NGƯỜI NỮ TU ĐAMINH ANATASIE: TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ "KHÔN NGOAN"

 

NGƯỜI NỮ TU ĐA MINH ANATASSIE 

TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ KHÔN NGOAN


 

Ý NGHĨA CỦA TRUYỀN GIÁO

Truyền giáo là đem Tin Mừng yêu thương của Chúa Giê-su đến cho mọi người bằng lời nói và đời sống. Đây là bổn phận và cũng là niềm vui của mỗi Kitô hữu nói chung và là sứ vụ của mỗi một tu sĩ chúng ta nói riêng, đặc biệt đây là sứ mạng của mỗi một chị em chúng ta - những người con của Cha thánh Đaminh và mẹ Anatassie. Và truyền giáo thì cần sự khôn ngoan như Chúa Giê-su dạy: “Hãy khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.”Sự khôn ngoan của tu sĩ Đa Minh không phải là khôn ngoan thế gian, nhưng là:

1.    Khôn ngoan từ Lời Chúa
Cầu nguyện – học hỏi – suy niệm để hiểu Lời Chúa, nhờ đó rao giảng đúng chân lý và phù hợp hoàn cảnh.

2.    Khôn ngoan trong đối thoại
Dòng Đa Minh nổi bật nhờ
đối thoại thánh thiện: lắng nghe, tôn trọng, dùng lý trí và đức ái để giải thích đức tin, không tranh thắng bằng lời nói.

3.    Khôn ngoan trong phân định
Biết chọn thời điểm, phương pháp và cách tiếp cận nhẹ nhàng, giúp người nghe dễ mở lòng đón nhận Tin Mừng.

I.               Nguồn gốc truyền giáo với sự  khôn ngoan — đời sống cầu nguyện và chiêm niệm

Truyền giáo không chỉ là lời rao giảng, nhưng trước hết là một ngọn lửa phát xuất từ trái tim thuộc về Thiên Chúa. Người tông đồ chỉ thực sự khôn ngoan và hiệu quả khi biết đặt nền tảng nơi đời sống cầu nguyện. Như Chúa Giêsu đã dạy:“Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15,5). Chính trong cầu nguyện, người môn đệ gặp gỡ Chúa, lắng nghe Thánh Thần và nhận ra đường lối để đem Tin Mừng đến cho người khác.Người truyền giáo không thể khôn ngoan nếu không để lời Chúa thấm vào tâm hồn mình. Đời sống cầu nguyện không phải là một bổn phận thêm vào cho người truyền giáo, nhưng là nền tảng, là nguồn gốc, là nhựa sống của mọi lời chứng.

Thánh Đa Minh không bao giờ rao giảng nếu trước đó không quỳ gối trước Thánh Giá và Lời Chúa.Ngài cầu nguyện suốt đêm cho những người tội lỗi, những người lạc xa Chúa.Ngài thường nói:“Tôi không thể rao giảng nếu không khóc cho họ trước.”

·        Còn mẹ Anastasiecủa chúng ta thì không chỉ hoạt động bên ngoài, nhưng bắt đầu từ đời sống nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm sâu sắc. Điều đó giúp mẹ có một tâm hồn bình an, nhạy bén trước nhu cầu của tha nhân.

·        Từ sự chiêm niệm, mẹ hiểu rõ sứ mạng — lan toả đức tin và yêu thương — không chỉ bằng lời, mà bằng cả đời sống.

Hiến pháp số 29C: đời sống tin mừng, đời sống tông đồ và đời sống huynh đệ bắt nguồn từ đời sống cầu nguyện.

Nói cách khác: khôn ngoan ở đây bắt nguồn từ “gặp gỡ Thiên Chúa” — rồi từ đó để truyền giáo bằng bác ái và tình thương.

II.            Truyền giáo bằng đời sống bác ái, giáo dục, phục vụ  trước khi bằng lời nói

Như Thánh Đa Minh dạy anh em:

“Anh em hãy nói với Thiên Chúa về con người trước khi nói với con người về Thiên Chúa.”

·        Người Đa Minh không chỉ là “người nói”, nhưng là “người sống chân lý”.

o   Sống nghèo khó, hiền hòa, trung thực.

o   Khiêm tốn và nhiệt thành trong phục vụ.
→ Đời sống là “bài giảng không lời”.

Còn mẹ Anastasie minh họa rằng: đời sống — hơn lời nói — chính là truyền giáo hiệu quả. Một vài nét nổi bật:

·        Mẹ mở trường học, dạy chữ, giáo dục trẻ em, đặc biệt trẻ nghèo — giúp họ được học hành, được biết đến Tin Mừng trong bối cảnh yêu thương và giáo dục.

·        Mẹ săn sóc người bệnh, người nghèo — thăm viếng, chăm sóc, an ủi — thể hiện lòng bác ái Kitô một cách cụ thể, thiết thực.

·        Vì vậy, nhiều người không cần nghe giảng, nhưng nhìn vào đời sống, thấy tình yêu, lòng khiêm nhường, phục vụ — từ đó Tin Mừng được lan truyền cách tự nhiên, kín đáo nhưng mạnh mẽ.

Về bác ái và nâng đỡ nhau (tinh thần cốt lõi cho việc truyền giáo) thì mẹ nói: 

“Điều tôi khuyên chị em trên hết là lòng bác ái, sự hỗ trợ lẫn nhau.
Chị này hãy là cây gậy cho chị kia – gậy của sức mạnh và lời khuyên hữu ích;
chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”
(Nguồn: Cộng đoàn Đa Minh Monteils Việt Nam – bản thuật lại lời Mẹ)

Thế nên:– Truyền giáo phải bắt đầu từ bác ái.
– Khôn ngoan là
biết nâng đỡ, củng cố, chia sẻ chứ không phê phán, làm tổn thương.
– Người truyền giáo trước hết phải “làm gậy và làm muối” – nghĩa là “vững mạnh” và “khôn ngoan”.

