Suy niem Chua Nhat 16 Thuong nien B

 

MỘT CÕI RIÊNG TƯ

 


Tin Mừng Chúa nhật hôm nay tiếp nối trang Tin Mừng tuần trước.  Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi truyền giáo.  Sau chuyến đi, các học trò trở về.  Anh em vui mừng kể cho Thầy nghe kết quả những việc đã làm.  Chúa chia sẻ niềm vui với các môn sinh và khuyên nhủ: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút. Một lời khuyên rất thiết thực, một sự quan tâm thật ân cần, ấm áp tình thầy trò.

 

Chúa Giêsu rất thương các môn đệ.  Làm việc nhiều nên cần phải nghỉ ngơi lấy lại sức lực để tiếp tục làm việc.  Nghỉ ngơi ở đây không phải là chè chén say sưa, hưởng thụ thỏa thích, hay lười biếng “nhàn cư vi bất thiện,” nhưng đó chính là thời giờ bồi dưỡng tâm hồn, là dịp tĩnh tâm của các Tông đồ.  Trong thinh lặng, mỗi người cầu nguyện, trau dồi nội tâm.

 

1.    Thinh lặng là một cõi riêng tư

 

Một bầu khí yên tĩnh, một thời gian trầm lắng là một cõi riêng tư thật cần thiết cho con người.  Thân xác nghỉ ngơi, tinh thần thư giãn, trí óc sáng suốt, tâm hồn bình an.

 

Giữa những ồn ào của đám đông

giữa những sôi nổi của thành công

và ê chề của thất bại

xin dành một cõi rất riêng cho Giêsu.

Giữa những đam mê quay cuồng

giữa những khát khao thèm muốn

và những trói buộc của sợ hãi, âu lo,

xin giữ một cõi rất riêng cho Giêsu

Giữa lúc bị cuộc đời từ khước

giữa lúc bơ vơ đi trong đêm mênh mông,

chẳng có ai để cậy dựa,

xin trở về với cõi riêng bên Giêsu,

để một mình ở đó

trầm lắng và bình an.

 

Lm Nhạc sĩ Thái Nguyên suy tư những lời thơ sâu lắng ấy và đã dệt ca khúc: “Một cõi riêng tư:” Một cõi riêng tư, trong lòng con xin dành cho Chúa.  Một cõi riêng tư, trong lòng con Chúa thương ngự trị.  Chúa là điểm hẹn nơi con phát xuất ra đi dấn thân, cho cuộc đời nhân trần.  Chúa là đỉnh cao nơi con trở lại, để sống trong ân tình, niềm vui phút an bình.

 

Một cõi riêng tư với Chúa, chan chứa một niềm vui sâu lắng trong nội tâm, niềm vui gặp gỡ Chúa.

 

2.    Chúa Giêsu, mẫu gương thinh lặng

 

Thinh lặng là điểm nổi bật nhất trong cuộc đời Chúa Giêsu.  Chúa sống thinh lặng, yêu thích thinh lặng, dạy thinh lặng, và dùng sự thinh lặng như một phương thế hữu hiệu để hoạt động tông đồ.  Chúa khuyên các môn sinh hãy sống theo gương của Người.  Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu với khởi đầu là cầu nguyện và kết thúc trong tĩnh lặng riêng tư với Cha.  Sáng sớm tinh mơ, Người dành thời gian đẹp nhất một ngày mới để cầu nguyện cùng Chúa Cha.  Sau đó bận rộn với biết bao công việc: rao giảng và chữa lành thể xác tâm hồn cho con người.  Chúa Giêsu thích sự cô tịch và tránh xa đám đông.  Người chọn những nơi hiện diện: “Một ngọn núi cao riêng biệt” (Mc 9,2); những bờ dốc thẳng bao quanh hồ phía đồi Gôlăng (Mc 5,1); những bãi biển Phênixi xứ Xyria hay xứ Libăng (Mc 7,24-31); đôi bờ của con thác miền núi gần nguồn sông Giođan dưới chân núi Hécmon (Mc 8,27)…

 

Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu tạo nên khuôn mẫu cho tất cả các môn sinh trong cuộc sống thường ngày.

