Cách thế cầu nguyện của Đấng Sáng Lập

 

NHỮNG CÁCH THẾ CẦU NGUYỆN
CỦA MẸ MARIE-ANASTASE


 

Mẹ Marie-Anastasie là một tâm hồn cầu nguyện đích thực. Đối với Mẹ, cầu nguyện không chỉ là một việc đạo đức, nhưng là một thực hành liên lỉ trong đời sống. Chính trong cầu nguyện, Mẹ đã tìm được lòng can đảm, sự đơn sơ và niềm vui để sáng lập Hội Dòng, cũng như để nâng đỡ các chị em và những người Mẹ cộng tác. Theo những ghi chép trong cuốn Le Miracle de Bor của Cha Lajeunie, chúng ta thử phác họa những cách thế cầu nguyện khác nhau của Mẹ.

1)  Mẹ cầu nguyện trong phòng với cả tấm lòng

Mẹ yêu thích cầu nguyện và biết cách cầu nguyện. Mẹ thường kéo dài giờ cầu nguyện trong đêm và thức dậy sớm hơn vào buổi sáng để nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa. Đó là niềm say mê và niềm vui của Mẹ.

Những cách thế này lại làm phiền cô em Joséphine, người ngủ chung gối với Mẹ và than phiền bị đánh thức. Có lẽ sự khó chịu ấy còn pha lẫn nỗi buồn phải người nhỏ nhất, phải nhường nhịn, ít đạo đức hơn và ít được khen ngợi hơn, nên muốn giành lại phần hơn, muốn được làm chủ.

Anastasie hiểu được điều ấy. Để có thể cầu nguyện sớm hơn hoặc muộn hơn mỗi ngày trong bình an, Mẹ xin phép người em vốn có tính cương quyết. Ta có thể hình dung rằng sự khiêm tốn nhẫn nhịn ấy đã đem lại kết quả như mong muốn.

2)  Mẹ cầu nguyện trong thinh lặng bằng ánh nhìn

Trong tám điểm đầy những quyết tâm nghiêm túc, Mẹ đã tóm lược các nguyên tắc và quy luật chi phối đời sống nội tâm cũng như hành vi bên ngoài của mình.

Mẹ đặt nền tảng thứ tư là thinh lặng, hồi tâm và cầu nguyện trong hành động, dâng kính Thánh Phanxicô Salêsiô: “Con sẽ tôn kính sự thinh lặng của Đấng Cứu Thế trong lòng Đức Mẹ, bằng việc tuân giữ cách chính xác nhất thể luật thánh về thinh lặng.”

Mẹ quyết tâm không bao giờ nói nếu không nhu cầu thực sự khẩn thiết.

Hơn cả sự thinh lặng bên ngoài, Mẹ quý trọng sự thinh lặng của cõi lòng — một trái tim luôn khao khát kết hiệp với Đấng Cứu Thế. Trong tinh thần, Mẹ đến thăm Người và ở lại bên Người trong “nhà tù tự nguyện” nơi Người tự giam mình; Mẹ gìn giữ với Người những cuộc trò chuyện ngọt ngào nhất.

Mẹ giữ gìn lời nói, tự buộc mình sống thinh lặng chặt chẽ hơn trước. Khi muốn nói mà không có lý do chính đáng, Mẹ hứa sẽ nhớ đến Đấng Cứu Thế thinh lặng, Đấng đã đền bù cả những lời nói vô ích và đã chấp nhận thinh lặng trong tinh thần đền tội.

Ngoài hành lang, cây nến đã tắt, giữa bức tường và chiếc giường, quỳ gối trên nền đất, Mẹ tìm được “sa mạc” của mình: một mình với Thiên Chúa. Ở đó, trái tim Mẹ “tan chảy trong tình yêu lòng biết ơn”; ý chí Mẹ được thúc đẩy bởi lòng khao khát


noi gương đức ái của Chúa Giêsu đối với nhân loại và chia sẻ những đau khổ của họ như Người.