Về tinh thần phục vụ và hy sinh mẹ dạy:

(Theo hồ sơ dòng, khi Mẹ nói với các chị em trước khi lập cộng đoàn mới)

“Chúng ta được sai đi để phục vụ, không phải để được phục vụ.”

Như vậy :Truyền giáo không phải “nói cho người khác nghe”, mà trước hết là phục vụ họ trong tình yêu – đó chính là khôn ngoan Tin Mừng.

. Về kiên nhẫn trong sứ vụ thì mẹ khuyên:

(Theo ghi chép đời sống thiêng liêng của Mẹ trong cộng đoàn Pháp)

“Hãy kiên nhẫn: ân sủng cần thời gian để chạm đến tâm hồn.”

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng: khôn ngoan là không hấp tấp, không đòi kết quả ngay; hãy để Chúa làm phần của Ngài.

Nếu muốn truyền giáo khôn ngoan — hãy để đời sống của chúng ta là bài giảng sống động. Hành động yêu thương, phục vụ, chia sẻ… thường nói hiệu quả hơn lời

III. Khôn ngoan trong cách tiếp cận con người: tôn trọng, yêu thương, khiêm nhường

·        Mẹ Anastasie không dùng phương pháp áp đặt; Mẹ sống với sự khiêm nhường, tình thương — đó là cách dễ mở lòng người khác.

·        Bằng việc phục vụ và giáo dục, mẹ tạo dựng lòng tin, sự kính trọng — từ đó Tin Mừng trở nên hấp dẫn hơn, dễ đón nhận hơn.

·        Cách làm của mẹ  cho thấy: truyền giáo không chỉ là giảng đạo, mà là sống đức tin trong yêu thương và phục vụ — đó là khôn ngoan thật sự.

Về sống đơn sơ – khiêm nhường mẹ khuyên:

“Chị em hãy sống đơn sơ và khiêm nhường: đó là con đường mở lòng người khác.”
(Tóm lược từ linh đạo Mẹ – được cộng đoàn ghi lại)

Không có sự khiêm nhường và dịu dàng, việc truyền giáo dễ trở thành áp đặt. Khôn ngoan là biết đi vào lòng người cách nhẹ nhàng

Bài học cho chúng ta hôm nay

·        Khi truyền giáo — hoặc chia sẻ đức tin — nên bắt đầu từ nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm, giữ đức tin sống động.

·        Hãy truyền giáo bằng hành động yêu thương, phục vụ, giáo dục — chứ không chỉ bằng lời nói.

·        Luôn tôn trọng, yêu thương người khác; kiên nhẫn, khiêm nhường, mềm mỏng — để Tin Mừng dễ được đón nhận.

·        Ưu tiên giúp người — đặc biệt những người nghèo, yếu đuối, bị bỏ rơi — như cách Mère Marie-Anastasie sống: vì bác ái là ngôn ngữ dễ hiểu nhất.

IV. TRUYỀN GIÁO BẰNG  SỰ VÂNG PHỤC- BẰNG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN- BẰNG SỰ KHÔNG NGOAN CỦA TÌNH YÊU

Đối với Mẹ, một sứ vụ chỉ sinh hoa trái khi người tông đồ biết để Thiên Chúa hướng dẫn, biết hiệp nhất với chị em, và biết khôn ngoan trong cách chạm đến con người.

Vâng phục – là nền tảng của người tông đồ khôn ngoan

Đối với Mẹ Anastasie, vâng phục không phải là tuân theo một cách thụ động, nhưng là đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa và để Người dẫn đường.

Trong những ghi chép truyền thống của cộng đoàn Monteils, Mẹ thường nhắc:

“Con không thể dẫn ai đến Chúa nếu chính con không bước đi dưới sự hướng dẫn của Người.”

Sự vâng phục làm cho người tông đồ trở nên khôn ngoan, bởi người ấy không hành động tùy hứng, mà để Thánh Thần hướng dẫn từng lời nói và công việc.

Cộng đoàn – nơi rèn luyện sự khôn ngoan truyền giáo

Trong linh đạo của Mẹ Anastasie, cộng đoàn không chỉ là nơi sống chung, mà là nguồn sức mạnh của sứ vụ.

Truyền thống dòng ghi lại lời Mẹ dạy các chị em trẻ:

“Chị này hãy là cây gậy cho chị kia; chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”

Một cộng đoàn hiệp nhất là bài giảng âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất.
Người ngoài nhìn vào sẽ nhận ra Tin Mừng qua cách chị em yêu thương nhau.

Đây chính là con đường khôn ngoan mà Mẹ Anastasie để lại:
 trước khi đi truyền giáo bên ngoài, hãy để cộng đoàn rao giảng cho chính mình;
 trước khi dạy người khác, hãy để vâng phục uốn nắn trái tim mình.

Chỉ khi đó, lời rao giảng mới có sức mạnh.

Xin cho mỗi người chúng ta mang lấy tinh thần ấy để trở nên người Đa Minh của thời đại hôm nay:
hiền lành, khôn ngoan, vâng phục, và biết xây dựng cộng đoàn yêu thương như Mẹ Anastasie đã dạy.

 

Thầy là Ánh Sáng thế gian

 

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

               


“Hãy chỗi dậy hỡi ai ngủ mê...”.