 

Các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, hoạt động cứu độ con người.  Các môn đệ trở về, Chúa khuyên nên nghỉ ngơi trong cầu nguyện.  Làm việc và cầu nguyện, sống “nội tâm” và hoạt động “bên ngoài,” đó là nhịp sống mỗi ngày của người môn đệ Chúa Giêsu.

 

3.    Thinh lặng để sống nội tâm

 

Thinh lặng thuộc về yếu tính của thánh thiện.  Trong thinh lặng và lòng cậy trông, sức mạnh của các Thánh được hình thành (Is 30,15).  Ðời sống tâm linh phải được nuôi dưỡng bồi bổ để phát triển.  Thiên Chúa chính là nguồn mạch đời sống thiêng liêng.  Những giờ phút riêng tư thân mật bên Chúa sẽ giúp cho đời sống tâm linh phát triển.  Nhờ cầu nguyện, con người mới phát triển quân bình.

 

Là Lời của Thiên Chúa ngỏ với con người, Chúa Giêsu nói bằng thinh lặng nhiều hơn bằng những lời rao giảng của Ngài.  Thinh lặng cũng là luật sống của Mẹ Maria.  Triết gia Jean Guitton gọi Mẹ Maria là “Trinh nữ suy tư.”  Người trinh nữ ấy “ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).  Mẹ không vội vã phản ứng và phát biểu nhưng “ghi nhớ” và “suy đi nghĩ lại trong lòng.”  Trong thinh lặng, Mẹ khám phá ý nghĩa các sự kiện và biến cố.  Trong thinh lặng, Mẹ đi vào cuộc giao tiếp thâm sâu với Lời Thiên Chúa và để Lời ấy nên hình hài trong lòng Mẹ.  Nếu Tin Mừng ghi lại một vài câu nói của Mẹ Maria thì Thánh Cả Giuse không có một lời nào, hoàn toàn thinh lặng.  Ngay giữa lúc được Thiên Thần hiện đến trong giấc mộng để báo tin về Mẹ Maria cưu mang Ngôi Hai Thiên Chúa, Thánh Giuse cũng không nói một lời nào, và nhất là Ngài âm thầm ra đi khỏi cuộc đời lúc nào cũng không ai hay biết.

 

Thinh lặng là miền đất phì nhiêu cho hạt lúa đơm bông.  Thinh lặng là cung lòng người mẹ cho tư tưởng mang lấy hình hài.  Thinh lặng nội tâm để cầu nguyện, đó chính là những tâm tình kết hợp với Thiên Chúa trong đời sống nội tâm, “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1Sm 16, 7b).  Những giây phút yên lặng bên Chúa giúp ta định hướng cuộc đời.  Ánh sáng Lời Chúa giúp ta nhìn rõ tâm hồn mình, biết rõ những sai sót của mình mà sửa đổi.  Những lời chỉ dạy của Chúa là những chuẩn mực đạo đức giúp ta sống ngay thẳng, thật thà, lương thiện.  Ơn Chúa ban sẽ cho ta sức mạnh để hoạt động tích cực hữu hiệu hơn, để hăng hái dấn thân hơn nữa trên đường phục vụ anh em.

 

Các xã hội văn minh, các đô thị luôn chạy theo nhịp sống hối hả của kỹ thuật hiện đại.  Con người thời nay dễ bị căng thẳng.  Do đó, người ta thường tìm đến với Yoga,Thiền, với các phương pháp dưỡng sinh để tìm sự quân bình, tìm yên tĩnh, muốn trầm lắng nội tâm.