đó, cuộc sống khắc khổ của Mẹ trở thành một bữa tiệc thiêng liêng. Trong tình thân ái nồng nàn ấy, Mẹ đã nhận được nhiều ánh sáng nội tâm. Về sau Mẹ kể lại rằng các giờ phút trôi qua như những phút giây ngắn ngủi, vì Mẹ hạnh phúc được chuyện trò với Thiên Chúa. Thường khi nửa đêm, người ta thấy Mẹ còn quỳ gối. Đúng vậy, trong “sa mạc” Tizac, Anastasie thật hạnh phúc.

3)  Mẹ cầu nguyện cách khôn ngoan trước khi hành động

Đó là nguyên tắc đầu tiên trong đời sống của Mẹ: Cầu nguyện trước, hành động sau.

Biết bao lần lời khuyên ấy xuất hiện trong những ghi chép của Mẹ — bởi đó chính là điều Mẹ sống.

Trong những lúc khó khăn, Mẹ viết: “Phải làm gì? Hãy cầu nguyện trước đã, hãy cầu nguyện trước đã. Tôi phải như Môsê trên núi, hai tay luôn giơ cao lên trời để cầu xin sức mạnh và lòng can đảm cho tất cả những ai đang chiến đấu trong các trận chiến của Chúa.”

Mẹ xác tín rằng trước hết mình phải là người con của cầu nguyện. Không chạy đến cùng Thiên Chúa, không thể thành công trong việc hướng dẫn các linh hồn và điều hành một cộng đoàn.

Mẹ tin rằng một Bề trên phải thưa với Thiên Chúa tất cả những gì mình biết, xin Người chỉ dạy những điều mình không biết, và cuối cùng trình bày với Người mọi sự. Chỉ sau khi đã hỏi ý Chúa, sau khi đã tự hỏi mình sẽ muốn nói hoặc làm gì nếu phải chết ngay lúc ấy, Mẹ mới nói và hành động.

Biết bao lần, theo lời Mẹ Thánh Phaolô, chúng tôi đã thấy Mẹ suy xét và cầu nguyện suốt nhiều tuần, nhiều tháng trước khi đưa ra một lời khuyên, một mệnh lệnh, một công việc — để tránh gây tổn thương cho bất cứ ai. Mẹ hết sức thận trọng trong mọi quyết định; nhưng khi đã nói, thì phải thi hành; Mẹ không chiều theo những thất thường hay ước muốn do bản tính tự nhiên thúc đẩy.

Tháng 9 năm 1870, Mẹ viết: “Đừng sợ các biến cố. Càng nghiêm trọng và đe dọa bao nhiêu, chúng ta càng phải gia tăng lời cầu nguyện và lòng tín thác bấy nhiêu. Có thể sẽ đến lúc rất sợ hãi, thậm chí kinh hoàng, và có lẽ rất gần; nhưng chính khi ấy, hãy cầu nguyện nhiều hơn và tin rằng chúng ta đang gần chiến thắng. Thiên Chúa sẽ ở cùng chúng ta. Những cuộc chiến tranh, những cuộc cách mạng, tất cả chỉ để dạy chúng ta rằng mọi sự dưới thế này đều hư vô. Chỉ nơi Thiên Chúa mới những thực tại chân thật và bền vững; vì thế, hãy giữ lòng mình hướng thượng.”


4)  Mẹ lần chuỗi Mân Côi

Ngay từ thuở thiếu thời, Mẹ đã có lòng sùng kính Đức Maria. Gia đình Conduché — những người đã đặt ít là ba người con gái của mình dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ — luôn duy trì việc tôn sùng Kinh Mân Côi trong gia đình.

Trong sổ ghi danh của hội này, ta thấy tên Guillaume Conduché, anh của Joseph, vào năm 1842; tên Auguste Conduché năm 1844; tên Anastasie được ghi vào năm 1845 và em gái Joséphine (với tên Marie Arthières) năm 1848. Những chi tiết ấy thật ý nghĩa: Hội Dòng Bor không phải tình cờ được đặt dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ Mân Côi.

Thật vậy, dưới chân Thập Giá, Mẹ đã gặp Đức Trinh Nữ. Hơn cả việc đọc tiểu sử Thánh Louis Gonzague, việc noi gương Đức Mẹ đã làm Mẹ say mê. Đức Maria đã trở nên mẫu gương của Mẹ trong mọi sự.