Theo tiếng chuông Chúa gọi mời, chúng ta hãy chỗi dậy để đến cùng Chúa. Tuy nhiên, chúng ta còn phải như anh mù, sẵn sàng để ánh sáng Chúa soi dẫn, chấp nhận một cuộc tẩy rửa tâm can, để nhờ đó, chúng ta sẽ có ánh sáng Chúa soi chiếu và đạt đến niềm vui cứu độ đích thực.

Ai trong chúng ta dù khôn khéo và sắc xảo đến mấy lại không một lần mua phải hàng giả, đồ dỏm. Sự lầm lẫn về đồ vật gây ra thiệt hại một phần, thì sự lầm lẫn về người còn đem đến những hậu quả lớn gấp bội. Trong bài báo công an mới đây, có một người do nhìn lầm mà đã dùng cây đánh chết một người khác. Dĩ nhiên hậu quả đâu chỉ đối với bản thân mình, mà còn đối với nạn nhân và gia đình của người anh em vô tội. Đây chẳng phải là yếu điểm của riêng ai nhưng là của mọi người. Chẳng phải hôm nay, Samuel vị tiên tri của Thiên Chúa được sai đến nhà Giêsê để tìm vị quân vương nối nghiệp vua Saolê, đã xét đoán theo diện mạo, và dáng bên ngoài đó sao? Chính Thiên Chúa đã lên tiếng để cảnh tỉnh Samuel : Người phàm chỉ nhìn thấy ngoài mặt, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng. Câu chuyện Samuel hẳn muốn khẳng định với chúng ta rằng : Cái nhìn của Thiên Chúa khác với cái nhìn của con người và khi ai để cho ánh sáng Chúa soi chiếu, hướng dẫn, họ sẽ làm nên những điều kỳ diệu, lớn lao. Chân lý này không chỉ đúng cho trường hợp Ngài chọn gọi Đavít, nhưng còn đặc biệt là với Đức Kitô Đấng được xức dầu và sai đi thực hiện sứ mạng của Đấng Cứu Thế “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi ... . Dưới cái nhìn của nhân loại, Đức Giêsu chỉ là con của bác thợ mộc Giuse- người thành Nagiarét không hơn không kém. Thế nhưng chính qua Ngài, mà Thiên Chúa đang làm nên những điều kỳ diệu : Phép lạ chữa cho người mù từ lúc mới sinh hôm nay là một bằng chứng. Việc Ngài nhổ nước miếng xuống đất trộn với bùn xức vào mắt anh mù, cùng bảo anh đi rửa tại hồ Silôê xem ra là những việc quá quê mùa, ấu trĩ, và có khi còn phản lại vệ sinh khoa học. Ay vậy mà Tin Mừng lại ghi : Sau khi được rửa, anh ta đã được sạch. Vậy thì điều quan trọng không phải là nên làm hay không  nên làm- mà là có tin hay không tin, có chấp nhận hay không chấp nhận những đề nghị của Chúa. Nói cách khác, là có dám để ánh sáng Chúa chiếu soi, biến đổi, thánh hoá, tác động, dẫn dắt đời mình hay không?

Người mù hôm nay, ý thức nỗi bất hạnh lớn lao của kiếp mù loà. Nên đã sẵn sàng để đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Vì thế, Chúa đâu chỉ giải thoát anh khỏi sự mù loà phần xác, mà còn mở mắt đức tin để anh nhìn ra Chúa là một tiên tri, một Đấng Thánh và là Con của Thiên Chúa. Thái độ sấp mình xuống thờ lạy của anh, thay cho mọi lời anh nói. Vì giờ đây cần gì phải nói nữa khi mà anh thấy được mọi sự.

Điều trở thành niềm hi vọng cho anh mù, lại là cớ vấp phạm, sự bất hạnh cho người Do- thái, biệt phái, vì anh biết mình mù nên anh được sáng- còn người không biết mình mù thì cũng chẳng bao giờ cần được soi sáng. Đây chính là điều khiến cho thánh Phaolô luôn lo âu trăn trở, đặc biệt với các tín hữu của ngài ở Ephêsô. Trong Bài đọc II hôm nay, ngài ân cần nhắc với họ : Xưa kia anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ nhờ biết kết hiệp với Chúa, anh em lại là sự sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cáo sự sáng : mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Đây cũng chính là lời mời gọi dành cho từng người chúng ta trong Mùa Chay Thánh này.

Có đau mới biết thương người bệnh. Là một trong những Tông đồ đã được Chúa yêu thương cứu vớt khỏi chốn tối tăm lầm lạc, nên thánh Phaolô rất mong cho chúng ta cũng được sống trong hạnh phúc của sự sáng như Ngài. Vì thế ngài khuyên nhủ : Hãy chỗi dậy, hỡi những ai ngủ mê vì Đức Kitô đang chiếu giãi ánh sáng của Ngài trên chúng ta. Một cách chân thật khiêm tốn, chúng ta hãy nhận biết sự tăm tối của tâm hồn để trở về cùng Chúa :

Chúa Kitô hôm nay đang tiếp tục sứ mạng cứu thế của Ngài nhờ Thần Khí đã trao ban cho Giáo Hội. Chúng ta có nhìn ra sự tăm tối bởi thiếu học hỏi giáo lý, bởi những hành vi ám muội, gian ác, say sưa, để quay về cùng Chúa và được Chúa yêu thương chữa lành không?

Muốn đẩy lùi bóng tối, cần thắp lên nhiều ngọn đèn sáng, Làm thế nào để có thể phá tan những băng giá của đêm tăm tối nhân loại, nếu mỗi Kitô hữu không cố gắng thắp sáng ngọn nến đức tin qua đời sống lương thiện, ngay thẳng, nhất là qua lối sống vị tha cảm thông, nhịn nhục và bác ái. Ngọn đèn đời kitô còn đủ sáng để khơi lên hi vọng và sức sống cho nhân loại tăm tối hôm nay không?

