Chúa Đã Sống Lại- Alleluia

 

LỄ  PHỤC  SINH


 

“ Cánh Bướm Mùa Xuân”, vũ khúc do các em thiếu nhi thành phố thực hiện trên đài truyền hình cách đây ít lâu, đã gieo vào lòng người xem một sự hấp dẫn và thích thú. Nhìn các em nhẹ nhàng uyển chuyển theo lời bài hát, điệu múa, dễ làm người xem liên tưởng đến những cánh bướm muôn màu sặc sỡ, vẫn luôn có mặt để điểm tô cho mùa xuân của con người thêm tươi vui và ngập tràn sức sống. Phải chăng cũng từ ý nghĩa ấy mà Giáo Hội thường coi bướm như là biểu tượng của mùa Phục Sinh, của sự sống mới.

Ai lại chẳng hiểu rằng cánh bướm xinh đẹp duyên dáng kia là kết quả của chú sâu róm lột xác. Để ý quan sát chúng ta thấy : sâu chỉ biết bò chầm chậm sát đất, còn bướm thì nhởn nhơ trong không gian thơm ngát hương hoa của mùa xuân. Sâu chỉ sống bám dưới gốc cây kẽ lá, còn bướm thì lượn quanh những khóm hoa muôn sắc rực rỡ. Sâu làm người ta sợ và gây thiệt hại cho hoa quả, còn bướm đem lại niềm vui, tô điểm thêm vẻ đẹp của đất trời. Thế nhưng sâu và bướm lại là biến thể của cùng một thực tại. Đó là mầu nhiệm thâm sâu của thiên nhiên, của cuộc sống, của Đức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh.

Thật vậy, cũng như chú sâu róm xấu xí hèn hạ, đã phải chui vào cái tổ kén nhỏ hẹp đen tối của mình để lột xác, trước khi biến dạng thành một nàng bướm nhẹ nhàng kiêu diễm, thì Đức Kitô trước khi bước vào vinh quang Phục Sinh, cũng đã từng trải qua những giờ phút đau thương sỉ nhục và tăm tối nơi mồ đá ba ngày. Cả cuộc đời, Ngài chỉ biết sống phục vụ yêu thương. Thế nhưng những gì Ngài nhận lại, chỉ là những phản bội bất trung, thù ghét và cái chết nhục nhã trên Thập giá. Bài học mà Ngài để lại cho ta qua cuộc tử nạn Phục Sinh, đã giúp ta có thể hiểu mình, hiểu người, hiểu đời hơn. Cảm nhận ra chân giá trị của cuộc sống để học biết kiên nhẫn, cảm thông, thứ tha tự hạ và tự thoát. Phải chăng cái giá của sự sống là phải đi qua cái chết : “Đức Kitô phải trải qua đau khổ mới bước vào vinh quang”.

Chân lý này xem ra quá đơn giản, nhưng để có thể xác tín thì không dễ dàng tí nào. Hai Tông đồ Phêrô và Gioan mà Tin Mừng ghi lại đã theo chân các phụ nữ ra thăm ngôi mộ Chúa. Họ thấy có các dây băng và khăn liệm nhưng lại không có xác Ngài, nên các ông vẫn chưa tin dù từng nghe biết trước: “Theo Kinh Thánh, Ngài phải sống lại từ cõi chết”. Chỉ sau này, khi được Chúa nhiều lần hiện ra và qua Thánh Thần tác động, các ông mới có được niềm xác tín ấy và sẵn sàng làm chứng cho mọi người rằng: Đức Giêsu chính là Đấng mà người ta đã treo trên Thập giá, nhưng ngày thứ ba Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại. Đây không chỉ là nền tảng, là niềm hy vọng, mà còn phải trở thành điểm tựa, sức bật và là một kinh nghiệm sống mầu nhiệm Phục Sinh của mỗi Kitô hữu : “Anh em thân mến, anh em đã chỗi dậy làm một với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa”. Vì vậy, tất cả những gì phải làm lúc này, là hãy cởi mở tâm hồn mình, dấn bước theo ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh :

- Mỗi lần chúng ta khước từ dịp tội, cám dỗ và lôi cuốn của ma quỷ, thế gian, xác thịt, là chúng ta đang tham dự vào quyền năng Phục Sinh, là rũ bỏ kiếp sâu bọ hèn hạ tầm thường mà mặc lấy vẻ đẹp rực rỡ của những cánh bướm trong vườn xuân Thiên Quốc.