 

Vào mùa hè, người ta thường tạm nghĩ công việc, rời nếp sống đô thị náo nhiệt tìm đến nghỉ ngơi nơi vùng quê, miền biển, miền núi.  Nô đùa cùng sóng biển cát vàng, hít thở khí trời dịu mát của cao nguyên lộng gió hay hoà vào khung cảnh thanh bình êm ả của đồng quê bát ngát lúa chín vàng…  Bầu khí yên tĩnh, thời gian trầm lắng là điều rất cần thiết cho con người.  Thân xác nghỉ ngơi, tinh thần thư giãn, trí óc sáng suốt.  Từ đó, nhìn lại cuộc sống mình, kiểm điểm, rút ưu khuyết, định hướng cho cuộc sống sắp tới.

 

4.    Thinh lặng cầu nguyện

 

Trong lãnh vực tông đồ, thinh lặng cầu nguyện thật cần thiết.  Làm việc tông đồ là làm việc của Chúa.  Cầu nguyện để biết rõ ý Chúa, biết việc phải làm.  Cầu nguyện để múc lấy sức mạnh của Chúa giúp chu toàn công việc.  Cầu nguyện để biết khiêm nhường luôn coi mình là dụng cụ trong bàn tay Chúa.  Chỉ khi làm việc trong Chúa, với Chúa và vì Chúa, việc tông đồ mới có kết quả tốt đẹp theo ý Chúa muốn.

 

Làm việc phải là kết quả của những giờ suy nghĩ và cầu nguyện.  Điều kiện tiên quyết để thành công chính là sự thinh lặng.  Từ thinh lặng ta mới có thể nuôi dưỡng những suy tư của mình một cách lâu dài được.  Bầu khí thinh lặng giúp ta hồi tâm xét mình thực thi sám hối cách đúng mức.  Bầu khí thinh lặng còn giúp cho người khác sống tinh thần cầu nguyện.

 

Người Kitô hữu yêu quý những giây phút thinh lặng trong tâm hồn, yên tĩnh ngọt ngào bên Chúa.  Người Kitô hữu tìm thấy sự thinh lặng thánh ấy trong nhà thờ, trong những giây phút cầu nguyện và ngay trong tâm hồn mình. “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 61,2).  Thinh lặng, cầu nguyện chiêm niệm, hồi tâm luôn mang lại sức sống thiêng liêng cho mỗi người.

 

Sứ điệp Ngày Truyền Thông Quốc Tế năm 2012, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI chọn chủ đề “Thinh Lặng và Lời: Con Đường Phúc Âm Hóa.  Sứ điệp viết: Nếu Thiên Chúa nói với chúng ta ngay trong thinh lặng, chúng ta sẽ khám phá trong thinh lặng khả năng để nói với Chúa về Chúa…  Trong sự chiêm niệm thinh lặng, Lời Hằng Sống, qua Đấng cấu tạo thế giới, trở nên hiện diện mạnh mẽ hơn và chúng ta ý thức nhiều hơn về kế hoạch cứu chuộc Chúa đang thực hiện trong lịch sử chúng ta bằng lời nói và việc làm…  Lời nói và thinh lặng: học cách truyền thông là học cách lắng nghe và chiêm niệm cũng như học nói.

 

Mẹ Têrêxa Calcutta thích thinh thặng và đã dâng lời cầu nguyện tha thiết.

 

Lạy Thiên Chúa, Đấng ưa thích sự thinh lặng, xin dạy chúng con thinh lặng để ở một mình với Ngài, trò chuyện, lắng nghe và thấm nhuần Lời Hằng Sống.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi con mắt, biết nhắm lại trước những vấp váp của tha nhân, biết quay đi trước những dịp tội gây xao xuyến.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi đôi tai, để nghe được tiếng kêu của người nghèo đói, để khép lại trước những mời mọc của ma quỷ.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi miệng lưỡi, để biết ca tụng Chúa và đem lại an vui cho muôn người, tránh cho mọi lời nói gây đau đớn đổ vỡ.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi trí khôn, để mở ra trước sự thật và khép lại trước dối trá.