Làm sao anh mù có thể gặp Chúa, rồi đi đến Chúa Silôê rửa để cuối cùng được sáng, nếu như  đã không có những người quảng đại dẫn đường chỉ lối cho anh ta? Hôm nay có biết bao người mắc bệnh mù loà mà không biết, và cũng không có khả năng đến với Chúa. Chúng ta có nhìn ra nỗi bất hạnh ở nơi những người chung quanh, cùng khu xóm, bạn bè và ngay trong gia đình, để biết dẫn họ đến với Chúa, với Bí tích Giải Tội mà được Chúa yêu thương chữa lành không?

Lạy Chúa Giêsu, qua việc mở mắt cho người mù hôm nay, Chúa không chỉ chứng tỏ quyền năng Thiên Chúa nhưng còn cho chúng con thấy rằng : Chúa chính là Đấng Cứu Thế, là đường, là sự thật và là sự sống. Xin Chúa cho chúng con, biết nhìn ra sự tăm tối, mù loà bất hạnh của tâm hồn, để như thánh Phaolô biết chỗi dậy dứt mình khỏi tội, cùng bước đi theo ánh sáng của Chúa, dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội, để nhờ bước đi theo Chúa là đường, là sự thật, chúng con sẽ đạt đến sự sống bất diệt là chính Chúa. Amen.

 

 

Mạch nước SỰ SỐNG

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY



             “Xin cho tôi nước đó, để tôi khỏi còn khát”. Tâm tư của chị phụ nữ Samaria đã được Chúa nhận lời khi Ngài tỏ cho chị biết Ngài chính là Đấng Cứu Thế, Đấng đến để giải thoát chị khỏi mọi đói khát của nghèo khổ bất hạnh vì xiềng xích của ma qủy, của tội lỗi, của gian tà bất chính.

Trong thánh lễ hôm nay, Con Thiên Chúa Đấng Cứu Thế cũng đang đến với chúng ta. Ngài đang tái hiện hi tế thập giá qua thánh lễ và lấp đầy tâm hồn chúng ta bằng Mình và Máu Thánh Ngài. Xin cho chúng ta biết thanh tẩy tâm hồn nên trong sạch thánh thiện để xứng đáng đón nhận hồng phúc của Chúa.

Trong cuốn kiến thức ngày nay số mới nhất, có thuật lại câu chuyện về “sức mạnh tình yêu”. Chàng là một người khổng lồ cao 1m88, còn nàng chỉ là một cô bé lùn cao 1m19. Có thể mọi người sẽ xem Reg và Odette là một đôi uyên ương thật ngộ nghĩnh. Song bất chấp chênh lệch về chiều cao, họ vẫn hạnh phúc bên nhau. Câu chuyện của họ bắt đầu từ một buổi hẹn tình cờ, đặc biệt từ lời mời đầy ngụ ý của chàng Reg điển trai: Nếu cô không có chỗ ngồi, cô có thể ngồi vào lòng tôi đây. Nàng choáng ngợp trước hạnh phúc, bắt đầu qua lại khắng khít với chàng. Kể từ phút đó, chẳng có sức mạnh nào tách họ ra được nữa. Thế là cũng chấm dứt luôn cái số phận nghiệt ngã, lang thang, nghèo khổ của một cô gái duyên dáng vai hề trong một gánh xiếc nhỏ. Cô đã được giải thoát, được mang lấy một số phận, một cuộc sống, một mái ấm gia đình và một tình yêu hạnh phúc.

Điều tưởng chỉ có trên phim, trên tiểu thuyết lại là một sự thật. Và sự thật đó đã từng đúng với dân tộc Israel. Chẳng phải trong tình thương, Thiên Chúa đã nhìn đến số phận lang thang, lưu đày, cay đắng của Israel bên Ai-cập, để giải thoát họ đó sao? Và chẳng phải vì tình yêu mà Ngài chấp nhận xoá đi mọi ngăn cách, mọi hận thù, để gần gũi với họ, lo lắng săn sóc cho họ đó sao? Và qua Môisen, Người tôi trung, Thiên Chúa tiếp tục có mặt để làm cho họ được sung sướng no thoả nước nguồn giữa nơi hoang mạc nóng cháy.

Tình yêu ấy như dòng chảy của một con sông, chảy hoài chảy mãi để đến hôm nay, ngang qua Môisen mới là Đức Kitô, Thiên Chúa đã chính thức định cư và cắm lều ở trần gian. Ngài đến để làm mới lại giao ước Sinai, một bản giao kết đã nhiều lần bị con người phản bội. Đi bước trước, Ngài chấp nhận đến với con người, dù biết rằng con người vẫn tìm cách chối từ Ngài như một kẻ xa lạ thù ghét : Ong là người Do Thái, mà lại xin nước uống tôi là người xứ Samari sao? Dòng sông yêu thương đã bị con người ngăn đập nay cần phải được phá đổ và khơi dòng, để con người có thể gặp được mạch suối yêu thương từ nơi Thiên Chúa: “ Đã đến lúc người ta sẽ thờ phượng Chúa không phải ở Giêrusalem hay trên núi này, nhưng là trong tinh thần và chân lý”. Từng bước, mọi hiểu lầm sẽ được tháo gỡ, mọi trăn trở được giải toa, và thành trì cuối cùng cũng được phá tan để con người cảm nhận ra được chỉ mình Thiên Chúa là Đấng Mêsia, Đấng Cứu Thế mà nhân loại mong mỏi đợi chờ:  “Bà nói tôi không có chồng là đúng, vì bà đã 5 đời chồng. Và người đàn ông đang chung sống với bà đây không phải là chồng bà”. Việc bóc trần, phơi bày tất cả sự thật giúp bà thấy sự nghèo nàn, đói rách, bất hạnh của mình, để đặt trọn niềm tin nơi Chúa: “ Người này đúng là Đấng Mêsia, Đấng Kitô của Thiên Chúa”.