- Mỗi lần chúng ta kiên trì cầu nguyện giữa đơn côi bệnh tật, nỗ lực cố gắng sau những cứng cỏi thất bại, luôn tin tưởng tín thác sau những phản bội bất trung, là chúng ta đang làm cho sứ điệp Phục Sinh tái hiện trong chính bản thân mình.

- Mỗi khi chúng ta thắp lên lửa tin yêu, hy vọng giữa bóng đêm của hụt hẫng khổ đau, chấp nhận dấn thân phục vụ ngay trong lừa lọc lợi dụng ; quảng đại để tha thứ dù bị vu khống lên án và đay nghiến, là lúc chúng ta làm cho niềm tin Phục Sinh được rực sáng giữa bầu trời đen tối của nhân loại đau thương.

Giữa bóng đêm âm u của sự chết, Anh Sáng Phục Sinh của Đức Kitô đã tỏ hiện. Bình minh của ngày thứ I, ngày Chúa nhật Phục Sinh không chỉ xua tan đi băng giá của tội lỗi bất hạnh, nhưng còn khơi lên biết bao niềm vui và hy vọng. Sự sống đã xuất hiện trước tiên và trên hết cho những mảnh đời vỡ vụn nơi Maria Mad, nơi các Tông đồ. Từ nơi họ, sứ điệp Phục Sinh đã được loan đi, và vang xa đến tận cùng trái đất. Sứ điệp ấy là: Không gì có thể huỷ diệt chúng ta dù là đau khổ, tội lỗi, chối từ và kể cả sự chết. Sứ điệp Phục Sinh ấy là Đức Kitô đã ngự bên hữu Thiên Chúa, để từ đây mở đường khai lối và dẫn đưa chúng ta về trời.

Như các Tông đồ, như Maria Mad, chúng ta hãy làm cho niềm xác tín của ta vào Chúa thêm mãnh liệt, sâu xa nhờ lắng nghe, suy niệm lời Kinh Thánh, gặp gỡ Ngài nơi Bí Tích Thánh Thể, qua anh chị em nghèo khổ bất hạnh. Với sức mạnh tình yêu Phục Sinh, chúng ta sẽ không chỉ phá đổ mọi bức tường của tội lỗi, san bằng những núi đồi của ích kỷ hận thù, xua tan những băng giá của chán chường thất vọng, cay cực nước mắt. Chắc chắn một khi đã chấp nhận đi vào mầu nhiệm tử nạn giữa những đau khổ hy sinh, quên mình phục vụ, như đi vào trong tổ kén nhỏ hẹp tăm tối, chúng ta sẽ có dịp để hoá thân thành những cánh bướm sặc sỡ, nhởn nhơ trong vườn xuân thên quốc, nơi ngập tràn ánh sáng và tình yêu của Chúa Kitô Phục Sinh. Amen.

 

 

Bổn mạng và lễ giỗ tháng 4




 

Tam Nhật Thánh.

                                             TAM NHẬT THÁNH LÀ GÌ?



Tam Nhật Thánh là cao điểm quan trọng nhất của Năm Phụng Vụ, thường được gọi với các tên như: Tam Nhật Thánh (Holy Triduum), Tam Nhật Vượt Qua (Paschal Triduum), Tam Nhật Phục Sinh (Easter Triduum). Đây là trung tâm điểm của đức tin Kitô giáo: sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô.

Từ “Triduum” có gốc tiếng Latinh nghĩa là “ba ngày”:

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Năm và kết thúc vào chiều tối Thứ Sáu.

Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Sáu và kết thúc vào chiều tối Thứ Bảy.

Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Bảy và kết thúc vào chiều tối Chúa Nhật.

Tam Nhật Thánh bắt đầu từ chiều Thứ Năm Tuần Thánh và kết thúc vào Kinh Chiều (Evening Prayer ) của Chúa Nhật Phục Sinh. Tam Nhật Thánh bao gồm 3 ngày trọn vẹn: bắt đầu và kết thúc vào chiều tối. Như vậy, Tam Nhật Vượt Qua bao gồm: Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday), Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday), Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday), Đêm Vọng Phục Sinh (Great Easter Vigil), đỉnh cao của Tam Nhật Thánh, và Chúa Nhật Phục Sinh (Easter). Nếu tính theo cách của người Việt Nam, thì không phải ba ngày, mà là, bốn ngày: Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy, Chúa Nhật.