Chúng ta thể nghĩ rằng chính để bắt chước Mẹ Maria Anastasie đã làm biết bao điều vượt quá bổn phận buộc phải làm. Trong thinh lặng, khi se sợi chỉ, Mẹ kết hiệp với Mẹ Maria, suy niệm các nhân đức của Người, rồi đem ra thực hành trong đời sống mình.

5)  Mẹ cầu nguyện với lương tâm ngay thẳng trong tích Hòa Giải

“Tôi sẽ xét mình ban đêm.” Mẹ kết luận:

“Lương tâm tôi sẽ trách tôi điều gì về việc thực hành này? Và nếu tôi không trung thành, liệu tôi sẵn sàng thực hiện vài việc hãm mình để đền những bất trung ấy không?”

Khi ngày sống kết thúc, Mẹ đến gặp cha Arthières nói:

“Thưa cậu, người đang chờ nhà thờ.”

Ngài đáp: “Được.”

Rồi vị linh mục rời bỏ công việc đang làm để vào tòa giải tội; Mẹ đi trước, ngài theo sau.

Từ năm tám tuổi, Mẹ đã xưng tội nhiều lần, dù chưa được ban phép giải tội — một thực hành theo thói quen thời đó, nhất là nơi những người chịu ảnh hưởng của khuynh hướng khắc khổ Jansenisme, vốn muốn trì hoãn việc Rước lễ lần đầu.

Thế nhưng, cô bé đã xưng tội với tất cả sự rõ ràng, lòng thống hối chân thành và quyết tâm dứt khoát. Cha phó Guillaumon, cha giải tội của Mẹ, kinh ngạc trước ánh sáng nội tâm nơi cô bé này. Sau cùng, ngài quyết định vượt qua thói quen ấy, dù có phần áy náy. Khuôn mặt rạng ngời của Anastasie hẳn đã đền đáp cho sự can đảm của ngài.

Vì vào giờ phút ấy, “một điều phi thường” đã xảy ra trong linh hồn em. Sau này Mẹ kể lại: “Một ánh sáng đã bừng lên!”


Từ đó, suốt đời Mẹ sống trong “một niềm vui và sự mãn nguyện đặc biệt.” Dưới ơn tha thứ ấy, Mẹ cảm nhận mình là bạn hữu của Thiên Chúa, không vướng chút bóng tối nào: được tha thứ, được thanh tẩy và hoàn toàn tự do.

6)  Mẹ cầu nguyện trước Thánh Thể: quỳ gối, hôn đất, phủ phục

Trung tâm đời sống cầu nguyện của Mẹ chính là Nhà Tạm. Khi nói về Bí tích Thánh Thể (chúng tôi đã ghi lại từng lời), trái tim Mẹ như mở rộng trong niềm vui. Hạnh phúc của Mẹ là được ở lại cầu nguyện trước Thầy mình.

Mỗi khi có thời giờ, Mẹ ở đó hàng giờ liền trong tâm tình khiêm cung sâu xa. Chính Mẹ đảm nhận việc đóng cửa nhà nguyện vào ban đêm. Khi cộng đoàn đã yên giấc, Mẹ đến trình bày với Đấng Cứu Thế từng nhu cầu của mỗi người con thiêng liêng của mình. Rồi hôn đất, Mẹ phủ phục một lúc trong thờ lạy.

Sáng hôm sau, dù đã thức khuya cầu nguyện, Mẹ luôn có mặt đầu tiên trong ca đoàn. Trong cuộc đối thoại thân tình với Đức Kitô, khi đọc kinh Lạy Cha, Mẹ cầu nguyện như sau: “Lạy Cha, xin cho ý Cha được thực hiện nơi mọi người, nơi các chị em con và nơi gia đình họ; xin cho ý Cha được hoàn tất nơi con cách trọn vẹn và không giữ lại điều gì, mãi mãi.”

Mẹ từng tâm sự: “Nếu Thiên Chúa hỏi tôi điều tôi nghĩ mình đã thực hiện xứng

đáng, tôi sẽ thưa: đó thi hành thánh ý Ngài.”

Chính vì thánh ý ấy, được diễn tả qua các Bề trên, Mẹ đã hy sinh ước muốn sâu xa nhất của mình — ước muốn sống đời chiêm niệm.

Khi gặp thử thách đau đớn, Mẹ chỉ thốt lên: “Thiên Chúa muốn thế! Fiat voluntas

Dei.”

Không phải vì Mẹ vô cảm. Có khi người ta nghe Mẹ thở dài: “Ôi! Có những lúc thật buồn trong cuộc đời!”

Nhưng ngay lập tức Mẹ tự an ủi: “Ôi! Tôi hạnh phúc biết bao vì Thiên Chúa của tôi là Thiên Chúa của tôi!”

Việc thực thi thánh ý Chúa vì tình yêu tinh tuyền là nguyên tắc đầu tiên trong đời sống và việc lãnh đạo của Mẹ. Như Mẹ Têrêsa đã viết: “Suốt đời, đó là một hành vi liên lỉ kết hợp hoàn hảo với thánh ý Thiên Chúa.”

Chúng tôi xác tín cách sâu xa rằng Mẹ Thánh Anastasie là người nữ của cầu nguyện. Có những sự kiện giống như trong đời các thánh đã in sâu xác tín ấy vào tâm trí chúng tôi.

Một buổi tối, Sœur Sainte-Catherine trông coi các học sinh nội trú đang giờ học. Chị nói: “Các con ngoan nhé! Chị đi làm một việc rồi sẽ trở lại trước khi vào phòng chung.”


Khi đi ngang nhà nguyện để viếng Chúa, chị ngạc nhiên thấy Mẹ Anastasie quỳ trên bậc thềm bàn thờ, đang thờ lạy Thánh Thể. Sau vài phút chầu, chị đi sang phòng chung, nghĩ rằng sẽ gặp Mẹ ở đó — nhưng chính Mẹ lại đang đợi chị!

Hiện tượng song hiện diện (bilocation) vốn quen thuộc trong đời các thánh. Nhưng điều gây chú ý ở đây là hình ảnh người mẹ bất động dưới chân Chúa, trong khi tưởng như Mẹ đang hoạt động nơi khác. Dù là một sự kiện chủ quan, nhưng đó là một hình ảnh biểu tượng đầy ý nghĩa.

7)   Mẹ cầu nguyện bằng cách lắng nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Lễ cách tích cực

Trong việc Rước lễ, Anastasie tìm thấy sức mạnh của sự vâng phục vì tình yêu tinh tuyền. Mẹ rước lễ thường xuyên trong giới hạn luật lệ và phong tục thời ấy cho phép. Tuy nhiên, vì muốn hòa mình với các chị em và vì sợ lạm dụng ân huệ này, Mẹ tự giới hạn mình; người ta phải thuyết phục Mẹ rằng vì yếu đuối và gánh nặng hơn người khác, Mẹ càng cần chạy đến nguồn sức mạnh nơi Đấng Cứu Thế.

Dù phải vượt thắng những nỗi buồn riêng, Mẹ không bao giờ bỏ qua một lần Rước lễ hợp lệ. Và sự thường xuyên ấy không hề dẫn Mẹ đến sự nguội lạnh.

Sau khi Rước lễ, theo lời các chị em, nơi gương mặt Mẹ phản chiếu “một điều gì đặc biệt hiền lành” và như phản ánh “sự dịu hiền của Đức Kitô.”

“Không Chúa Giêsu, con người chẳng gì.” Mẹ nói.

“Đấng Cứu Thế thần linh phải là sức mạnh và điểm tựa của chúng ta. Người là cây gậy nâng đỡ chúng ta; với Người, ta có thể vượt hố sâu, lội qua sông suối, trèo lên núi cao — nhưng ta phải luôn ở gần Người.”

Mẹ cổ võ các con thiêng liêng của mình yêu mến Thánh Thể, siêng năng cầu nguyện, chầu Thánh Thể, rước lễ thiêng liêng, tham dự Thánh Lễ và rước lễ bí tích. Mẹ quan sát với sự tế nhị nhưng cẩn trọng, để chúng tôi không bao giờ bỏ qua việc rước lễ theo luật nếu không có lý do chính đáng; và dưới sự hướng dẫn của cha giải tội, Mẹ khích lệ chúng tôi tham dự Thánh Lễ và rước lễ thường xuyên nhất có thể.

Mẹ chia ngày sống thành hai phần: trước Thánh Lễ và sau Thánh Lễ. Ngay từ hôm trước, Mẹ chuẩn bị cho Thánh Lễ ngày mai bằng những hy sinh nhỏ bé liên lỉ, để kết hiệp với Chúa.