Niềm tin đã giải thoát người đàn bà xứ Samari, đã làm cho bà no thoả trong dòng suối cứu độ yêu thương của Thiên Chúa. Đó cũng chính là xác tín mà Phaolô muốn khẳng định với chúng ta qua thư gửi cho Rôma hôm nay : “ Thiên Chúa đã chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân thì theo kỳ hạn, Ngài đã chết vì chúng ta”. Con Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận bất hạnh của chúng ta , nâng chúng ta lên trên thập giá và cho chúng ta được hạnh phúc nơi nhà của Thiên Chúa. Chúng ta sẽ làm gì để đáp trả :

*  Cuộc gặp gỡ giữa Con Thiên Chúa và người phụ nữ Samari hôm nay, đang mở ra cho chúng ta một niềm vui mừng, hi vọng, phấn khởi : “Vì Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian” . Chúng ta có nhận ra ý định yêu thương để ngay trong những ngày của mùa chay thánh này, biết quay về cùng Chúa, là Đấng cứu độ, theo mẫu gương người thiếu phụ Samaria hôm nay không?

*  Đã đến lúc con người thờ  phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Lối giữ  đạo đóng khung theo mùa, gói gọn trong nhà thờ, qua một vài lễ nghi tập tục : Đọc kinh, xưng tội, dự lễ… chưa đủ. Phải đi sâu hơn vào tâm tình, phải thể hiện bằng hành động trong cuộc sống. Đó là những nỗ lực cố gắng không ngừng để tôn thờ và làm vinh danh Chúa, qua việc tránh xa tội lỗi và trung thành đi trong đường lối, cũng như giữ các giới răn Chúa. Chúng ta có ý thức và thực hiện điều đó chưa?

*  Bà nói tôi không có chồng cũng phải. Gặp gỡ Đức Kitô là không ngừng khám phá ra con người thật dòn mỏng yếu đuối, tội lỗi, không phải để mặc cảm chán nản, nhưng để vươn lên thoát ra khỏi ràng buộc đó, mà sống đời sống mới : công bình hơn, ngay thẳng hơn, trong sạch hơn, khoan dung hơn, thánh thiện hơn. Đó có phải là quyết tâm của tôi với Chúa hôm nay không?

Ai đến với Ta sẽ không hề khát. Từ lòng họ sẽ vọt lên một dòng nước đem đến sự sống đời đời. Để luôn no thoả trong sự yêu thương của Chúa, chúng ta có chấp nhận như người phụ nữ Samaria, phá bỏ mọi ước lệ, ranh giới, tường rào của mặc cảm, của hiểu lầm nghi kị, ghen ghét, để hội nhập và cảm thông, gần gũi với anh em như Chúa đã làm cho chúng ta không?

Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu thoát. Xin Chúa cho con biết nhìn ra cuộc thăm viếng của Chúa hôm nay để nhờ đã vượt lên trên mọi mặc cảm, ràng buộc, thoát ra khỏi mọi xiềng xích tội lỗi, chúng con sẽ đón nhận được hạnh phúc trường sinh từ nơi chính Đức Kitô Cứu Thế. Amen.

  

Bổn Mạng và Lễ Giỗ tháng 3


 

Cách thế cầu nguyện của Đấng Sáng Lập

 

NHỮNG CÁCH THẾ CẦU NGUYỆN
CỦA MẸ MARIE-ANASTASE


 

Mẹ Marie-Anastasie là một tâm hồn cầu nguyện đích thực. Đối với Mẹ, cầu nguyện không chỉ là một việc đạo đức, nhưng là một thực hành liên lỉ trong đời sống. Chính trong cầu nguyện, Mẹ đã tìm được lòng can đảm, sự đơn sơ và niềm vui để sáng lập Hội Dòng, cũng như để nâng đỡ các chị em và những người Mẹ cộng tác. Theo những ghi chép trong cuốn Le Miracle de Bor của Cha Lajeunie, chúng ta thử phác họa những cách thế cầu nguyện khác nhau của Mẹ.

1)  Mẹ cầu nguyện trong phòng với cả tấm lòng

Mẹ yêu thích cầu nguyện và biết cách cầu nguyện. Mẹ thường kéo dài giờ cầu nguyện trong đêm và thức dậy sớm hơn vào buổi sáng để nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa. Đó là niềm say mê và niềm vui của Mẹ.

Những cách thế này lại làm phiền cô em Joséphine, người ngủ chung gối với Mẹ và than phiền bị đánh thức. Có lẽ sự khó chịu ấy còn pha lẫn nỗi buồn phải người nhỏ nhất, phải nhường nhịn, ít đạo đức hơn và ít được khen ngợi hơn, nên muốn giành lại phần hơn, muốn được làm chủ.

Anastasie hiểu được điều ấy. Để có thể cầu nguyện sớm hơn hoặc muộn hơn mỗi ngày trong bình an, Mẹ xin phép người em vốn có tính cương quyết. Ta có thể hình dung rằng sự khiêm tốn nhẫn nhịn ấy đã đem lại kết quả như mong muốn.

2)  Mẹ cầu nguyện trong thinh lặng bằng ánh nhìn

Trong tám điểm đầy những quyết tâm nghiêm túc, Mẹ đã tóm lược các nguyên tắc và quy luật chi phối đời sống nội tâm cũng như hành vi bên ngoài của mình.

Mẹ đặt nền tảng thứ tư là thinh lặng, hồi tâm và cầu nguyện trong hành động, dâng kính Thánh Phanxicô Salêsiô: “Con sẽ tôn kính sự thinh lặng của Đấng Cứu Thế trong lòng Đức Mẹ, bằng việc tuân giữ cách chính xác nhất thể luật thánh về thinh lặng.”

Mẹ quyết tâm không bao giờ nói nếu không nhu cầu thực sự khẩn thiết.

Hơn cả sự thinh lặng bên ngoài, Mẹ quý trọng sự thinh lặng của cõi lòng — một trái tim luôn khao khát kết hiệp với Đấng Cứu Thế. Trong tinh thần, Mẹ đến thăm Người và ở lại bên Người trong “nhà tù tự nguyện” nơi Người tự giam mình; Mẹ gìn giữ với Người những cuộc trò chuyện ngọt ngào nhất.

Mẹ giữ gìn lời nói, tự buộc mình sống thinh lặng chặt chẽ hơn trước. Khi muốn nói mà không có lý do chính đáng, Mẹ hứa sẽ nhớ đến Đấng Cứu Thế thinh lặng, Đấng đã đền bù cả những lời nói vô ích và đã chấp nhận thinh lặng trong tinh thần đền tội.

Ngoài hành lang, cây nến đã tắt, giữa bức tường và chiếc giường, quỳ gối trên nền đất, Mẹ tìm được “sa mạc” của mình: một mình với Thiên Chúa. Ở đó, trái tim Mẹ “tan chảy trong tình yêu lòng biết ơn”; ý chí Mẹ được thúc đẩy bởi lòng khao khát


noi gương đức ái của Chúa Giêsu đối với nhân loại và chia sẻ những đau khổ của họ như Người.

đó, cuộc sống khắc khổ của Mẹ trở thành một bữa tiệc thiêng liêng. Trong tình thân ái nồng nàn ấy, Mẹ đã nhận được nhiều ánh sáng nội tâm. Về sau Mẹ kể lại rằng các giờ phút trôi qua như những phút giây ngắn ngủi, vì Mẹ hạnh phúc được chuyện trò với Thiên Chúa. Thường khi nửa đêm, người ta thấy Mẹ còn quỳ gối. Đúng vậy, trong “sa mạc” Tizac, Anastasie thật hạnh phúc.

3)  Mẹ cầu nguyện cách khôn ngoan trước khi hành động

Đó là nguyên tắc đầu tiên trong đời sống của Mẹ: Cầu nguyện trước, hành động sau.

Biết bao lần lời khuyên ấy xuất hiện trong những ghi chép của Mẹ — bởi đó chính là điều Mẹ sống.

Trong những lúc khó khăn, Mẹ viết: “Phải làm gì? Hãy cầu nguyện trước đã, hãy cầu nguyện trước đã. Tôi phải như Môsê trên núi, hai tay luôn giơ cao lên trời để cầu xin sức mạnh và lòng can đảm cho tất cả những ai đang chiến đấu trong các trận chiến của Chúa.”

Mẹ xác tín rằng trước hết mình phải là người con của cầu nguyện. Không chạy đến cùng Thiên Chúa, không thể thành công trong việc hướng dẫn các linh hồn và điều hành một cộng đoàn.

Mẹ tin rằng một Bề trên phải thưa với Thiên Chúa tất cả những gì mình biết, xin Người chỉ dạy những điều mình không biết, và cuối cùng trình bày với Người mọi sự. Chỉ sau khi đã hỏi ý Chúa, sau khi đã tự hỏi mình sẽ muốn nói hoặc làm gì nếu phải chết ngay lúc ấy, Mẹ mới nói và hành động.

Biết bao lần, theo lời Mẹ Thánh Phaolô, chúng tôi đã thấy Mẹ suy xét và cầu nguyện suốt nhiều tuần, nhiều tháng trước khi đưa ra một lời khuyên, một mệnh lệnh, một công việc — để tránh gây tổn thương cho bất cứ ai. Mẹ hết sức thận trọng trong mọi quyết định; nhưng khi đã nói, thì phải thi hành; Mẹ không chiều theo những thất thường hay ước muốn do bản tính tự nhiên thúc đẩy.

Tháng 9 năm 1870, Mẹ viết: “Đừng sợ các biến cố. Càng nghiêm trọng và đe dọa bao nhiêu, chúng ta càng phải gia tăng lời cầu nguyện và lòng tín thác bấy nhiêu. Có thể sẽ đến lúc rất sợ hãi, thậm chí kinh hoàng, và có lẽ rất gần; nhưng chính khi ấy, hãy cầu nguyện nhiều hơn và tin rằng chúng ta đang gần chiến thắng. Thiên Chúa sẽ ở cùng chúng ta. Những cuộc chiến tranh, những cuộc cách mạng, tất cả chỉ để dạy chúng ta rằng mọi sự dưới thế này đều hư vô. Chỉ nơi Thiên Chúa mới những thực tại chân thật và bền vững; vì thế, hãy giữ lòng mình hướng thượng.”


4)  Mẹ lần chuỗi Mân Côi

Ngay từ thuở thiếu thời, Mẹ đã có lòng sùng kính Đức Maria. Gia đình Conduché — những người đã đặt ít là ba người con gái của mình dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ — luôn duy trì việc tôn sùng Kinh Mân Côi trong gia đình.