Tam Nhật Thánh là một phần của Mùa Chay, nên, Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy Tuần Thánh vẫn được tính vào 40 ngày Mùa Chay truyền thống.

Tam Nhật Thánh tưởng niệm Mầu Nhiệm Thánh Thể (Bí tích của các Bí tích), Mầu Nhiệm Tử Nạn và Mầu Nhiệm Phục Sinh vinh quang của Chúa Giêsu vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Các Mầu Nhiệm quan trọng của Tam Nhật Thánh, cùng với Mầu Nhiệm Thăng Thiên làm nên Mầu Nhiệm Vượt Qua (Paschal Mystery).

Lễ Truyền Dầu trước Tam Nhật Thánh: Sở dĩ được gọi là Lễ Truyền Dầu, bởi vì, trong Thánh Lễ này, Đức Giám Mục sẽ thánh hiến dầu SC (Sacrum Chrisma), để dùng vào việc thánh hiến, và làm phép dầu OS (Oleum Sanctum) hay OC (Oleum Catechumenorum), để dùng cho dự tòng, và dầu OI (Oleum Infirmorum), để dùng cho bệnh nhân. Dầu được làm phép: OI - Dầu Ông I đi kẻ liệt; OS hoặc OC - Dầu Ông Sáu, Dầu Ông Cha thoa dự tòng. Dầu được thánh hiến: SC - Dầu Siêu Chuẩn thuần thánh hiến: được dùng để thánh hiến nhà thờ, bàn thờ, và được dùng trong các bí tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh.

 Lễ Truyền Dầu còn có mục đích tưởng niệm việc Đức Giêsu lập Bí Tích Truyền Chức Thánh, tấn phong một số người được tuyển chọn lên làm Linh Mục, ban cho các ngài quyền hành động nhân danh Đức Kitô để làm những việc, mà đúng ra, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể làm, như tái diễn hy lễ của Đức Kitô trên Thánh Giá, tha tội cho con người... Lễ Truyền Dầu liên quan trước tiên đến các Linh Mục, vì thế, vào một ngày thích hợp trước Tam Nhật Thánh, các Linh Mục Giáo Phận quy tụ về xung quanh Vị Chủ Chăn Giáo Phận để cử hành Thánh Lễ Truyền Dầu, trong đó, các ngài sẽ lặp lại lời thề với Đấng Bản Quyền: hứa trung thành với Sứ Vụ Linh Mục đã được trao phó cho mình.

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Phục Sinh Vĩnh Cửu

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY ( Năm A )


 
 Mối bận tâm của chúng ta trong Mùa Chay, không chỉ là tìm về với Thiên Chúa bằng cách dứt mình ra khỏi tội, mà còn được mời gọi để sống cuộc sống mới, cuộc sống của những người được Chúa Giêsu giải thoát và được Thần Khí Chúa tác sinh.

Tin Mừng các Chúa nhật Mùa Chay bao giờ cũng khởi đầu bằng cơn cám dỗ của Đức Kitô trong địa. Ngay sau đó là cuộc biến hình tràn ngập ánh quang vinh hiển, để kẻ tin định hướng ngay từ đầu : Mùa Chay là mùa sám hối, nhưng không chỉ có nghĩa là ăn năn mà còn hàm chứa một lời mời gọi đổi mới; không chỉ nhìn về quá khứ  để xót xa nhưng còn là băng mình về tương lai để hi vọng. Được như thế là vì chính Thiên Chúa là Đấng không ngừng mở rộng cánh cửa cho con người đi về phía trước, và không gì có thể ngăn cản hành vi cứu thoát của Người.

Ý nghĩa ấy được làm nổi bật trong Chúa nhật V Mùa Chay hôm nay, khi Thiên Chúa qua Đức Kitô mở ra cho con người một tương lai ở mức độ tận cùng, tương lai của ơn Phục Sinh giải thoát.