Cuối cùng xin dạy chúng con thinh lặng nơi quả tim, để tránh xa mọi ích kỷ, thù hằn, ghen ghét, để yêu mến và ước ao Thiên Chúa trên hết mọi sự.  Amen!

 

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Lắng Nghe Tiếng Chúa Khi Gặp Khó Khăn

 

LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA KHI GẶP KHÓ KHĂN


 

Ngắm Bức Tranh Lớn

 

Sẵn lòng lắng nghe Thiên Chúa và chú ý vào Người trong cầu nguyện có nghĩa là chúng ta cảm nghiệm hơn sự bình an và niềm vui, không chỉ trong khi chúng ta đang cầu nguyện, nhưng đặc biệt khi những lời cầu nguyện của chúng ta liên kết cách sâu sắc hơn với phần còn lại của cuộc sống chúng ta.

 

Việc xét mình cách thường xuyên giúp chúng ta ngày càng nhận thức hơn về nhu cầu thống hối tội lỗi của mình – những tội lỗi mà chúng ta thậm chí có thể không chú ý trước khi chúng ta ngước nhìn lên Chúa Giêsu Kitô như mẫu gương và mục đích của chúng ta – và hoa trái của việc thực hành này cũng sẽ mang lại bình an và niềm vui cho chúng ta.

 

Tuy nhiên, việc gia tăng sự bình an và niềm vui và thậm chí, chúng ta dám nói điều đó, sự thánh thiện không có nghĩa là chúng ta sống trên mây, không phải chịu ảnh hưởng bởi sự đau đớn, thất bại và thất vọng.  Chúng ta cần tỉnh táo để nghe Thiên Chúa nói, không chỉ trong những sự cao cả của sự bình an tôn giáo và sự thành công bên ngoài, nhưng còn trong cả những cuộc chiến đấu và các vấn đề của cuộc sống.

 

Câu chuyện về Giuse (x. St 37,39-50), một trong những tường thuật dài nhất trong Cựu ước, cho thấy cách Thiên Chúa đã dùng con người này để cứu toàn thể gia đình của ông – tuy điều này xảy ra chỉ qua một chuỗi những biến cố đau khổ.  Trước hết, Giuse rõ ràng được Thiên Chúa và cha cậu là Giacóp yêu thương, ưu ái.  Những quần áo đặc biệt từ cha cậu cùng với những giấc mơ đặc biệt từ Thiên Chúa, những giấc mơ cho biết rằng Giuse một ngày kia sẽ cai trị trên các anh cậu.  Thay vì chấp nhận những giấc mơ này như ý của Thiên Chúa, các anh lại bán Giuse làm nô lệ, một bước nhỏ trong kế hoạch ban đầu để giết ông.  Là một nô lệ ở Ai Cập, Giuse hoàn toàn tiến xa trong gia đình của Potipha – dường như rất tốt.  Vợ của Potipha cố dụ dỗ Giuse nhưng thất bại vì ông là người quá nhân đức, không nỡ phạm tội chống lại chủ mình.  Nhân đức này đã được báo đáp bởi những lời cáo buộc hiếp dâm của người đàn bà này, sau đó Giusu bị bỏ tù.  Trong khi ở tù, Giuse đã giải thích cách chính xác những giấc mơ của hai viên chức hoàng gia, người nướng bánh chính và hầu rượu của Pharaô.  Một thời điểm đáng kể sau đó, người hầu rượu của hoàng gia đã giới thiệu Giuse với Pharaô, vua bị phiền toái ghê gớm bởi hai giấc mơ của chính mình.  Lời giải thích của Giuse về bảy năm mùa màng bội thu được theo sau bởi bảy năm đói kém nghiêm trọng đã xảy ra đúng như thế, do vậy ông được chỉ định làm Đại Tể Tướng Ai Cập, vị trí thứ hai chỉ sau Pharaô.  Trong suốt bảy năm đói kém, các anh của Giuse đến với ông để tìm kiếm lương thực, họ cúi lạy ông như trong những giấc mơ thời thơ ấu của ông.  Họ không nhận ra ông, nhưng cuối cùng ông đã tiết lộ chính mình, được hòa giải và gặp lại cha mình, là Giacóp.