Mẹ nói: “Đối với Chúa, lời cầu nguyện khô khan còn quý hơn lời cầu nguyện được an ủi; vì khi ấy bản tính được hiến tế, lòng tự ái bị tiêu diệt, Satan bị đánh bại và Thầy chí thánh được hài lòng.”

Trong tâm tình tạ ơn, Mẹ dâng lên Chúa những lo âu, bận tâm, phân tâm, và cả những quên sót vô ý đối với Ngài. Đó Thánh Lễ của mọi giờ phút. Và Mẹ muốn chúng tôi cũng cử hành Thánh Lễ ấy theo gương Mẹ.


8)  Mẹ cầu nguyện bằng cách đọc suy niệm hạnh các thánh

Trong giờ suy niệm, có một từ làm Mẹ say mê: cầu nguyện. Mẹ tin rằng cầu nguyện thật kỳ diệu biết bao!

Cuộc đời Thánh Louis Gonzague — vị thánh Mẹ yêu mến và ngưỡng mộ — hẳn đã khơi lên trong Mẹ ước muốn ấy. Đó là vị thánh Mẹ muốn noi gương, muốn cầu nguyện như ngài. Mẹ nghĩ điều ấy thật khó.

Nhưng một ngày kia, khi dọn dẹp thư viện của người cậu, Mẹ tìm thấy một cuốn sách chỉ nói về đề tài cầu nguyện. Thật ngạc nhiên!

“Không khó để suy niệm đâu. Trước đây con đã làm quá vấn đề lên, tưởng như cả

một ngọn núi. Ôi, rồi con sẽ làm được nhiều lắm.”

Những suy nghĩ hồn nhiên được lưu lại trong tiểu sử của Mẹ khiến chúng ta nghĩ rằng Anastasie đã cầu nguyện từ lâu mà không biết, giống như ông Jourdain làm văn xuôi mà không hay biết.

 

Références

Le miracle de Bor. Monteils : Monteils, 1956. LAJEUNIE, Etienne- Marie.

 SR. CHARLIMENE PHILIPPE, OP 

Vinh Quang Thiên Chúa

 

            


CHÚA NHẬT II MÙA CHAY (năm A )

 Hạnh tích thánh tử đạo Việt Nam có kể lại rằng: Để dụ dỗ chàng thanh niên trẻ tuổi tuấn tú khôi ngô Tôma Trần văn Thiện, quan tỉnh Quảng Trị đã buông lời ngon ngọt: Ta thấy tuổi con còn trẻ, tương lai rộng mở, nếu con chịu bỏ đạo ta sẽ lo liệu cho con làm quan. Hơn nữa sẽ nhận con làm con rể của ta, sẽ đứng ra lo liệu việc cưới xin. Thế nhưng anh Tôma Thiện đã khẳng khái trả lời: “Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng danh vọng trần thế”.

Làm thế nào để một chàng trai quê mùa ít học, có được những đối đáp khôn ngoan, và xác tín về cuộc sống hạnh phúc mai sau như vậy? Thưa đó chính là nhờ mạc khải của Đức Giêsu, ngang qua biến cố biến hình trên núi Tabor. Qua đó, Ngài còn chỉ cho chúng ta biết phải sống làm sao, đi vào con đường nào để cũng đạt đến hạnh phúc biến hình vinh quang như Ngài.