Bài đọc I hôm nay với những lời lẽ đầy an ủi, vang vọng bên tai Ezêkiel vừa là lời minh giải, vừa là lời hiện thực hoá những hình tượng mà tác giả đã một lần nhìn thấy trong thị kiến về cánh đồng xương khô. Cả một cánh đồng la liệt những bộ xương khô đét. Hình ảnh ấy đưa ta về với thực tế của một dân tộc đang đắm chìm trong cảnh lưu đày, như thể bị chôn vùi trong nấm mồ sự chết. Tất cả đã úa tàn và khô héo: Khô héo xác thân, khô héo tâm hồn, khô héo niềm vui, khô héo cả đến ước mơ và hi vọng. Ay thế mà với Lời Thiên Chúa, những bộ xương kia đã bắt đầu chuyển động, từ từ xích lại gần nhau. Đã xuất hiện những đường gân nối kết, đã hồng lên cái ấm áp của thịt da. Và khi Thần Khí được ban xuống, cả một cánh đồng xương khô đã biến thành một đạo quân hùng mạnh.

Nếu hình ảnh những bộ xương khô đưa ta về với thực tế bi thương của dân Chúa, thì hình ảnh đạo quân hùng mạnh mở ra cho ta một tương lai bất ngờ và cũng vô cùng tươi sáng : Này Ta sắp mở cửa mồ cho các ngươi. Có bị lưu đày mới hiểu thế nào là quê hương. Có sống trong tăm tối mới biết thế nào là ánh sáng. Có chìm trong thất vọng mới thấm được niềm vui của bình an. Để rồi qua tương lai rực sáng đó, dân nhận ra Người là Đức Chúa, Đức Chúa của sự sống, của ơn cứu sống và là Đức Chúa mãi tín trung.

Thực tại Phục Sinh vĩnh cửu được thoáng mở kia, đã trở thành lời xác quyết ngay trong câu chuyện của Tin Mừng Gioan về việc Lazarô chết chôn trong mồ 4 ngày được sống lại. Nếu người Do Thái thời đó tin rằng khi một người chết, linh hồn còn ở trong thân xác 3 ngày rồi mới ra khỏi thì ở đây, Lazarô đã chôn được 4 ngày, nghĩa là đã chết hoàn toàn rồi. Đó chính là cái cùng, cái tận của sự sống con người. Nhưng chính Lazarô ấy, theo tiếng gọi của Đức Kitô đã bước ra khỏi mồ, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn liệm. Vấn đề ở đây không chỉ là Lazarô đã chết nay sống lại, tiếp tục cuộc sống trần thế như cũ, để rồi sớm muộn sẽ lại chết thêm một lần nữa, nhưng là việc quyền năng Phục Sinh và được kết tụ nơi một con người cụ thể đang hiện diện trước mặt mọi người với lời khẳng định : Ta là sự phục sinh và là sự sống. Đỉnh cao của bài Tin Mừng ở đó. Còn vang vọng bên tai ta lời Chúa hỏi Ezêkiel : Đám xương này có hồi sinh không? Ezêkiel thưa lại: Lạy Đức Chúa Giavê, chỉ một mình Ngài biết. Nghĩa là ơn Phục Sinh nằm trong bàn tay một mình Thiên Chúa Hằng Sống. Và hôm nay có một người réo gọi Lazarô ra khỏi nấm mồ của sự chết và lớn tiếng nói rằng: Ta là phục sinh và là sự sống. Điều đó có nghĩa gì nếu không phải là lời bộc lộ quyền phép của Người. Cũng chính vì thế mà ta mới hiểu tại sao Người lại nói: “Căn bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa”.

Đồng thời qua đó, chúng ta lại còn được mời gọi để tin tưởng rằng: phục sinh và sự sống đang đi tới và gần kề với mỗi người chúng ta. Vậy mà Matta và Maria vẫn giam mình trong bi lụy và than tiếc: Giá Thầy ở đây thì em con không chết. Ngay cả đến bạn bè thân hữu, láng giềng khi thấy Maria ra đi vẫn không thể nghĩ đó là những bước đi chào mừng sự sống, mà chỉ có thể là bước đi của nước mắt bên mộ người thân yêu.

Hoá ra không chỉ có Lazarô bị giam hãm trong nấm mồ sự chết, mà còn có cả chúng ta, là những kẻ vẫn thường xuyên bị giam cầm trong những nấm mồ dưới muôn hình vạn trạng : những nấm mồ của tuyệt vọng, của chán nản, buông xuôi, ích kỷ, dục vọng, an phận, của những mưu mô tối tăm và tội lỗi. Vì thế tất cả chúng ta cần được giải thoát, được cứu sống.

Những ai sẽ cứu ta thoát khỏi thân xác chết cằn và khô héo này? Chỉ có Đức Kitô và trong Thần Khí của Thiên Chúa : Thần Khí tái sinh, Thần Khí thánh hoá. Thần Khí đã đem Đức Kitô từ cõi chết vào cõi sống mới có thể giải thoát chúng ta. Đó là Thần Khí của sự thật, của tự do mà hoa trái của nó là lòng kính sợ Thiên Chúa, chu toàn mọi lề luật, cùng với một tâm hồn quảng đại bao dung, tha thứ, hoà đồng chia sẻ với mọi anh chị em chung quanh.

Một khi được giải thoát, chữa lành, chúng ta còn có nhiệm vụ là đưa ra khỏi mồ những người đang bị giam hãm trong tuyệt vọng, làm xanh lại những tâm hồn héo úa, khô khan, và làm tươi mát những quả tim đã hơn một lần bị rách nát.

Lạy Chúa Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, xin hãy đến và làm cho chúng con những gì Ngài làm cho Lazarô, vì chúng con tin rằng : Ngài chính là sự phục sinh và là sự sống của chúng con. Amen.

  

NGƯỜI NỮ TU ĐAMINH ANATASIE: TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ "KHÔN NGOAN"

 

NGƯỜI NỮ TU ĐA MINH ANATASSIE 

TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ KHÔN NGOAN


 

Ý NGHĨA CỦA TRUYỀN GIÁO

Truyền giáo là đem Tin Mừng yêu thương của Chúa Giê-su đến cho mọi người bằng lời nói và đời sống. Đây là bổn phận và cũng là niềm vui của mỗi Kitô hữu nói chung và là sứ vụ của mỗi một tu sĩ chúng ta nói riêng, đặc biệt đây là sứ mạng của mỗi một chị em chúng ta - những người con của Cha thánh Đaminh và mẹ Anatassie. Và truyền giáo thì cần sự khôn ngoan như Chúa Giê-su dạy: “Hãy khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.”Sự khôn ngoan của tu sĩ Đa Minh không phải là khôn ngoan thế gian, nhưng là:

1.    Khôn ngoan từ Lời Chúa
Cầu nguyện – học hỏi – suy niệm để hiểu Lời Chúa, nhờ đó rao giảng đúng chân lý và phù hợp hoàn cảnh.

2.    Khôn ngoan trong đối thoại
Dòng Đa Minh nổi bật nhờ
đối thoại thánh thiện: lắng nghe, tôn trọng, dùng lý trí và đức ái để giải thích đức tin, không tranh thắng bằng lời nói.

3.    Khôn ngoan trong phân định
Biết chọn thời điểm, phương pháp và cách tiếp cận nhẹ nhàng, giúp người nghe dễ mở lòng đón nhận Tin Mừng.

I.               Nguồn gốc truyền giáo với sự  khôn ngoan — đời sống cầu nguyện và chiêm niệm

Truyền giáo không chỉ là lời rao giảng, nhưng trước hết là một ngọn lửa phát xuất từ trái tim thuộc về Thiên Chúa. Người tông đồ chỉ thực sự khôn ngoan và hiệu quả khi biết đặt nền tảng nơi đời sống cầu nguyện. Như Chúa Giêsu đã dạy:“Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15,5). Chính trong cầu nguyện, người môn đệ gặp gỡ Chúa, lắng nghe Thánh Thần và nhận ra đường lối để đem Tin Mừng đến cho người khác.Người truyền giáo không thể khôn ngoan nếu không để lời Chúa thấm vào tâm hồn mình. Đời sống cầu nguyện không phải là một bổn phận thêm vào cho người truyền giáo, nhưng là nền tảng, là nguồn gốc, là nhựa sống của mọi lời chứng.