 

Không có gì trong những điều này đã xảy ra nếu các anh em Giuse không bán ông làm nô lệ.  Sẽ không có việc Giuse lên nắm quyền nếu ông đã không bị cáo buộc cách sai trái về tội hiếp dâm và bị bỏ tù cùng với các viên chức hoàng gia.  Nếu không bị bỏ tù, Giuse sẽ không ở vào vị trí phân phát lương thực trong bảy năm đói kém và cứu chính gia đình ông cũng như những người Ai Cập.  Giuse cuối cùng đã nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa, như ông công bố với các anh em của mình trong Sách Sáng Thế chương 45,5-8.

 

“Nhưng bây giờ, các anh đừng buồn phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây: chính là để duy trì sự sống mà Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em.  Thật vậy, đây là năm thứ hai có nạn đói trong xứ, và sẽ còn năm năm nữa không cày không gặt.  Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em, để giữ cho anh em một số người sống sót trong xứ, và để cứu sống anh em, nhằm thực hiện cuộc giải thoát vĩ đại.  Vậy không phải các anh đã gửi tôi đến đây, nhưng là Thiên Chúa.  Người đã đặt tôi làm cha của Pharaô, làm chúa tất cả triều đình, và làm tể tướng trên khắp cõi Aicập” (St 45,5-8).

 

Một Kế Hoạch Lớn Hơn

Thật tốt khi chúng ta đọc toàn bộ câu chuyện trong Sách Sáng Thế bởi vì nó được viết rất hay.  Các bản văn thực sự chỉ ra những chi tiết quan trọng và tuyệt vời mà bản tóm tắt của chúng tôi nhất thiết bỏ qua.  Mỗi chúng ta có thể lắng nghe câu chuyện của Giuse và học cách nhận ra Thiên Chúa đang hành động qua những hoàn cảnh khó khăn và những giai đoạn trong cuộc sống của chúng ta, hãy biết rằng một kế hoạch lớn hơn nhiều có thể đang mở ra – lớn hơn chúng ta có thể tưởng tượng ngay giây phút này.

 

Cầu nguyện trong những hoàn cảnh khó khăn không phải lúc nào cũng cất đi sự đau đớn hay giải quyết tình huống.  Chẳng hạn, cầu nguyện không có nghĩa là bạn hoặc những người thân yêu của bạn sẽ không bao giờ mắc bệnh.

 

Tôi chưa bao giờ thấy ích lợi khi hỏi “Tại sao là tôi? Tại sao điều này đã xảy ra với tôi?”  Nó đặc biệt vô ích khi câu hỏi là một cách khoa trương để nói với Chúa: “Ngài không bao giờ nên để cho con phải đau khổ.  Lạy Chúa, có chuyện gì xảy ra với Ngài vậy?”  Nếu tôi hỏi tại sao một vấn đề xảy ra cho tôi, thật tốt hơn để hỏi điều đó trong cách cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì trong tình huống này?  Sứ mạng Chúa dành cho con bây giờ là gì?  Có người nào đó, có lẽ là một bác sĩ, một y tá hoặc một bệnh nhân, người mà Chúa muốn con nói chuyện với?  Phải chăng Chúa muốn dùng hoàn cảnh này để giúp con giới thiệu ai đó khác cho Chúa?  Ý của Chúa trong tình huống này là gì?”