Thực ra cái hạnh phúc thiên đàng từ ban đầu đã từng là quê hương, là cội nguồn của mỗi chúng ta. Chính nơi vườn diệu quang ngập tràn ánh sáng, Thiên Chúa đã tạo dựng và mặc con người cái vẻ rực rỡ chói ngời của Ngài. Thế nhưng mọi sự đã đổ vỡ khi con người cố tình chối bỏ, quay lưng lại với Thiên Chúa. Hậu quả là lòng trí con người ra xấu xa, bị loại khỏi thiên đàng hạnh phúc. Kể từ đó tội lỗi cùng khuynh hướng xấu luôn áp đặt và trói cột khiến con người không ngừng sa ngã. Vì vậy, để đưa con người về với hạnh phúc ban đầu, Thiên Chúa chuẩn bị bằng một kế hoạch cứu độ, khởi đi từ việc chọn gọi tổ phụ Abraham: “Abraham, ngươi hãy từ bỏ cha mẹ quê hương, ruộng vườn mà đi đến vùng đất mà Ta sẽ chỉ cho ngươi”. Nghe theo lời Chúa kêu gọi, Abraham mau mắn lên đường, chấp nhận từ bỏ tất cả, giã từ tất cả. Thái độ tin tưởng phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa đã đưa ông đến với danh hiệu “Cha công chính”. Hơn nữa, Ngài còn ban cho ông súc vật đầy chuồng, con đàn cháu đống. Nhất là Ngài còn hứa chúc phúc cho dòng dõi ông. Chính qua Đức Kitô, Đấng công chính thuộc dòng dõi Abraham mà hôm nay, các Tông đồ và tất cả chúng ta, được mời gọi để đón nhận phúc lành vĩ đại, là tham dự vào vinh quang của Thiên Chúa.

Vinh quang hạnh phúc ấy, Thiên Chúa Cha đang hé mở cho các tông đồ qua biến cố biến hình của Chúa Giêsu trên núi Tabor. Trước vẻ rực rỡ sáng ngời của Con Thiên Chúa trong vinh quang biến hình, Phêrô đã ngỡ ngàng và sửng sốt reo lên: “Lạy Thầy, ở đây thì tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều...” Có thể ông chưa thể hiểu hết điều mình nói, cảm được điều mình xin, nhưng nơi ông bùng cháy lên một khát vọng nóng bỏng là muốn kéo dài, duy trì mãi cái hạnh phúc vinh quang mà ông và các bạn đang được chiêm bái.

Vinh quang này, thực ra Chúa Cha đâu chỉ mạc khải riêng cho các tông đồ, nhưng còn muốn hé mở cho tất cả chúng ta khi nói rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu hãy nghe lời Người”. Phải, con đường biến hình với Chúa, chính là hãy nghe lời Đức Kitô xuống núi, vác thập giá đời mình, cùng đến với tha nhân bằng trót tình yêu thương và phục vụ như chính Ngài đã nêu gương qua cái hết trên thập giá. Chân lý này, được thánh Phaolô lặp lại cho người môn đệ thân tín là Timôthê, ngay trong cơn bách hại lao lụy: “Con thân mến, con hãy đồng lao cộng tác với cha vì Tin mừng, nhờ quyền lực của Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát và kêu gọi chúng ta bằng ơn thiên triệu của người”.

 

Trước khi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã cầu nguyện :

“ Lạy Cha Con muốn rằng, Con ở đâu thì chúng cũng ở đấy với Con để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con”. Chúa mong muốn chia sẻ vinh quang của Ngài cho chúng ta, phần chúng ta sẽ làm gì để đón nhận :

- Việc Chúa Giêsu dẫn các tông đồ thân tín lên núi cao, và tỏ ra vinh quang sáng láng trước mặt các ông, nhằm củng cố niềm tin còn chao đảo, non yếu của các tông đồ trong cuộc thương khó. Chúng ta có biết siêng năng đến gặp Chúa trên núi cao của sự cầu nguyện, nhất là trong Thánh Lễ mỗi ngày, để được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa, và nhất là để Ngài tăng thêm đức tin, nghị lực, can đảm, hầu có thể thực hiện cuộc vượt qua con người cũ tội lỗi, với những đam mê bất chính, mà mặc lấy vinh quang của con người mới được biến đổi trong Chúa không?

- “Lạy Thầy ở đây thì tốt lắm. Con xin làm ba lều một cho Thầy, một cho Môisen và một cho Êlia”. Vinh quang mà Thiên Chúa mặc cho Đức Kitô, cũng là vinh quang mà Ngài dành cho chúng ta, cho những ai biết sẵn sàng vâng nghe và đi theo con đường của Đức Kitô: con đường chay tịnh hy sinh, con đường quên mình phục vụ, con đường hiến thân chịu chết và chết trên thập giá. Xác tín này có giúp chúng ta đón nhận một cách bình thản, tươi vui thánh ý Chúa trong cuộc đời như : lúc đau yếu bệnh tật, neo đơn thiếu thốn, khó khăn nghịch cảnh, hiểu lầm và trái ý, và ngay cả khi bị nhục mạ khinh khi không?

