết, đã hồng lên cái ấm áp của thịt da. Và khi Thần Khí được ban xuống, cả một cánh đồng xương khô đã biến thành một đạo quân hùng mạnh.

Nếu hình ảnh những bộ xương khô đưa ta về với thực tế bi thương của dân Chúa, thì hình ảnh đạo quân hùng mạnh mở ra cho ta một tương lai bất ngờ và cũng vô cùng tươi sáng : Này Ta sắp mở cửa mồ cho các ngươi. Có bị lưu đày mới hiểu thế nào là quê hương. Có sống trong tăm tối mới biết thế nào là ánh sáng. Có chìm trong thất vọng mới thấm được niềm vui của bình an. Để rồi qua tương lai rực sáng đó, dân nhận ra Người là Đức Chúa, Đức Chúa của sự sống, của ơn cứu sống và là Đức Chúa mãi tín trung.

Thực tại Phục Sinh vĩnh cửu được thoáng mở kia, đã trở thành lời xác quyết ngay trong câu chuyện của Tin Mừng Gioan về việc Lazarô chết chôn trong mồ 4 ngày được sống lại. Nếu người Do Thái thời đó tin rằng khi một người chết, linh hồn còn ở trong thân xác 3 ngày rồi mới ra khỏi thì ở đây, Lazarô đã chôn được 4 ngày, nghĩa là đã chết hoàn toàn rồi. Đó chính là cái cùng, cái tận của sự sống con người. Nhưng chính Lazarô ấy, theo tiếng gọi của Đức Kitô đã bước ra khỏi mồ, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn liệm. Vấn đề ở đây không chỉ là Lazarô đã chết nay sống lại, tiếp tục cuộc sống trần thế như cũ, để rồi sớm muộn sẽ lại chết thêm một lần nữa, nhưng là việc quyền năng Phục Sinh và được kết tụ nơi một con người cụ thể đang hiện diện trước mặt mọi người với lời khẳng định : Ta là sự phục sinh và là sự sống. Đỉnh cao của bài Tin Mừng ở đó. Còn vang vọng bên tai ta lời Chúa hỏi Ezêkiel : Đám xương này có hồi sinh không? Ezêkiel thưa lại: Lạy Đức Chúa Giavê, chỉ một mình Ngài biết. Nghĩa là ơn Phục Sinh nằm trong bàn tay một mình Thiên Chúa Hằng Sống. Và hôm nay có một người réo gọi Lazarô ra khỏi nấm mồ của sự chết và lớn tiếng nói rằng: Ta là phục sinh và là sự sống. Điều đó có nghĩa gì nếu không phải là lời bộc lộ quyền phép của Người. Cũng chính vì thế mà ta mới hiểu tại sao Người lại nói: “Căn bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa”.

Đồng thời qua đó, chúng ta lại còn được mời gọi để tin tưởng rằng: phục sinh và sự sống đang đi tới và gần kề với mỗi người chúng ta. Vậy mà Matta và Maria vẫn giam mình trong bi lụy và than tiếc: Giá Thầy ở đây thì em con không chết. Ngay cả đến bạn bè thân hữu, láng giềng khi thấy Maria ra đi vẫn không thể nghĩ đó là những bước đi chào mừng sự sống, mà chỉ có thể là bước đi của nước mắt bên mộ người thân yêu.

Hoá ra không chỉ có Lazarô bị giam hãm trong nấm mồ sự chết, mà còn có cả chúng ta, là những kẻ vẫn thường xuyên bị giam cầm trong những nấm mồ dưới muôn hình vạn trạng : những nấm mồ của tuyệt vọng, của chán nản, buông xuôi, ích kỷ, dục vọng, an phận, của những mưu mô tối tăm và tội lỗi. Vì thế tất cả chúng ta cần được giải thoát, được cứu sống.

Những ai sẽ cứu ta thoát khỏi thân xác chết cằn và khô héo này? Chỉ có Đức Kitô và trong Thần Khí của Thiên Chúa : Thần Khí tái sinh, Thần Khí thánh hoá. Thần Khí đã đem Đức Kitô từ cõi chết vào cõi sống mới có thể giải thoát chúng ta. Đó là Thần Khí của sự thật, của tự do mà hoa trái của nó là lòng kính sợ Thiên Chúa, chu toàn mọi lề luật, cùng với một tâm hồn quảng đại bao dung, tha thứ, hoà đồng chia sẻ với mọi anh chị em chung quanh.

Một khi được giải thoát, chữa lành, chúng ta còn có nhiệm vụ là đưa ra khỏi mồ những người đang bị giam hãm trong tuyệt vọng, làm xanh lại những tâm hồn héo úa, khô khan, và làm tươi mát những quả tim đã hơn một lần bị rách nát.

Lạy Chúa Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, xin hãy đến và làm cho chúng con những gì Ngài làm cho Lazarô, vì chúng con tin rằng : Ngài chính là sự phục sinh và là sự sống của chúng con. Amen.

  

NGƯỜI NỮ TU ĐAMINH ANATASIE: TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ "KHÔN NGOAN"

 

NGƯỜI NỮ TU ĐA MINH ANATASSIE 

TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ KHÔN NGOAN


 

Ý NGHĨA CỦA TRUYỀN GIÁO

Truyền giáo là đem Tin Mừng yêu thương của Chúa Giê-su đến cho mọi người bằng lời nói và đời sống. Đây là bổn phận và cũng là niềm vui của mỗi Kitô hữu nói chung và là sứ vụ của mỗi một tu sĩ chúng ta nói riêng, đặc biệt đây là sứ mạng của mỗi một chị em chúng ta - những người con của Cha thánh Đaminh và mẹ Anatassie. Và truyền giáo thì cần sự khôn ngoan như Chúa Giê-su dạy: “Hãy khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.”Sự khôn ngoan của tu sĩ Đa Minh không phải là khôn ngoan thế gian, nhưng là:

1.    Khôn ngoan từ Lời Chúa
Cầu nguyện – học hỏi – suy niệm để hiểu Lời Chúa, nhờ đó rao giảng đúng chân lý và phù hợp hoàn cảnh.

2.    Khôn ngoan trong đối thoại
Dòng Đa Minh nổi bật nhờ
đối thoại thánh thiện: lắng nghe, tôn trọng, dùng lý trí và đức ái để giải thích đức tin, không tranh thắng bằng lời nói.

3.    Khôn ngoan trong phân định
Biết chọn thời điểm, phương pháp và cách tiếp cận nhẹ nhàng, giúp người nghe dễ mở lòng đón nhận Tin Mừng.

I.               Nguồn gốc truyền giáo với sự  khôn ngoan — đời sống cầu nguyện và chiêm niệm

Truyền giáo không chỉ là lời rao giảng, nhưng trước hết là một ngọn lửa phát xuất từ trái tim thuộc về Thiên Chúa. Người tông đồ chỉ thực sự khôn ngoan và hiệu quả khi biết đặt nền tảng nơi đời sống cầu nguyện. Như Chúa Giêsu đã dạy:“Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15,5). Chính trong cầu nguyện, người môn đệ gặp gỡ Chúa, lắng nghe Thánh Thần và nhận ra đường lối để đem Tin Mừng đến cho người khác.Người truyền giáo không thể khôn ngoan nếu không để lời Chúa thấm vào tâm hồn mình. Đời sống cầu nguyện không phải là một bổn phận thêm vào cho người truyền giáo, nhưng là nền tảng, là nguồn gốc, là nhựa sống của mọi lời chứng.

Thánh Đa Minh không bao giờ rao giảng nếu trước đó không quỳ gối trước Thánh Giá và Lời Chúa.Ngài cầu nguyện suốt đêm cho những người tội lỗi, những người lạc xa Chúa.Ngài thường nói:“Tôi không thể rao giảng nếu không khóc cho họ trước.”

·        Còn mẹ Anastasiecủa chúng ta thì không chỉ hoạt động bên ngoài, nhưng bắt đầu từ đời sống nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm sâu sắc. Điều đó giúp mẹ có một tâm hồn bình an, nhạy bén trước nhu cầu của tha nhân.

·        Từ sự chiêm niệm, mẹ hiểu rõ sứ mạng — lan toả đức tin và yêu thương — không chỉ bằng lời, mà bằng cả đời sống.

Hiến pháp số 29C: đời sống tin mừng, đời sống tông đồ và đời sống huynh đệ bắt nguồn từ đời sống cầu nguyện.

Nói cách khác: khôn ngoan ở đây bắt nguồn từ “gặp gỡ Thiên Chúa” — rồi từ đó để truyền giáo bằng bác ái và tình thương.

II.            Truyền giáo bằng đời sống bác ái, giáo dục, phục vụ  trước khi bằng lời nói

Như Thánh Đa Minh dạy anh em:

“Anh em hãy nói với Thiên Chúa về con người trước khi nói với con người về Thiên Chúa.”

·        Người Đa Minh không chỉ là “người nói”, nhưng là “người sống chân lý”.

o   Sống nghèo khó, hiền hòa, trung thực.

o   Khiêm tốn và nhiệt thành trong phục vụ.
→ Đời sống là “bài giảng không lời”.

Còn mẹ Anastasie minh họa rằng: đời sống — hơn lời nói — chính là truyền giáo hiệu quả. Một vài nét nổi bật:

·        Mẹ mở trường học, dạy chữ, giáo dục trẻ em, đặc biệt trẻ nghèo — giúp họ được học hành, được biết đến Tin Mừng trong bối cảnh yêu thương và giáo dục.

·        Mẹ săn sóc người bệnh, người nghèo — thăm viếng, chăm sóc, an ủi — thể hiện lòng bác ái Kitô một cách cụ thể, thiết thực.

·        Vì vậy, nhiều người không cần nghe giảng, nhưng nhìn vào đời sống, thấy tình yêu, lòng khiêm nhường, phục vụ — từ đó Tin Mừng được lan truyền cách tự nhiên, kín đáo nhưng mạnh mẽ.

Về bác ái và nâng đỡ nhau (tinh thần cốt lõi cho việc truyền giáo) thì mẹ nói: 

“Điều tôi khuyên chị em trên hết là lòng bác ái, sự hỗ trợ lẫn nhau.
Chị này hãy là cây gậy cho chị kia – gậy của sức mạnh và lời khuyên hữu ích;
chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”
(Nguồn: Cộng đoàn Đa Minh Monteils Việt Nam – bản thuật lại lời Mẹ)

Thế nên:– Truyền giáo phải bắt đầu từ bác ái.
– Khôn ngoan là
biết nâng đỡ, củng cố, chia sẻ chứ không phê phán, làm tổn thương.
– Người truyền giáo trước hết phải “làm gậy và làm muối” – nghĩa là “vững mạnh” và “khôn ngoan”.

Về tinh thần phục vụ và hy sinh mẹ dạy:

(Theo hồ sơ dòng, khi Mẹ nói với các chị em trước khi lập cộng đoàn mới)

“Chúng ta được sai đi để phục vụ, không phải để được phục vụ.”

Như vậy :Truyền giáo không phải “nói cho người khác nghe”, mà trước hết là phục vụ họ trong tình yêu – đó chính là khôn ngoan Tin Mừng.

. Về kiên nhẫn trong sứ vụ thì mẹ khuyên:

(Theo ghi chép đời sống thiêng liêng của Mẹ trong cộng đoàn Pháp)

“Hãy kiên nhẫn: ân sủng cần thời gian để chạm đến tâm hồn.”

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng: khôn ngoan là không hấp tấp, không đòi kết quả ngay; hãy để Chúa làm phần của Ngài.

Nếu muốn truyền giáo khôn ngoan — hãy để đời sống của chúng ta là bài giảng sống động. Hành động yêu thương, phục vụ, chia sẻ… thường nói hiệu quả hơn lời

III. Khôn ngoan trong cách tiếp cận con người: tôn trọng, yêu thương, khiêm nhường

·        Mẹ Anastasie không dùng phương pháp áp đặt; Mẹ sống với sự khiêm nhường, tình thương — đó là cách dễ mở lòng người khác.

·        Bằng việc phục vụ và giáo dục, mẹ tạo dựng lòng tin, sự kính trọng — từ đó Tin Mừng trở nên hấp dẫn hơn, dễ đón nhận hơn.

·        Cách làm của mẹ  cho thấy: truyền giáo không chỉ là giảng đạo, mà là sống đức tin trong yêu thương và phục vụ — đó là khôn ngoan thật sự.

Về sống đơn sơ – khiêm nhường mẹ khuyên:

“Chị em hãy sống đơn sơ và khiêm nhường: đó là con đường mở lòng người khác.”
(Tóm lược từ linh đạo Mẹ – được cộng đoàn ghi lại)

Không có sự khiêm nhường và dịu dàng, việc truyền giáo dễ trở thành áp đặt. Khôn ngoan là biết đi vào lòng người cách nhẹ nhàng

Bài học cho chúng ta hôm nay

·        Khi truyền giáo — hoặc chia sẻ đức tin — nên bắt đầu từ nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm, giữ đức tin sống động.

·        Hãy truyền giáo bằng hành động yêu thương, phục vụ, giáo dục — chứ không chỉ bằng lời nói.

·        Luôn tôn trọng, yêu thương người khác; kiên nhẫn, khiêm nhường, mềm mỏng — để Tin Mừng dễ được đón nhận.

·        Ưu tiên giúp người — đặc biệt những người nghèo, yếu đuối, bị bỏ rơi — như cách Mère Marie-Anastasie sống: vì bác ái là ngôn ngữ dễ hiểu nhất.

IV. TRUYỀN GIÁO BẰNG  SỰ VÂNG PHỤC- BẰNG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN- BẰNG SỰ KHÔNG NGOAN CỦA TÌNH YÊU

Đối với Mẹ, một sứ vụ chỉ sinh hoa trái khi người tông đồ biết để Thiên Chúa hướng dẫn, biết hiệp nhất với chị em, và biết khôn ngoan trong cách chạm đến con người.

Vâng phục – là nền tảng của người tông đồ khôn ngoan

Đối với Mẹ Anastasie, vâng phục không phải là tuân theo một cách thụ động, nhưng là đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa và để Người dẫn đường.

Trong những ghi chép truyền thống của cộng đoàn Monteils, Mẹ thường nhắc:

“Con không thể dẫn ai đến Chúa nếu chính con không bước đi dưới sự hướng dẫn của Người.”

Sự vâng phục làm cho người tông đồ trở nên khôn ngoan, bởi người ấy không hành động tùy hứng, mà để Thánh Thần hướng dẫn từng lời nói và công việc.

Cộng đoàn – nơi rèn luyện sự khôn ngoan truyền giáo

Trong linh đạo của Mẹ Anastasie, cộng đoàn không chỉ là nơi sống chung, mà là nguồn sức mạnh của sứ vụ.

Truyền thống dòng ghi lại lời Mẹ dạy các chị em trẻ:

“Chị này hãy là cây gậy cho chị kia; chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”

Một cộng đoàn hiệp nhất là bài giảng âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất.
Người ngoài nhìn vào sẽ nhận ra Tin Mừng qua cách chị em yêu thương nhau.

Đây chính là con đường khôn ngoan mà Mẹ Anastasie để lại:
 trước khi đi truyền giáo bên ngoài, hãy để cộng đoàn rao giảng cho chính mình;
 trước khi dạy người khác, hãy để vâng phục uốn nắn trái tim mình.

Chỉ khi đó, lời rao giảng mới có sức mạnh.

Xin cho mỗi người chúng ta mang lấy tinh thần ấy để trở nên người Đa Minh của thời đại hôm nay:
hiền lành, khôn ngoan, vâng phục, và biết xây dựng cộng đoàn yêu thương như Mẹ Anastasie đã dạy.

 

Thầy là Ánh Sáng thế gian

 

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

               


“Hãy chỗi dậy hỡi ai ngủ mê...”.

Theo tiếng chuông Chúa gọi mời, chúng ta hãy chỗi dậy để đến cùng Chúa. Tuy nhiên, chúng ta còn phải như anh mù, sẵn sàng để ánh sáng Chúa soi dẫn, chấp nhận một cuộc tẩy rửa tâm can, để nhờ đó, chúng ta sẽ có ánh sáng Chúa soi chiếu và đạt đến niềm vui cứu độ đích thực.

Ai trong chúng ta dù khôn khéo và sắc xảo đến mấy lại không một lần mua phải hàng giả, đồ dỏm. Sự lầm lẫn về đồ vật gây ra thiệt hại một phần, thì sự lầm lẫn về người còn đem đến những hậu quả lớn gấp bội. Trong bài báo công an mới đây, có một người do nhìn lầm mà đã dùng cây đánh chết một người khác. Dĩ nhiên hậu quả đâu chỉ đối với bản thân mình, mà còn đối với nạn nhân và gia đình của người anh em vô tội. Đây chẳng phải là yếu điểm của riêng ai nhưng là của mọi người. Chẳng phải hôm nay, Samuel vị tiên tri của Thiên Chúa được sai đến nhà Giêsê để tìm vị quân vương nối nghiệp vua Saolê, đã xét đoán theo diện mạo, và dáng bên ngoài đó sao? Chính Thiên Chúa đã lên tiếng để cảnh tỉnh Samuel : Người phàm chỉ nhìn thấy ngoài mặt, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng. Câu chuyện Samuel hẳn muốn khẳng định với chúng ta rằng : Cái nhìn của Thiên Chúa khác với cái nhìn của con người và khi ai để cho ánh sáng Chúa soi chiếu, hướng dẫn, họ sẽ làm nên những điều kỳ diệu, lớn lao. Chân lý này không chỉ đúng cho trường hợp Ngài chọn gọi Đavít, nhưng còn đặc biệt là với Đức Kitô Đấng được xức dầu và sai đi thực hiện sứ mạng của Đấng Cứu Thế “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi ... . Dưới cái nhìn của nhân loại, Đức Giêsu chỉ là con của bác thợ mộc Giuse- người thành Nagiarét không hơn không kém. Thế nhưng chính qua Ngài, mà Thiên Chúa đang làm nên những điều kỳ diệu : Phép lạ chữa cho người mù từ lúc mới sinh hôm nay là một bằng chứng. Việc Ngài nhổ nước miếng xuống đất trộn với bùn xức vào mắt anh mù, cùng bảo anh đi rửa tại hồ Silôê xem ra là những việc quá quê mùa, ấu trĩ, và có khi còn phản lại vệ sinh khoa học. Ay vậy mà Tin Mừng lại ghi : Sau khi được rửa, anh ta đã được sạch. Vậy thì điều quan trọng không phải là nên làm hay không  nên làm- mà là có tin hay không tin, có chấp nhận hay không chấp nhận những đề nghị của Chúa. Nói cách khác, là có dám để ánh sáng Chúa chiếu soi, biến đổi, thánh hoá, tác động, dẫn dắt đời mình hay không?

Người mù hôm nay, ý thức nỗi bất hạnh lớn lao của kiếp mù loà. Nên đã sẵn sàng để đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Vì thế, Chúa đâu chỉ giải thoát anh khỏi sự mù loà phần xác, mà còn mở mắt đức tin để anh nhìn ra Chúa là một tiên tri, một Đấng Thánh và là Con của Thiên Chúa. Thái độ sấp mình xuống thờ lạy của anh, thay cho mọi lời anh nói. Vì giờ đây cần gì phải nói nữa khi mà anh thấy được mọi sự.

Điều trở thành niềm hi vọng cho anh mù, lại là cớ vấp phạm, sự bất hạnh cho người Do- thái, biệt phái, vì anh biết mình mù nên anh được sáng- còn người không biết mình mù thì cũng chẳng bao giờ cần được soi sáng. Đây chính là điều khiến cho thánh Phaolô luôn lo âu trăn trở, đặc biệt với các tín hữu của ngài ở Ephêsô. Trong Bài đọc II hôm nay, ngài ân cần nhắc với họ : Xưa kia anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ nhờ biết kết hiệp với Chúa, anh em lại là sự sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cáo sự sáng : mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Đây cũng chính là lời mời gọi dành cho từng người chúng ta trong Mùa Chay Thánh này.

Có đau mới biết thương người bệnh. Là một trong những Tông đồ đã được Chúa yêu thương cứu vớt khỏi chốn tối tăm lầm lạc, nên thánh Phaolô rất mong cho chúng ta cũng được sống trong hạnh phúc của sự sáng như Ngài. Vì thế ngài khuyên nhủ : Hãy chỗi dậy, hỡi những ai ngủ mê vì Đức Kitô đang chiếu giãi ánh sáng của Ngài trên chúng ta. Một cách chân thật khiêm tốn, chúng ta hãy nhận biết sự tăm tối của tâm hồn để trở về cùng Chúa :

Chúa Kitô hôm nay đang tiếp tục sứ mạng cứu thế của Ngài nhờ Thần Khí đã trao ban cho Giáo Hội. Chúng ta có nhìn ra sự tăm tối bởi thiếu học hỏi giáo lý, bởi những hành vi ám muội, gian ác, say sưa, để quay về cùng Chúa và được Chúa yêu thương chữa lành không?

Muốn đẩy lùi bóng tối, cần thắp lên nhiều ngọn đèn sáng, Làm thế nào để có thể phá tan những băng giá của đêm tăm tối nhân loại, nếu mỗi Kitô hữu không cố gắng thắp sáng ngọn nến đức tin qua đời sống lương thiện, ngay thẳng, nhất là qua lối sống vị tha cảm thông, nhịn nhục và bác ái. Ngọn đèn đời kitô còn đủ sáng để khơi lên hi vọng và sức sống cho nhân loại tăm tối hôm nay không?

Làm sao anh mù có thể gặp Chúa, rồi đi đến Chúa Silôê rửa để cuối cùng được sáng, nếu như  đã không có những người quảng đại dẫn đường chỉ lối cho anh ta? Hôm nay có biết bao người mắc bệnh mù loà mà không biết, và cũng không có khả năng đến với Chúa. Chúng ta có nhìn ra nỗi bất hạnh ở nơi những người chung quanh, cùng khu xóm, bạn bè và ngay trong gia đình, để biết dẫn họ đến với Chúa, với Bí tích Giải Tội mà được Chúa yêu thương chữa lành không?

Lạy Chúa Giêsu, qua việc mở mắt cho người mù hôm nay, Chúa không chỉ chứng tỏ quyền năng Thiên Chúa nhưng còn cho chúng con thấy rằng : Chúa chính là Đấng Cứu Thế, là đường, là sự thật và là sự sống. Xin Chúa cho chúng con, biết nhìn ra sự tăm tối, mù loà bất hạnh của tâm hồn, để như thánh Phaolô biết chỗi dậy dứt mình khỏi tội, cùng bước đi theo ánh sáng của Chúa, dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội, để nhờ bước đi theo Chúa là đường, là sự thật, chúng con sẽ đạt đến sự sống bất diệt là chính Chúa. Amen.