 

Đối với những người cầu nguyện, dường như là một thất bại của đức tin khi họ trải nghiệm sự đau đớn, những vấn đề và sự đau khổ trong cuộc sống, bởi vì họ mong đợi Thiên Chúa ngăn cản những vấn đề như thế cho những người mà Người yêu thương.  Tuy nhiên, Chúa cho phép những điều như thế xảy ra cho những kẻ Người yêu thương, từ Người Con của mình là Đức Giêsu Kitô đến kẻ tội lỗi nhất trong chúng ta.  Nhưng khi chúng ta nhận ra những điều tốt đẹp đã được thực hiện trong những tình huống khó khăn này, chúng ta sẽ tốt hơn để lắng nghe Thiên Chúa khi ở giữa những hoàn cảnh ấy.

 

Đây là bài viết đã được trích ra từ cuốn sách có tên là Làm Cách Nào để Lắng Nghe khi Thiên Chúa Nói, tác giả là Cha Mitch Pacwa (The Word Among Us Press, 2011), có thể truy cập tại www.wau.org/books.

 

Mitch Pacwa - chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Nguồn: WAU

Suy niệm Chúa nhật 15 Thường niên B

ĐƯỢC SAI ĐI



 Mỗi khi tham dự Phụng vụ Thánh Thể, vào lúc kết thúc Thánh lễ, vị linh mục chủ tế nói với cộng đoàn: “Lễ xong chúc anh chị em đi bình an!”  Nhiều người hiểu lầm coi đây là lời chào tạm biệt của vị linh mục.  Đây không phải là lời chào, mà là lệnh truyền lên đường, còn gọi là lời sai đi.  Khi tham dự Thánh lễ, chúng ta đón nhận Lời Chúa và rước Thánh Thể.  Vào lúc Phụng vụ Thánh lễ kết thúc, cũng là lúc một Thánh lễ khác khởi đầu, đó là Thánh-lễ-cuộc-đời.  Giữa Phụng vụ Thánh lễ và Thánh-lễ-cuộc-đời có một mối liên hệ mật thiết.  Một linh mục thánh thiện đã nói: “Trong Thánh lễ buổi sáng, tôi là tư tế và Chúa Giê-su là của lễ.  Còn trong thời gian trọn một ngày, chính tôi là của lễ và Chúa Giê-su là Tư tế.”  Như thế, lời tuyên bố cuối lễ là lời nhắn nhủ các tín hữu với nội dung đại ý như sau: chúng ta vừa kết thúc Phụng vụ Thánh lễ.  Chúng ta vừa được nuôi dưỡng bằng Lời Hằng Sống và Thánh Thể.  Giờ đây chúng ta hãy khởi đầu một nghi lễ khác.  Anh chị em hãy lên đường, để chia sẻ những gì mình cảm nghiệm khi lắng nghe Lời Chúa và khi rước Thánh Thể trong Thánh lễ này.  Lời tuyên bố của vị linh mục, chính là lời sai đi, nhân danh Chúa Giê-su và nhân danh Giáo Hội.

  

Chúa nhật tuần trước chúng ta đã suy tư về cuộc đời và sứ vụ của các ngôn sứ trong Cựu ước.  Các ngài là những người được Chúa chọn và sai đi.  Khi thi hành sứ vụ, các ngài luôn xác tín mình chỉ là phương tiện Chúa dùng.  Ông A-mốt, người sống ở miền Bắc, vào thế kỷ thứ tám trước Công nguyên, đã giải thích ơn gọi của mình.  Ông thú nhận, ông không thuộc gia đình hay dòng dõi ngôn sứ, mà ông chỉ là người chăn chiên và người hái sung.  Đang lúc đi sau đàn chiên, chính Đức Chúa đã “bắt” lấy ông và sai ông đi.  Nhờ xác tín được Chúa sai đi, nên ông A-mốt kiên vững trước lời chế nhạo và đe dọa của một số tư tế thời bấy giờ.  Ông không chùn bước trước những nghịch cảnh, nhưng luôn trung thành với sứ mạng được trao.