- Sau giây phút biến hình, Chúa Giêsu dẫn các môn đệ xuống núi. Vinh quang không phải là đã mất nhưng là mặc lấy dung mạo trần ai, tức là dung mạo của một Đức Kitô chịu đau khổ, bị đánh đập, ghét bỏ, đội mão gai, vác thập giá. Con đường đến cùng tha nhân, đồng loại, để phục vụ yêu thương, chia sẻ giúp đỡ, cưu mang và cứu vớt cũng là con đường xuống núi đầy thử thách và bất trắc, đau khổ và hy sinh. Chúng ta có chọn lựa nào, xuống với tha nhân để chấp nhận những gian truân thử thách, hay chỉ muốn ở lại trên núi, để sống trong mơ mộng hão huyền, viển vông ?

Không có chiều thứ sáu tử nạn, sẽ chẳng có ngày Chúa Nhật phục sinh.

Vinh quang biến hình mà Chúa hé mở hôm nay, thôi thúc và giục giã chúng ta  nỗ lực và cố gắng theo Chúa trong hành trình mùa chay thánh, để không ngừng biết đẩy mạnh cầu nguyện hy sinh, chay tịnh và vác thập giá, cùng mở lòng ra để phục vụ tha nhân như hôm nay Chúa đã đi trước và mời gọi.

Nhờ đã biết sống tâm tình vâng phục của người con thảo như Đức Kitô, chúng ta đầy hân hoan tin tưởng sẽ được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong hạnh phúc vinh quang như Chúa đã hứa: “Ai phụng sự Ta hãy theo Ta, và Ta ở đâu thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ được ở đó ”. Amen.

 

 

Chị em họp mặt Mừng Xuân Bính Ngọ

 

CHỊ EM QUÂY QUẦN

HỌP MẶT MỪNG XUÂN, MỪNG NĂM MỚI BÍNH NGỌ

Trong bầu khí rộn ràng và chan chứa yêu thương của những ngày cuối năm, vào thứ Bảy, ngày 31/01, tất cả Chị em trong Tỉnh dòng Đức Mẹ Lavang Việt Nam đã cùng nhau sắp xếp thời gian quý báu để quy tụ, chia sẻ niềm vui và thắt chặt tình hiệp thông trong đại gia đình Đaminh – Anastasie. Đây không chỉ là dịp gặp gỡ cuối năm, mà còn là khoảnh khắc ân tình, giúp mỗi chị em thêm gắn bó và nâng đỡ nhau trên hành trình ơn gọi.

Buổi họp mặt diễn ra trong bầu khí thân thương với những nụ cười rạng rỡ, những lời thăm hỏi chân tình. Các cộng đoàn đã nhiệt tình đóng góp những tiết mục sinh động, vui tươi và ấm áp, mang đậm dấu ấn riêng. Qua từng tiết mục, tinh thần hiệp nhất, sáng tạo và tình chị em được thể hiện cách sinh động, làm lan tỏa niềm vui và sự gần gũi giữa mọi người.

Trong bầu khí thân tình ấy, Chị em đã cùng nhau chúc tuổi Chị Giám Tỉnh, bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng dành cho người đã ân cần hướng dẫn, đồng hành với Tỉnh dòng. Đồng thời, Chị em cũng trao cho nhau những lời chúc tốt đẹp, như món quà tinh thần quý giá khép lại một năm đã qua.

Cao điểm của ngày gặp gỡ là Thánh lễ tạ ơn cuối năm do cha Đaminh Ngô Công Sứ chủ tế. Trong thánh lễ, toàn thể Chị em đã cùng nhau dâng lên Thiên Chúa lời tri ân cảm tạ vì muôn hồng ân đã lãnh nhận trong năm vừa qua, đồng thời phó dâng năm mới trong bàn tay yêu thương của Ngài, xin cho mỗi người được bình an, trung tín và tràn đầy ân sủng.


Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành và ban muôn ơn lành cho Chị Giám Tỉnh, Quý Chị trong Ban Cố vấn, Quý Chị Bề trên và toàn thể Quý Chị em, luôn được an mạnh trong tình yêu Chúa Giêsu Thánh Thể.