Trong sổ ghi danh của hội này, ta thấy tên Guillaume Conduché, anh của Joseph, vào năm 1842; tên Auguste Conduché năm 1844; tên Anastasie được ghi vào năm 1845 và em gái Joséphine (với tên Marie Arthières) năm 1848. Những chi tiết ấy thật ý nghĩa: Hội Dòng Bor không phải tình cờ được đặt dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ Mân Côi.

Thật vậy, dưới chân Thập Giá, Mẹ đã gặp Đức Trinh Nữ. Hơn cả việc đọc tiểu sử Thánh Louis Gonzague, việc noi gương Đức Mẹ đã làm Mẹ say mê. Đức Maria đã trở nên mẫu gương của Mẹ trong mọi sự.

Chúng ta thể nghĩ rằng chính để bắt chước Mẹ Maria Anastasie đã làm biết bao điều vượt quá bổn phận buộc phải làm. Trong thinh lặng, khi se sợi chỉ, Mẹ kết hiệp với Mẹ Maria, suy niệm các nhân đức của Người, rồi đem ra thực hành trong đời sống mình.

5)  Mẹ cầu nguyện với lương tâm ngay thẳng trong tích Hòa Giải

“Tôi sẽ xét mình ban đêm.” Mẹ kết luận:

“Lương tâm tôi sẽ trách tôi điều gì về việc thực hành này? Và nếu tôi không trung thành, liệu tôi sẵn sàng thực hiện vài việc hãm mình để đền những bất trung ấy không?”

Khi ngày sống kết thúc, Mẹ đến gặp cha Arthières nói:

“Thưa cậu, người đang chờ nhà thờ.”

Ngài đáp: “Được.”

Rồi vị linh mục rời bỏ công việc đang làm để vào tòa giải tội; Mẹ đi trước, ngài theo sau.

Từ năm tám tuổi, Mẹ đã xưng tội nhiều lần, dù chưa được ban phép giải tội — một thực hành theo thói quen thời đó, nhất là nơi những người chịu ảnh hưởng của khuynh hướng khắc khổ Jansenisme, vốn muốn trì hoãn việc Rước lễ lần đầu.

Thế nhưng, cô bé đã xưng tội với tất cả sự rõ ràng, lòng thống hối chân thành và quyết tâm dứt khoát. Cha phó Guillaumon, cha giải tội của Mẹ, kinh ngạc trước ánh sáng nội tâm nơi cô bé này. Sau cùng, ngài quyết định vượt qua thói quen ấy, dù có phần áy náy. Khuôn mặt rạng ngời của Anastasie hẳn đã đền đáp cho sự can đảm của ngài.

Vì vào giờ phút ấy, “một điều phi thường” đã xảy ra trong linh hồn em. Sau này Mẹ kể lại: “Một ánh sáng đã bừng lên!”


Từ đó, suốt đời Mẹ sống trong “một niềm vui và sự mãn nguyện đặc biệt.” Dưới ơn tha thứ ấy, Mẹ cảm nhận mình là bạn hữu của Thiên Chúa, không vướng chút bóng tối nào: được tha thứ, được thanh tẩy và hoàn toàn tự do.

6)  Mẹ cầu nguyện trước Thánh Thể: quỳ gối, hôn đất, phủ phục

Trung tâm đời sống cầu nguyện của Mẹ chính là Nhà Tạm. Khi nói về Bí tích Thánh Thể (chúng tôi đã ghi lại từng lời), trái tim Mẹ như mở rộng trong niềm vui. Hạnh phúc của Mẹ là được ở lại cầu nguyện trước Thầy mình.

Mỗi khi có thời giờ, Mẹ ở đó hàng giờ liền trong tâm tình khiêm cung sâu xa. Chính Mẹ đảm nhận việc đóng cửa nhà nguyện vào ban đêm. Khi cộng đoàn đã yên giấc, Mẹ đến trình bày với Đấng Cứu Thế từng nhu cầu của mỗi người con thiêng liêng của mình. Rồi hôn đất, Mẹ phủ phục một lúc trong thờ lạy.

Sáng hôm sau, dù đã thức khuya cầu nguyện, Mẹ luôn có mặt đầu tiên trong ca đoàn. Trong cuộc đối thoại thân tình với Đức Kitô, khi đọc kinh Lạy Cha, Mẹ cầu nguyện như sau: “Lạy Cha, xin cho ý Cha được thực hiện nơi mọi người, nơi các chị em con và nơi gia đình họ; xin cho ý Cha được hoàn tất nơi con cách trọn vẹn và không giữ lại điều gì, mãi mãi.”

Mẹ từng tâm sự: “Nếu Thiên Chúa hỏi tôi điều tôi nghĩ mình đã thực hiện xứng

đáng, tôi sẽ thưa: đó thi hành thánh ý Ngài.”

Chính vì thánh ý ấy, được diễn tả qua các Bề trên, Mẹ đã hy sinh ước muốn sâu xa nhất của mình — ước muốn sống đời chiêm niệm.

Khi gặp thử thách đau đớn, Mẹ chỉ thốt lên: “Thiên Chúa muốn thế! Fiat voluntas

Dei.”

Không phải vì Mẹ vô cảm. Có khi người ta nghe Mẹ thở dài: “Ôi! Có những lúc thật buồn trong cuộc đời!”

Nhưng ngay lập tức Mẹ tự an ủi: “Ôi! Tôi hạnh phúc biết bao vì Thiên Chúa của tôi là Thiên Chúa của tôi!”

Việc thực thi thánh ý Chúa vì tình yêu tinh tuyền là nguyên tắc đầu tiên trong đời sống và việc lãnh đạo của Mẹ. Như Mẹ Têrêsa đã viết: “Suốt đời, đó là một hành vi liên lỉ kết hợp hoàn hảo với thánh ý Thiên Chúa.”

Chúng tôi xác tín cách sâu xa rằng Mẹ Thánh Anastasie là người nữ của cầu nguyện. Có những sự kiện giống như trong đời các thánh đã in sâu xác tín ấy vào tâm trí chúng tôi.

Một buổi tối, Sœur Sainte-Catherine trông coi các học sinh nội trú đang giờ học. Chị nói: “Các con ngoan nhé! Chị đi làm một việc rồi sẽ trở lại trước khi vào phòng chung.”


Khi đi ngang nhà nguyện để viếng Chúa, chị ngạc nhiên thấy Mẹ Anastasie quỳ trên bậc thềm bàn thờ, đang thờ lạy Thánh Thể. Sau vài phút chầu, chị đi sang phòng chung, nghĩ rằng sẽ gặp Mẹ ở đó — nhưng chính Mẹ lại đang đợi chị!

Hiện tượng song hiện diện (bilocation) vốn quen thuộc trong đời các thánh. Nhưng điều gây chú ý ở đây là hình ảnh người mẹ bất động dưới chân Chúa, trong khi tưởng như Mẹ đang hoạt động nơi khác. Dù là một sự kiện chủ quan, nhưng đó là một hình ảnh biểu tượng đầy ý nghĩa.

7)   Mẹ cầu nguyện bằng cách lắng nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Lễ cách tích cực

Trong việc Rước lễ, Anastasie tìm thấy sức mạnh của sự vâng phục vì tình yêu tinh tuyền. Mẹ rước lễ thường xuyên trong giới hạn luật lệ và phong tục thời ấy cho phép. Tuy nhiên, vì muốn hòa mình với các chị em và vì sợ lạm dụng ân huệ này, Mẹ tự giới hạn mình; người ta phải thuyết phục Mẹ rằng vì yếu đuối và gánh nặng hơn người khác, Mẹ càng cần chạy đến nguồn sức mạnh nơi Đấng Cứu Thế.

Dù phải vượt thắng những nỗi buồn riêng, Mẹ không bao giờ bỏ qua một lần Rước lễ hợp lệ. Và sự thường xuyên ấy không hề dẫn Mẹ đến sự nguội lạnh.

Sau khi Rước lễ, theo lời các chị em, nơi gương mặt Mẹ phản chiếu “một điều gì đặc biệt hiền lành” và như phản ánh “sự dịu hiền của Đức Kitô.”

“Không Chúa Giêsu, con người chẳng gì.” Mẹ nói.

“Đấng Cứu Thế thần linh phải là sức mạnh và điểm tựa của chúng ta. Người là cây gậy nâng đỡ chúng ta; với Người, ta có thể vượt hố sâu, lội qua sông suối, trèo lên núi cao — nhưng ta phải luôn ở gần Người.”

Mẹ cổ võ các con thiêng liêng của mình yêu mến Thánh Thể, siêng năng cầu nguyện, chầu Thánh Thể, rước lễ thiêng liêng, tham dự Thánh Lễ và rước lễ bí tích. Mẹ quan sát với sự tế nhị nhưng cẩn trọng, để chúng tôi không bao giờ bỏ qua việc rước lễ theo luật nếu không có lý do chính đáng; và dưới sự hướng dẫn của cha giải tội, Mẹ khích lệ chúng tôi tham dự Thánh Lễ và rước lễ thường xuyên nhất có thể.

Mẹ chia ngày sống thành hai phần: trước Thánh Lễ và sau Thánh Lễ. Ngay từ hôm trước, Mẹ chuẩn bị cho Thánh Lễ ngày mai bằng những hy sinh nhỏ bé liên lỉ, để kết hiệp với Chúa.

Mẹ nói: “Đối với Chúa, lời cầu nguyện khô khan còn quý hơn lời cầu nguyện được an ủi; vì khi ấy bản tính được hiến tế, lòng tự ái bị tiêu diệt, Satan bị đánh bại và Thầy chí thánh được hài lòng.”

Trong tâm tình tạ ơn, Mẹ dâng lên Chúa những lo âu, bận tâm, phân tâm, và cả những quên sót vô ý đối với Ngài. Đó Thánh Lễ của mọi giờ phút. Và Mẹ muốn chúng tôi cũng cử hành Thánh Lễ ấy theo gương Mẹ.


8)  Mẹ cầu nguyện bằng cách đọc suy niệm hạnh các thánh

Trong giờ suy niệm, có một từ làm Mẹ say mê: cầu nguyện. Mẹ tin rằng cầu nguyện thật kỳ diệu biết bao!

Cuộc đời Thánh Louis Gonzague — vị thánh Mẹ yêu mến và ngưỡng mộ — hẳn đã khơi lên trong Mẹ ước muốn ấy. Đó là vị thánh Mẹ muốn noi gương, muốn cầu nguyện như ngài. Mẹ nghĩ điều ấy thật khó.

Nhưng một ngày kia, khi dọn dẹp thư viện của người cậu, Mẹ tìm thấy một cuốn sách chỉ nói về đề tài cầu nguyện. Thật ngạc nhiên!

“Không khó để suy niệm đâu. Trước đây con đã làm quá vấn đề lên, tưởng như cả

một ngọn núi. Ôi, rồi con sẽ làm được nhiều lắm.”

Những suy nghĩ hồn nhiên được lưu lại trong tiểu sử của Mẹ khiến chúng ta nghĩ rằng Anastasie đã cầu nguyện từ lâu mà không biết, giống như ông Jourdain làm văn xuôi mà không hay biết.

 

Références

Le miracle de Bor. Monteils : Monteils, 1956. LAJEUNIE, Etienne- Marie.

 SR. CHARLIMENE PHILIPPE, OP