 

Chúa Giê-su là Đấng Thiên sai, hay còn gọi là Đấng Mê-si-a.  Người luôn khẳng định: Người được Chúa Cha sai đến trần gian.  Người luôn trung thành với Chúa Cha.  Suốt cuộc đời dương thế, Người chỉ làm những gì đẹp lòng Chúa Cha.  Trong giây phút bi thương hoảng loạn ở vườn Cây Dầu, Chúa Giê-su đã thưa với Chúa Cha: “Xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha.”

 

Khi thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng, Chúa Giê-su đã gọi một số người theo Chúa.  Trong số đó có nhóm Mười Hai, được Người gọi họ là “tông đồ – απόστολος – Apostolos,” có nghĩa là “người được sai phái,” hay “sứ giả” (x. Lc 6,12-19).  Người sai các ông đi “hai người một.”  Điều này cho thấy tính tập thể và liên đới của sứ mạng tông đồ.  Thánh Mác-cô hôm nay nói với chúng ta những lời dặn dò của Chúa Giê-su, khi Người sai các tông đồ lên đường.  Người dạy các ông không gắn bó lệ thuộc vào bất cứ điều gì.  Người thợ đáng được hưởng lương.  Người tông đồ có quyền nhận những gì được biếu tặng để lo cho cuộc sống và giúp thi hành sứ mạng, nhưng họ phải hoàn toàn tự do, không bị ràng buộc vào vật chất.  Chúa Giê-su cũng mời gọi các ông sống nghèo, như bản thân Người đã sống nghèo.  Người đã có một cuộc sống không nhà không cửa, không có nơi dựa đầu.  Kinh nghiệm cho thấy, một khi người tông đồ bị lệ thuộc vật chất, hoặc xao lãng việc tông đồ để tích lũy của cái và làm kinh tế, họ sẽ thất bại.  Bởi lẽ, người tông đồ đã có Chúa là gia nghiệp cuộc đời.

 

Thánh Phao-lô trong Bài đọc II mời gọi chúng ta chiêm ngắm Đức Giê-su chiến thắng và hiển trị.  Nội dung Bài đọc II vốn là một thánh thi được dùng trong Phụng vụ thời Giáo Hội sơ khai.  Tác giả khởi đi từ biến cố thập giá, để nói đến ơn cứu độ Thiên Chúa thực hiện trong Đức Giê-su, và vương quyền Chúa Cha ban cho Chúa Con.  Nhờ vương quyền này, Chúa Giê-su là Đấng thống trị mọi loài, không phải bằng uy quyền độc tài trần thế, nhưng bằng ân sủng và tình yêu.  Mỗi tín hữu Ki-tô và cả Giáo Hội được thấm nhuần ân sủng của Chúa Giê-su.  Trọn vẹn cuộc sống của người tín hữu được kết hợp mật thiết với Chúa, nhờ lắng nghe và thực thi Lời của Người.

 

Nhờ Bí tích Thanh tẩy, Ki-tô hữu được trao ban chức năng ngôn sứ.  Sách Giáo lý Công giáo số 905 đã nêu rõ như sau: “Các giáo dân chu toàn sứ vụ ngôn sứ của mình bằng việc Phúc âm hóa, nghĩa là loan báo Đức Ki-tô bằng chứng từ đời sống và bằng lời nói.  Nơi các tín hữu giáo dân, việc Phúc âm hóa này mang một sắc thái đặc thù và một hiệu quả đặc biệt, vì được thực hiện trong những hoàn cảnh bình thường của đời sống.”

 Mỗi chúng ta đều được Chúa Giê-su sai đi.  Lời tuyên bố kết lễ hằng ngày là lời sai đi nhân danh Chúa Giê-su và nhân danh Giáo Hội.  Xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta ơn khôn ngoan, sức mạnh và can đảm để thực thi nhiệm vụ ngôn sứ trong đời sống hằng ngày, Amen.

 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên