NHỮNG CÁCH THẾ CẦU NGUYỆN
CỦA MẸ MARIE-ANASTASE
Mẹ
Marie-Anastasie là một tâm hồn cầu nguyện đích thực. Đối với Mẹ, cầu nguyện
không chỉ là một việc đạo đức, nhưng là một thực hành liên lỉ trong đời sống.
Chính trong cầu nguyện, Mẹ đã tìm được lòng can đảm, sự đơn sơ và niềm vui để
sáng lập Hội Dòng, cũng như để nâng đỡ các chị em và những người Mẹ cộng tác.
Theo những ghi chép trong cuốn Le Miracle de Bor của Cha Lajeunie,
chúng ta thử phác họa những cách thế cầu nguyện khác nhau của Mẹ.
1) Mẹ cầu nguyện
trong phòng với cả tấm lòng
Mẹ
yêu thích cầu nguyện và biết cách cầu nguyện. Mẹ thường kéo dài giờ cầu nguyện trong đêm và thức dậy sớm hơn vào
buổi sáng để nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa. Đó là niềm say mê và niềm vui
của Mẹ.
Những
cách thế này lại làm phiền cô em Joséphine, người ngủ chung gối với Mẹ và than phiền vì bị đánh thức. Có
lẽ sự khó chịu ấy còn pha lẫn nỗi buồn vì phải là người nhỏ nhất, phải nhường nhịn, ít đạo
đức hơn và ít được khen ngợi hơn, nên muốn giành
lại phần hơn, muốn được làm chủ.
Anastasie
hiểu được điều ấy. Để có thể cầu nguyện sớm hơn hoặc muộn hơn mỗi ngày trong
bình an, Mẹ xin phép người em vốn có tính cương quyết. Ta có thể hình dung rằng
sự khiêm tốn nhẫn nhịn ấy đã đem lại kết quả như mong muốn.
2) Mẹ cầu nguyện trong thinh
lặng và bằng ánh nhìn
Trong
tám điểm đầy những quyết tâm nghiêm túc, Mẹ đã
tóm lược các nguyên tắc và quy luật chi phối đời sống nội tâm cũng như
hành vi bên ngoài của mình.
Mẹ đặt nền tảng thứ tư là thinh lặng, hồi tâm và cầu nguyện
trong hành động, dâng kính Thánh Phanxicô Salêsiô: “Con sẽ tôn kính sự thinh lặng của Đấng Cứu Thế trong lòng Đức Mẹ, bằng
việc tuân giữ cách
chính xác nhất có thể luật
thánh về thinh lặng.”
Mẹ quyết tâm không
bao giờ nói nếu không có nhu cầu thực sự khẩn thiết.
Hơn
cả sự thinh lặng bên ngoài, Mẹ quý trọng sự thinh lặng của cõi lòng — một trái
tim luôn khao khát kết hiệp với Đấng Cứu Thế. Trong tinh thần, Mẹ đến thăm
Người và ở lại bên Người trong “nhà tù tự nguyện” nơi Người tự giam mình; Mẹ gìn giữ
với Người những cuộc trò chuyện ngọt ngào nhất.
Mẹ
giữ gìn lời nói, tự buộc mình sống thinh lặng chặt chẽ hơn trước. Khi muốn nói
mà không có lý do chính đáng, Mẹ hứa sẽ nhớ đến Đấng Cứu Thế thinh lặng, Đấng đã đền bù cả những lời nói vô ích và đã
chấp nhận thinh lặng trong tinh thần đền tội.
Ngoài hành lang, cây nến đã tắt, giữa bức tường và chiếc giường, quỳ
gối trên nền đất, Mẹ tìm được “sa mạc” của mình: một mình với Thiên Chúa. Ở đó,
trái tim Mẹ “tan chảy trong tình yêu và lòng biết ơn”; ý chí Mẹ được thúc đẩy bởi lòng khao khát
noi
gương đức ái của Chúa Giêsu đối với nhân loại và chia sẻ những đau khổ của họ
như Người.
Ở đó, cuộc
sống khắc khổ của Mẹ trở thành một bữa tiệc thiêng
liêng. Trong tình thân ái nồng nàn ấy, Mẹ đã nhận được
nhiều ánh sáng nội tâm. Về sau Mẹ kể lại rằng các giờ phút trôi qua như những
phút giây ngắn ngủi, vì Mẹ hạnh phúc được chuyện trò với Thiên Chúa. Thường khi
nửa đêm, người ta thấy Mẹ còn quỳ gối. Đúng vậy, trong “sa mạc” Tizac, Anastasie thật hạnh phúc.
3) Mẹ cầu nguyện cách khôn ngoan trước khi hành động
Đó là nguyên tắc đầu tiên trong đời sống của Mẹ: Cầu nguyện trước, hành động sau.
Biết
bao lần lời khuyên ấy xuất hiện trong những ghi chép của Mẹ — bởi đó chính là
điều Mẹ sống.
Trong những lúc khó khăn, Mẹ viết: “Phải làm gì? Hãy cầu nguyện trước đã, hãy cầu nguyện trước đã.
Tôi phải như Môsê trên núi, hai
tay luôn giơ cao lên trời để cầu xin sức mạnh và lòng can đảm cho
tất cả những ai đang chiến đấu trong các trận chiến của Chúa.”
Mẹ
xác tín rằng trước hết mình phải là người con của cầu nguyện. Không chạy đến
cùng Thiên Chúa, không thể thành công trong việc hướng dẫn các linh hồn và điều
hành một cộng đoàn.
Mẹ
tin rằng một Bề trên phải thưa với Thiên Chúa tất cả những gì mình biết, xin
Người chỉ dạy những điều mình
không biết, và cuối cùng trình bày với Người mọi sự.
Chỉ sau khi đã hỏi ý Chúa, sau khi đã tự hỏi mình sẽ muốn nói hoặc làm gì nếu
phải chết ngay lúc ấy, Mẹ mới nói và hành động.
Biết
bao lần, theo lời Mẹ Thánh Phaolô, chúng tôi đã thấy Mẹ suy xét và cầu nguyện
suốt nhiều tuần, nhiều tháng trước khi đưa ra một lời khuyên, một mệnh lệnh,
một công việc — để tránh gây tổn thương cho bất cứ ai. Mẹ hết sức thận trọng
trong mọi quyết định; nhưng khi đã nói, thì phải thi hành; Mẹ không chiều theo
những thất thường hay ước muốn do bản tính tự nhiên thúc đẩy.
Tháng 9 năm 1870, Mẹ viết: “Đừng sợ các biến cố. Càng nghiêm trọng và đe dọa bao nhiêu, chúng ta càng phải gia tăng lời cầu nguyện và lòng tín
thác bấy nhiêu. Có thể sẽ đến lúc rất
sợ hãi, thậm chí kinh hoàng, và có lẽ rất gần; nhưng chính khi ấy, hãy cầu
nguyện nhiều hơn và tin rằng chúng ta đang gần chiến thắng. Thiên Chúa sẽ ở
cùng chúng ta. Những cuộc chiến tranh, những cuộc cách mạng, tất cả chỉ để dạy
chúng ta rằng mọi sự dưới thế này
đều hư vô. Chỉ nơi Thiên Chúa mới có những thực tại chân
thật và bền vững; vì thế, hãy giữ lòng mình hướng thượng.”
4) Mẹ lần chuỗi Mân Côi
Ngay
từ thuở thiếu thời, Mẹ đã có lòng sùng kính Đức Maria. Gia đình Conduché —
những người đã đặt ít là ba người con gái của mình dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ —
luôn duy trì việc tôn sùng Kinh Mân Côi trong gia đình.
Trong
sổ ghi danh của hội này, ta thấy tên Guillaume Conduché, anh của Joseph, vào
năm 1842; tên Auguste Conduché năm 1844; tên Anastasie được ghi vào năm 1845 và
em gái Joséphine (với tên Marie Arthières) năm 1848. Những chi tiết ấy thật ý
nghĩa: Hội Dòng Bor không phải tình cờ được đặt dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ Mân Côi.
Thật
vậy, dưới chân Thập Giá, Mẹ đã gặp Đức Trinh Nữ. Hơn cả việc đọc tiểu sử Thánh
Louis Gonzague, việc noi gương Đức Mẹ đã làm Mẹ say mê. Đức Maria đã trở nên mẫu gương của Mẹ trong mọi sự.
Chúng ta có thể nghĩ rằng chính
để bắt chước Mẹ Maria mà Anastasie
đã làm biết bao điều vượt
quá bổn phận buộc phải làm. Trong thinh lặng, khi se sợi chỉ, Mẹ kết hiệp với
Mẹ Maria, suy niệm các nhân đức của Người, rồi đem ra thực hành trong đời sống mình.
5) Mẹ cầu nguyện
với lương tâm ngay thẳng trong Bí tích Hòa Giải
“Tôi sẽ xét mình ban đêm.” — Mẹ kết luận:
“Lương tâm tôi sẽ trách tôi điều gì
về việc thực hành này? Và nếu tôi không trung thành, liệu tôi có sẵn sàng thực hiện vài việc hãm mình để đền bù những
bất trung ấy không?”
Khi ngày sống kết thúc, Mẹ đến gặp cha Arthières và nói:
“Thưa cậu, có người đang chờ ở nhà thờ.”
Ngài đáp: “Được.”
Rồi
vị linh mục rời bỏ công việc đang làm để
vào tòa giải tội; Mẹ đi trước, ngài theo sau.
Từ
năm tám tuổi, Mẹ đã xưng tội nhiều lần, dù chưa được ban phép giải tội — một
thực hành theo thói quen thời đó, nhất là nơi những người chịu ảnh hưởng của khuynh hướng khắc khổ Jansenisme, vốn muốn
trì hoãn việc Rước lễ lần đầu.
Thế
nhưng, cô bé đã xưng tội với tất cả sự rõ ràng, lòng thống hối chân thành và
quyết tâm dứt khoát. Cha phó Guillaumon, cha giải tội của Mẹ, kinh ngạc trước
ánh sáng nội tâm nơi cô bé này. Sau cùng, ngài quyết định vượt qua thói quen
ấy, dù có phần áy náy. Khuôn mặt rạng ngời của Anastasie hẳn đã đền đáp cho sự
can đảm của ngài.
Vì vào giờ phút ấy, “một điều phi thường” đã xảy ra trong
linh hồn em. Sau này Mẹ kể lại: “Một ánh
sáng đã bừng lên!”
Từ
đó, suốt đời Mẹ sống trong “một niềm vui và sự mãn nguyện đặc biệt.” Dưới ơn
tha thứ ấy, Mẹ cảm nhận mình là bạn hữu của Thiên Chúa, không vướng chút bóng
tối nào: được tha thứ, được thanh tẩy và hoàn toàn tự do.
6) Mẹ cầu nguyện trước Thánh Thể: quỳ gối, hôn đất, phủ phục
Trung
tâm đời sống cầu nguyện của Mẹ chính là Nhà Tạm. Khi nói về Bí tích Thánh Thể
(chúng tôi đã ghi lại từng lời), trái tim Mẹ như mở rộng trong niềm vui. Hạnh
phúc của Mẹ là được ở lại cầu nguyện trước Thầy mình.
Mỗi khi có thời giờ, Mẹ ở đó hàng giờ liền trong tâm tình khiêm cung
sâu xa. Chính Mẹ đảm nhận việc đóng cửa nhà nguyện vào ban đêm. Khi cộng đoàn
đã yên giấc, Mẹ đến trình bày với Đấng Cứu Thế từng nhu cầu của mỗi người con
thiêng liêng của mình. Rồi hôn đất,
Mẹ phủ phục một lúc trong thờ lạy.
Sáng hôm sau, dù đã thức khuya cầu nguyện, Mẹ luôn có mặt đầu
tiên trong ca đoàn. Trong cuộc đối thoại thân tình với Đức Kitô, khi đọc kinh
Lạy Cha, Mẹ cầu nguyện như sau: “Lạy Cha,
xin cho ý Cha được thực hiện nơi mọi người, nơi các chị em con và nơi gia đình
họ; xin cho ý Cha được hoàn tất nơi con cách trọn vẹn và không giữ lại điều gì,
mãi mãi.”
Mẹ từng tâm sự: “Nếu Thiên Chúa hỏi tôi điều gì tôi nghĩ mình đã thực hiện xứng
đáng, tôi sẽ thưa: đó là thi hành thánh ý
Ngài.”
Chính
vì thánh ý ấy, được diễn tả qua các Bề trên, Mẹ đã hy sinh ước muốn sâu xa nhất
của mình — ước muốn sống đời chiêm niệm.
Khi gặp thử thách đau đớn, Mẹ chỉ thốt lên: “Thiên Chúa muốn thế! Fiat voluntas
Dei.”
Không phải vì Mẹ vô cảm. Có khi người ta nghe Mẹ thở dài: “Ôi! Có những lúc thật buồn trong cuộc đời!”
Nhưng ngay lập tức Mẹ tự an ủi: “Ôi! Tôi hạnh phúc biết bao vì Thiên Chúa của tôi là Thiên Chúa của
tôi!”
Việc thực thi thánh ý Chúa vì tình yêu tinh tuyền là nguyên
tắc đầu tiên trong đời sống và việc lãnh đạo của Mẹ. Như Mẹ Têrêsa đã viết: “Suốt đời, đó là một hành vi liên lỉ kết hợp
hoàn hảo với thánh ý Thiên Chúa.”
Chúng
tôi xác tín cách sâu xa rằng Mẹ Thánh Anastasie là người nữ của cầu nguyện. Có
những sự kiện giống như trong đời các thánh đã in sâu xác tín ấy vào tâm trí
chúng tôi.
Một buổi tối, Sœur Sainte-Catherine trông coi các học sinh
nội trú đang giờ học. Chị nói: “Các con
ngoan nhé! Chị đi làm một việc rồi sẽ trở lại trước khi vào phòng chung.”
Khi
đi ngang nhà nguyện để viếng Chúa, chị ngạc nhiên thấy Mẹ Anastasie quỳ trên
bậc thềm bàn thờ, đang thờ lạy Thánh Thể. Sau vài phút chầu, chị đi sang phòng
chung, nghĩ rằng sẽ gặp Mẹ ở đó — nhưng chính Mẹ lại đang đợi chị!
Hiện tượng song hiện diện (bilocation) vốn quen thuộc trong đời các
thánh. Nhưng điều gây chú ý ở đây là hình ảnh người mẹ bất động dưới chân Chúa, trong khi tưởng như Mẹ đang hoạt động
nơi khác. Dù là một sự kiện chủ quan, nhưng đó là một hình ảnh biểu tượng đầy ý
nghĩa.
7)
Mẹ cầu nguyện bằng cách lắng nghe
Lời Chúa và tham dự Thánh Lễ cách tích cực
Trong
việc Rước lễ, Anastasie tìm thấy sức mạnh của sự vâng phục vì tình yêu tinh
tuyền. Mẹ rước lễ thường xuyên trong giới hạn luật lệ và phong tục thời ấy cho
phép. Tuy nhiên, vì muốn hòa mình với các chị em và vì sợ lạm dụng ân huệ này,
Mẹ tự giới hạn mình; người ta phải thuyết phục Mẹ rằng vì yếu đuối và gánh nặng
hơn người khác, Mẹ càng cần chạy đến nguồn sức mạnh nơi Đấng Cứu Thế.
Dù phải vượt thắng những nỗi buồn riêng, Mẹ không bao giờ bỏ qua một
lần Rước lễ hợp lệ. Và sự thường xuyên ấy không hề dẫn Mẹ đến sự nguội lạnh.
Sau
khi Rước lễ, theo lời các chị em, nơi gương mặt Mẹ phản chiếu “một điều gì đặc
biệt hiền lành” và như phản ánh “sự dịu hiền của Đức Kitô.”
“Không có Chúa Giêsu, con người chẳng là gì.” — Mẹ nói.
“Đấng Cứu Thế thần linh phải
là sức mạnh và điểm tựa của chúng ta. Người là cây gậy nâng đỡ chúng ta; với
Người, ta có thể vượt hố sâu, lội qua sông suối, trèo lên núi cao — nhưng ta
phải luôn ở gần Người.”
Mẹ
cổ võ các con thiêng liêng của mình yêu mến Thánh Thể, siêng năng cầu nguyện,
chầu Thánh Thể, rước lễ thiêng liêng, tham dự Thánh Lễ và rước lễ bí tích. Mẹ
quan sát với sự tế nhị nhưng cẩn trọng, để chúng tôi không bao giờ bỏ qua việc
rước lễ theo luật nếu không có lý do
chính đáng; và dưới sự hướng dẫn của cha giải tội, Mẹ khích lệ chúng tôi tham
dự Thánh Lễ và rước lễ thường xuyên nhất có thể.
Mẹ chia ngày sống thành hai phần: trước Thánh Lễ và sau Thánh Lễ. Ngay
từ hôm trước, Mẹ chuẩn bị cho Thánh Lễ ngày mai bằng những hy sinh nhỏ bé liên
lỉ, để kết hiệp với Chúa.
Mẹ nói: “Đối với Chúa,
lời cầu nguyện khô khan còn quý hơn lời cầu nguyện được an ủi; vì khi ấy bản tính được hiến tế, lòng tự ái bị tiêu diệt,
Satan bị đánh bại và Thầy chí thánh được hài lòng.”
Trong tâm tình tạ ơn,
Mẹ dâng lên Chúa những lo âu, bận
tâm, phân tâm, và cả những
quên sót vô ý đối với Ngài. Đó là Thánh Lễ của
mọi giờ phút. Và Mẹ muốn chúng tôi
cũng cử hành Thánh Lễ ấy theo gương Mẹ.
8) Mẹ cầu nguyện bằng cách đọc và suy niệm hạnh các thánh
Trong
giờ suy niệm, có một từ làm Mẹ say mê: cầu
nguyện. Mẹ tin rằng cầu nguyện thật kỳ diệu biết bao!
Cuộc
đời Thánh Louis Gonzague — vị thánh Mẹ yêu mến và ngưỡng mộ — hẳn đã khơi lên
trong Mẹ ước muốn ấy. Đó là vị thánh Mẹ muốn noi gương, muốn cầu nguyện như
ngài. Mẹ nghĩ điều ấy thật khó.
Nhưng
một ngày kia, khi dọn dẹp
thư viện của người cậu,
Mẹ tìm thấy một cuốn sách chỉ nói về đề tài cầu nguyện. Thật
ngạc nhiên!
“Không khó để suy niệm đâu. Trước đây con đã làm quá vấn đề lên, tưởng như là cả
một ngọn núi. Ôi, rồi con sẽ làm được nhiều lắm.”
Những
suy nghĩ hồn nhiên được lưu lại trong tiểu sử của Mẹ khiến chúng ta nghĩ rằng Anastasie đã cầu nguyện từ lâu mà
không biết, giống như ông Jourdain làm văn xuôi mà không hay biết.
Références
Le miracle de Bor. Monteils
: Monteils, 1956.
LAJEUNIE, Etienne- Marie.
SR. CHARLIMENE PHILIPPE, OP