Thánh Đa Minh không bao giờ rao giảng nếu trước đó không quỳ gối trước Thánh Giá và Lời Chúa.Ngài cầu nguyện suốt đêm cho những người tội lỗi, những người lạc xa Chúa.Ngài thường nói:“Tôi không thể rao giảng nếu không khóc cho họ trước.”

·        Còn mẹ Anastasiecủa chúng ta thì không chỉ hoạt động bên ngoài, nhưng bắt đầu từ đời sống nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm sâu sắc. Điều đó giúp mẹ có một tâm hồn bình an, nhạy bén trước nhu cầu của tha nhân.

·        Từ sự chiêm niệm, mẹ hiểu rõ sứ mạng — lan toả đức tin và yêu thương — không chỉ bằng lời, mà bằng cả đời sống.

Hiến pháp số 29C: đời sống tin mừng, đời sống tông đồ và đời sống huynh đệ bắt nguồn từ đời sống cầu nguyện.

Nói cách khác: khôn ngoan ở đây bắt nguồn từ “gặp gỡ Thiên Chúa” — rồi từ đó để truyền giáo bằng bác ái và tình thương.

II.            Truyền giáo bằng đời sống bác ái, giáo dục, phục vụ  trước khi bằng lời nói

Như Thánh Đa Minh dạy anh em:

“Anh em hãy nói với Thiên Chúa về con người trước khi nói với con người về Thiên Chúa.”

·        Người Đa Minh không chỉ là “người nói”, nhưng là “người sống chân lý”.

o   Sống nghèo khó, hiền hòa, trung thực.

o   Khiêm tốn và nhiệt thành trong phục vụ.
→ Đời sống là “bài giảng không lời”.

Còn mẹ Anastasie minh họa rằng: đời sống — hơn lời nói — chính là truyền giáo hiệu quả. Một vài nét nổi bật:

·        Mẹ mở trường học, dạy chữ, giáo dục trẻ em, đặc biệt trẻ nghèo — giúp họ được học hành, được biết đến Tin Mừng trong bối cảnh yêu thương và giáo dục.

·        Mẹ săn sóc người bệnh, người nghèo — thăm viếng, chăm sóc, an ủi — thể hiện lòng bác ái Kitô một cách cụ thể, thiết thực.

·        Vì vậy, nhiều người không cần nghe giảng, nhưng nhìn vào đời sống, thấy tình yêu, lòng khiêm nhường, phục vụ — từ đó Tin Mừng được lan truyền cách tự nhiên, kín đáo nhưng mạnh mẽ.

Về bác ái và nâng đỡ nhau (tinh thần cốt lõi cho việc truyền giáo) thì mẹ nói: 

“Điều tôi khuyên chị em trên hết là lòng bác ái, sự hỗ trợ lẫn nhau.
Chị này hãy là cây gậy cho chị kia – gậy của sức mạnh và lời khuyên hữu ích;
chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”
(Nguồn: Cộng đoàn Đa Minh Monteils Việt Nam – bản thuật lại lời Mẹ)

Thế nên:– Truyền giáo phải bắt đầu từ bác ái.
– Khôn ngoan là
biết nâng đỡ, củng cố, chia sẻ chứ không phê phán, làm tổn thương.
– Người truyền giáo trước hết phải “làm gậy và làm muối” – nghĩa là “vững mạnh” và “khôn ngoan”.

Về tinh thần phục vụ và hy sinh mẹ dạy:

(Theo hồ sơ dòng, khi Mẹ nói với các chị em trước khi lập cộng đoàn mới)

“Chúng ta được sai đi để phục vụ, không phải để được phục vụ.”

Như vậy :Truyền giáo không phải “nói cho người khác nghe”, mà trước hết là phục vụ họ trong tình yêu – đó chính là khôn ngoan Tin Mừng.

. Về kiên nhẫn trong sứ vụ thì mẹ khuyên:

(Theo ghi chép đời sống thiêng liêng của Mẹ trong cộng đoàn Pháp)

“Hãy kiên nhẫn: ân sủng cần thời gian để chạm đến tâm hồn.”

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng: khôn ngoan là không hấp tấp, không đòi kết quả ngay; hãy để Chúa làm phần của Ngài.

Nếu muốn truyền giáo khôn ngoan — hãy để đời sống của chúng ta là bài giảng sống động. Hành động yêu thương, phục vụ, chia sẻ… thường nói hiệu quả hơn lời

III. Khôn ngoan trong cách tiếp cận con người: tôn trọng, yêu thương, khiêm nhường

·        Mẹ Anastasie không dùng phương pháp áp đặt; Mẹ sống với sự khiêm nhường, tình thương — đó là cách dễ mở lòng người khác.

·        Bằng việc phục vụ và giáo dục, mẹ tạo dựng lòng tin, sự kính trọng — từ đó Tin Mừng trở nên hấp dẫn hơn, dễ đón nhận hơn.

·        Cách làm của mẹ  cho thấy: truyền giáo không chỉ là giảng đạo, mà là sống đức tin trong yêu thương và phục vụ — đó là khôn ngoan thật sự.

Về sống đơn sơ – khiêm nhường mẹ khuyên:

“Chị em hãy sống đơn sơ và khiêm nhường: đó là con đường mở lòng người khác.”
(Tóm lược từ linh đạo Mẹ – được cộng đoàn ghi lại)

Không có sự khiêm nhường và dịu dàng, việc truyền giáo dễ trở thành áp đặt. Khôn ngoan là biết đi vào lòng người cách nhẹ nhàng

Bài học cho chúng ta hôm nay

·        Khi truyền giáo — hoặc chia sẻ đức tin — nên bắt đầu từ nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm, giữ đức tin sống động.

·        Hãy truyền giáo bằng hành động yêu thương, phục vụ, giáo dục — chứ không chỉ bằng lời nói.

·        Luôn tôn trọng, yêu thương người khác; kiên nhẫn, khiêm nhường, mềm mỏng — để Tin Mừng dễ được đón nhận.

·        Ưu tiên giúp người — đặc biệt những người nghèo, yếu đuối, bị bỏ rơi — như cách Mère Marie-Anastasie sống: vì bác ái là ngôn ngữ dễ hiểu nhất.

IV. TRUYỀN GIÁO BẰNG  SỰ VÂNG PHỤC- BẰNG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN- BẰNG SỰ KHÔNG NGOAN CỦA TÌNH YÊU

Đối với Mẹ, một sứ vụ chỉ sinh hoa trái khi người tông đồ biết để Thiên Chúa hướng dẫn, biết hiệp nhất với chị em, và biết khôn ngoan trong cách chạm đến con người.

Vâng phục – là nền tảng của người tông đồ khôn ngoan

Đối với Mẹ Anastasie, vâng phục không phải là tuân theo một cách thụ động, nhưng là đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa và để Người dẫn đường.

Trong những ghi chép truyền thống của cộng đoàn Monteils, Mẹ thường nhắc:

“Con không thể dẫn ai đến Chúa nếu chính con không bước đi dưới sự hướng dẫn của Người.”

Sự vâng phục làm cho người tông đồ trở nên khôn ngoan, bởi người ấy không hành động tùy hứng, mà để Thánh Thần hướng dẫn từng lời nói và công việc.

Cộng đoàn – nơi rèn luyện sự khôn ngoan truyền giáo

Trong linh đạo của Mẹ Anastasie, cộng đoàn không chỉ là nơi sống chung, mà là nguồn sức mạnh của sứ vụ.

Truyền thống dòng ghi lại lời Mẹ dạy các chị em trẻ:

“Chị này hãy là cây gậy cho chị kia; chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”

Một cộng đoàn hiệp nhất là bài giảng âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất.
Người ngoài nhìn vào sẽ nhận ra Tin Mừng qua cách chị em yêu thương nhau.

Đây chính là con đường khôn ngoan mà Mẹ Anastasie để lại:
 trước khi đi truyền giáo bên ngoài, hãy để cộng đoàn rao giảng cho chính mình;
 trước khi dạy người khác, hãy để vâng phục uốn nắn trái tim mình.

Chỉ khi đó, lời rao giảng mới có sức mạnh.

Xin cho mỗi người chúng ta mang lấy tinh thần ấy để trở nên người Đa Minh của thời đại hôm nay:
hiền lành, khôn ngoan, vâng phục, và biết xây dựng cộng đoàn yêu thương như Mẹ Anastasie đã dạy.