CHÚA NHẬT XXVIII NĂM A
Chuyện kể rằng : Có một người nông dân nọ gia đình rất nghèo khổ. Để thay
đổi số phận hẩm hiu, anh ta quyết định lên đường, thực hiện một chuyến làm ăn
xa. Bẵng đi thời gian dài, bây giờ anh ta đã trở thành một người giàu có. Anh
liền có ý định trở về quê cũ, gặp lại người thân. Mặc lại bộ quần áo nông dân hôm
nào, anh trở về quê nhà và được mọi người đón tiếp một cách tẻ nhạt. Vui mừng
sau nhiều năm xa cách, anh liền làm một bữa tiệc, mời mọi người thân quen đến
dự. Vì nghĩ rằng anh cũng vẫn chỉ là một nông dân khố rách áo ôm, nên mọi người
đều xa tránh và chẳng ai muốn đến dự vì sợ bị thiệt thòi chăng. Cuối cùng chỉ
có một đứa cháu có mặt trong bữa tiệc đó. Sau bữa tiệc, anh ta không những tặng
quà mà còn cho đứa cháu một khoản tiền lớn, mà anh ta dự định sẽ giúp cho những
người đến dự tiệc. Câu chuyện vỡ lở và bấy giờ mọi người tiếc ngẩn tiếc ngơ.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta cho rằng những người dân làng kia, không
biết bén nhậy mà nắm bắt cơ may người khác mang tới. Ấy vậy mà trong đời sống
siêu nhiên, chúng ta đã nhiều lần đánh mất cái hạnh phúc mà đáng lý mà chúng ta
phải tìm mọi cách để nắm lấy.
Lời Chúa hôm nay đang thuật lại cho chúng ta câu chuyện về một bữa tiệc
cưới. Người đứng ra mời không phải là một người vô danh tiểu tốt, hay là một
anh công nhân nào đó, nhưng là kẻ đầu của một nước : một vị vua. Khách được mời
gồm mọi người, bất luận già trẻ, sang hèn, tốt xấu... Tiệc cưới này cũng không
đơn giản như bao bữa tiệc của đám dân lao động nghèo khổ cơ cực, nhưng là tiệc
cưới của hoàng tử : một bữa tiệc không thể chê vào đâu như Isaia hôm nay tiên báo
: “ Ngày ấy Chúa các đạo binh sẽ thiết đãi tất cả các dân trên núi này một bữa
tiệc, đầy thịt rựơu. Thịt thì béo, rượu thì ngon”. Bài đáp ca Thánh Vịnh 22 còn
diễn tả rõ nét hơn về bữa tiệc ấy: “ Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt
những kẻ đối phương. Đầu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan
chứa”.
Còn hạnh phúc nào hơn, sung sướng nào bằng khi biết rằng, chính chúng ta
đang là khách được mời dự tiệc ấy. Vậy mà rất nhiều người đã không đáp trả lời
mời gọi đầy yêu thương và nhân hậu của Đức Vua. Họ đã khéo léo từ chối vì những
công việc riêng. Kẻ thì thăm trại, người đi buôn bán, người khác còn manh tâm
giết cả đầy tớ của Vua...
Chưa thoả lòng rộng rãi, Ngài còn sai mời một lần nữa mọi người từ các
ngả đường bất luận tốt xấu vào dự tiệc. Kẻ được mời thì đông nhưng không phải
ai cũng xứng đáng. Một số đã thiếu sự chuẩn bị, thiếu tâm tình thích hợp khi ăn
mặc luộm thuộm, không mang lấy áo cưới. Chỉ một số nhỏ thôi, là được chọn vì đã
biết đáp lời mời gọi, mang theo áo cưới để dự tiệc vui với hoàng tử.
Từ sau khi con người quay lưng, chối từ tình thương Thiên Chúa nơi vườn địa đàng, Thiên Chúa đã không ngừng gọi mời con người hãy đến với Ngài để được hưởng hạnh phúc. Ngài đã sai đến cùng họ các vị tiên tri. Thế nhưng tất cả đều đã bị dân tộc Do Thái từ chối. Sau cùng Thiên Chúa đã sai Con Ngài là Đức Giêsu đến với nhân loại, để kêu gọi chúng ta đến chung hưởng tiệc cưới nước trời : “ Hãy ăn năn sám hối vì nước trời đã gần đến”.
Qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa để
vào dự tiệc cưới. Tuy nhiên, điều ấy đâu đã bảo đảm cho ta một chỗ ngồi trong
tiệc cưới của Con Thiên Chúa. Số phận của những kẻ không mặc áo cưới bị loại ra
ngoài đã là một bài học cho chúng ta. Trước ánh sáng Lời Chúa chúng ta hãy cùng
nhau kiểm điểm :
- Mỗi ngày, mỗi tuần, Chúa đều
mời gọi ta tham dự bàn tiệc Thánh Thể qua các thánh lễ chiều, các giờ chầu
Thánh Thể. Chúng ta đã mau mắn đến với Chúa hay đã viện lý do : làm vườn, tăng
ca, đi làm xa, trời mưa, nhà ở xa, mệt nhọc vất vả để coi thường và từ chối. Thái
độ đến với Chúa bằng tâm tình con thảo hay gò bó ép buộc, đi trễ về sớm, lo ra
chia trí, ra ngoài nghe điện thoại khi dự lễ như một ít người vẫn làm không ?
- Khi tham dự Bàn tiệc Thánh Thể,
tiệc của chính Con Thiên Chúa, chúng ta đã biết chuẩn bị xứng đáng với chiếc áo
tâm hồn tinh tuyền, hay vẫn còn ngổn ngang những giận hờn, ghen ghét, đam mê
dục vọng, mải mê giầu sang phú quí, xác trong nhà thờ mà lòng trí mãi tận đâu
đâu không ?
- Chúng ta đã đối xử ra sao với
những người thay mặt Chúa, đại diện của Chúa, được Chúa sai đến với chúng ta để
mời gọi chúng ta vào dự tiệc hạnh phúc : Bỏ ngoài tai lời nhắc nhở, khinh
thường, tìm cách xa lánh, kéo bè kó cánh để nói xấu bôi nhọ, và chưa thực hành
những điều các ngài mời gọi?
- Ngày Chúa gọi chúng ta dự tiệc
cưới với Ngài là ngày chết của mỗi người. Chúng ta đã biết gìn giữ, bảo vệ và
trang điểm cho chiếc áo trắng Rửa Tội, hay đã làm cho hoen ố bởi những sự say
sưa, bài bạc, trộm cắp, gian dâm, và những việc làm bất chính?
Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít. Lời mời gọi của Chúa phải là
tiếng chuông nhắc nhở cho mỗi người chúng ta. Không thể ỷ nại vào lòng nhân
lành rộng rãi của Chúa, nhưng phải nỗ lực để bước vào tiệc cưới, với chiếc áo
cưới tinh tuyền thánh thiện. Muốn thế chúng ta phải tích cực hoán cải đời sống,
thực hành theo Giáo huấn Phúc Âm, cùng mặc lấy tâm tình và cách sống của Chúa
Kitô.
Thật hạnh phúc khi Thiên Chúa đến gặp chúng ta, và thấy chúng ta sẵn sàng
trong phòng cưới với chiếc áo cưới lộng lẫy, xinh đẹp, đã được điểm trang, gìn
giữ tinh tuyền thánh thiện, như lời khuyên của thánh Tông đồ Phaolô : “ Thưa
anh chị em, anh chị em hãy suy nghĩ đến những gì là chân thật, là thanh sạch,
là công chính, là đáng yêu, là đáng trọng và tất cả những gì là nhân đức, là
đáng khen ngợi. Như vậy, Thiên Chúa là Đấng ban bình an sẽ ở với anh chị em”.
Amen.
Theo các nhà nghiên cứu, kinh Mân Côi không xuất hiện thình lình, nhưng
Thánh Thần đã cho xuất hiện dần dần theo dòng lịch sử.
Từ giữa thế
kỷ III, những đan sĩ nơi sa mạc đó có thói quen kêu cầu Đức Mẹ trong mỗi lần cầu
nguyện, và suy niệm các mầu nhiệm trong đời Mẹ: Truyền Tin, Đi Viếng…
Đến thời
Trung Cổ, tại Tây phương, người thanh niên, nhất là các thiếu nữ, có thói quen đội
những tràng hoa trên đầu. Dần dần người ta biến thành các chuỗi hoa, đội lên đầu
Đức Mẹ để tỏ lòng tôn kính.
Trong khi ở
tu viện, các Tu sĩ mỗi ngày đọc nhiều kinh dâng kính Đức Me, như lập thành một
tràng chuỗi. Vì trước đó Hội Thánh chỉ dùng 150 thánh vịnh làm kinh nguyện
chính thức. Cho tới thế kỷ XII, khi bà thánh Birgitta được ơn Chúa soi sáng mới
đặt ra chuỗi 150 Kinh Kính Mừng để thay thế cho 150 Thánh vịnh. Các mầu nhiệm
Mân Côi lúc này được gọi là cuốn sách Phúc âm rút gọn của người bình dân, bởi
vì sau này người ta thêm 15 mầu nhiệm vào kinh Mân côi. Cứ 10 kinh Kính mừng lại
suy gẫm một mầu nhiệm mùa Vui, Thương hoặc Mừng. Gần đây Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II lập ra việc suy niệm thêm 5 sự sáng về những biến cố của cuộc đời
Chúa Giêsu.
Việc đạo đức
ấy đã được Đức Mẹ chấp nhận, khi Người hiện ra với Thánh Đaminh vào thế kỷ
XIII. Thời ấy, bè rối Albigeois đã lan tràn nhiều nơi và phá hoại Giáo Hội rất
nhiều. Ngài và các anh em đã làm hết sức mà không sao cải hóa được những người
theo bè rối ấy. Ngài cầu nguyện với Đức Mẹ và Đức Mẹ đã hiện ra dạy dùng tràng
chuỗi Mân Côi làm khí giới thần diệu để chinh phục bè rối ấy. Thánh Đaminh đã
thành công nhờ tràng hạt Mân Côi.
Lễ Đức Mẹ Mân Côi mà chúng ta mừng hôm nay còn liên hệ đến một biến cố
trong lịch sử Giáo Hội. Ngày
Lần chuỗi không phải là việc đọc kinh một cách máy móc các kinh thường
quen, mà là miệng đọc mà lòng suy gẫm các mầu nhiệm căn bản của Chúa Giêsu và Đức
Mẹ. Mầu nhiệm VUI để sống với Đức Mẹ cuộc đời thơ ấu của Chúa; mầu nhiệm THƯƠNG
để theo Chúa trên đường tử nạn; mầu nhiệm SÁNG để sống những biến cố cuộc đời dương
thế của Chúa, mầu nhiệm MỪNG để cùng Đức Mẹ sống qua những ngày cuối cùng của
Chúa.
Vì thế mà cha
Lacordaire đã gọi tràng chuỗi Mân Côi là một cuốn Phúc Âm tóm lược.
Vậy chúng
ta hãy siêng năng lần hạt, vì chính Đức Mẹ cũng khuyến khích việc ấy trong những
lần hiện ra ở Rue du Bac, Paris, ở Lộ Đức và Fatima.
Tại Rue du
Bac ở Paris, Đức Mẹ nói cùng thánh nữ Catherine Labouret: con hãy quan tâm đến
việc lần chuỗi để tôn kính Mẹ.
Chẳng bao
lâu sau, năm 1858, tại Lộ Đức, Đức Mẹ Vô Nhiễm hiện ra với cô bé Bernadette: Mẹ
đang lần hạt như nêu gương cho mọi con cái mình. Trước tấm gương đầy tình mẫu tử
ấy, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã viết 12 thông điệp liên tiếp để ca ngợi Chuỗi
Mân Côi. Trong 18 lần hiện ra, bao giờ Đức Mẹ
cũng lần hạt và khuyên lần hạt. Mỗi lần ra hang đá, Bernadetta đến quì tại một
chỗ nhất định. Cô nhìn lên hang đá, rút tràng chuỗi ra. Thế là trên bộng đá rực
lên một bầu ánh sáng và trong bầu ánh sáng ấy, Đức Mẹ hiện ra cầm trong
tay một tràng chuỗi bạc, Bernadetta nói: Đức Mẹ cũng lần hạt nhưng tất nhiên
không đọc kinh Kính Mừng mà chỉ cúi đầu, và Ngài đọc kinh Sáng Danh.
Cách riêng,
tại Fatima trong 6 lần hiện ra, Đức Mẹ đã khuyến khích lần hạt. Đức Mẹ dạy em
Lucia, Phanxicô, và Giacinta phải lần hạt mới được về Thiên đàng. Mẹ cũng ban
ba mệnh lệnh và một trong ba mệnh lệnh ấy là phải siêng năng lần hạt. Cuối
cùng, ngày
Vậy khi mừng lễ Thánh mẫu Mân Côi, Giáo hội muốn nhắc lại sức
mạnh cứu rỗi vô song của Kinh Mân Côi và kêu gọi mọi người hãy năng lần hạt Mân
Côi như phương thế hữu hiệu để cải thiện đời sống và xây dựng Nước Trời.
CHÚA NHẬT XXVI NĂM A
Cách đây ít lâu, vào một buổi sáng sau thánh lễ, có vị gia trưởng đến gặp
tôi. Qua câu chuyện trao đổi, tôi đọc được những nỗi day dứt trăn trở, những
thở dài ngao ngán khi thấy đứa con trai của anh, càng lớn càng tỏ ra bướng bỉnh
và không biết vâng lời ông bà cha mẹ.
Cái tâm trạng của người cha gia đình kia, cũng đã từng là cảm nghiệm của
Thiên Chúa nơi gia đình nhân loại. Như người cha nọ, tình thương của Thiên Chúa
đã từng bị coi thường, chối từ. Dẫu có gặp sự phản bội bất trung, thì Thiên
Chúa vẫn ngừng yêu thương con người mà Ngài tạo dựng.
Thật vậy, để tạo dựng con người, Thiên Chúa chỉ dùng một lời quyền năng.
Nhưng giờ đây để cứu vớt họ, Thiên Chúa lại chuẩn bị bằng cả một chương trình,
một kế hoạch. Nơi dân tộc Israel, Thiên Chúa đã từng bước để thực hiện ý định
cứu độ ấy. Ngày từng ngày, Ngài sai đến với họ các tiên tri, để cảnh tỉnh và mời
gọi họ trở về: “Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi
tội ác nó đã phạm, nó sẽ được sống chứ không phải chết ”.
Để làm sáng tỏ ý định cứu độ, Ngài còn sai Con một từ trời đến, vẫy gọi
con người trở về, được minh họa qua câu chuyện của người cha và hai đứa con.
Như bất cứ người cha nào, niềm mơ ước của ông nào đâu chỉ đặt vào miếng cơm
manh áo cho con cái, mà còn nghĩ đến tương lai, sự nghiệp, và một gia sản để
lại cho các con. Người cha trong dụ ngôn hôm nay khi sai các con của mình đi
làm vườn nho, ông đã từng bước chuẩn bị cho họ đảm nhận một vinh dự lớn lao là
làm chủ, là thừa hưởng một gia tài mà ông đã cả một đời vất vả gầy dựng. Nhưng
ngoài những gì ông chờ đợi mong mỏi, người con cả bảo mình sẽ không đi, sau hối
hận lại đi làm. Người con thứ, niềm hi vọng còn lại đã mau mắn nói lời xin
vâng, nhưng rồi lại mau chóng nuốt lời để bỏ đi và làm theo ý riêng của mình.
Không cần lý giải nhiều, chúng ta cũng hiểu rằng : Người con thứ hai kia
chính là dân tộc Do Thái, là những người biệt phái và luật sĩ. Họ đã thấy bao
việc lạ lùng của Chúa làm, nghe bao giáo huấn của Chúa dạy, vậy mà họ vẫn giả
điếc làm ngơ. Thái độ của họ chỉ vờ vĩnh, qua lần chiếu lệ, nặng hình thức khi
giữ những luật lệ Chúa. Họ còn giữ vẻ đạo mạo bên ngoài để che đậy tâm địa xấu
xa. Vì vậy, Chúa đã vạch trần thái độ của họ khi nói : “Đâu phải những kẻ kêu
lạy Chúa lạy Chúa mà được vào nước trời” !
Trái ngược với họ là đám người bị khinh miệt vì tội lỗi như bọn thu thuế
và gái điếm. Quá khứ của họ gắn liền với tai tiếng và xấu xa : thâm lạm, lừa
đảo, trộm cắp dâm dật. Như người con cả, họ đã từng thưa không với Chúa. Nhưng
sau, họ đã suy nghĩ lại, đã hối hận và trở về. Thái độ thành tâm của họ đã được
Chúa đón nhận : “ Ta bảo thật các ngươi, những người thu thuế và gái điếm sẽ
vào nước Thiên Chúa trước các ngươi”.
Thật là an ủi biết bao khi chúng ta biết rằng, Thiên Chúa luôn tỏ ra
khoan dung nhân từ đối với người tội lỗi. Theo lời mời gọi thánh Phaolô, chúng
ta hãy cởi bỏ con người cũ của mình, để mặc lấy những tâm tình, cảm nghĩ của
chính Đức Kitô, Người Con một yêu dấu của Thiên Chúa Cha, Đấng đã vì yêu mà
vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Cách sống và hành động của Ngài,
phải giúp chúng ta soi lại thái độ, và mối quan hệ phụ tử giữa chúng ta với
Thiên Chúa.
* “Ta đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất”. Lời Chúa xưa vẫn
còn là một cổ vũ, động viên khi chúng ta biết rằng, đã từng có một Matthêu thu
thuế được làm tông đồ, một Maria Madalena được trở thành người đầu tiên loan
báo Tin Mừng Phục Sinh. Hôm nay, chúng ta có nhìn ra lời mời gọi đầy yêu thương
của Chúa, để từ bỏ quá khứ tội lỗi, và những lời thưa không với Chúa bấy lâu
nay, để quay về, hối cải, quyết tâm làm theo ý Chúa như người con thứ nhất hôm
nay không?
* “Không phải những kẻ thưa lạy Chúa lạy Chúa...” Cũng vậy, đâu phải cứ
thuộc kinh, đi lễ nhiều, thông thạo về giáo lý mà được vào Nước Chúa. Trái lại,
phải sống đạo, đào sâu Lời Chúa, và như Đức Kitô, không ngừng ra sức thực hiện,
diễn tả ý muốn của Thiên Chúa qua nỗ lực hoán cải đời sống, thăng tiến bản
thân, góp phần xây dựng một thế giới huynh đệ và yêu thương.
* “Con ơi hãy đi làm vườn nho cho cha”. Lời Chúa không chỉ giới hạn, thu
hẹp nơi đời sống đức tin ở nhà thờ, mà còn được mở rộng trong cuộc sống gia
đình, trong mối quan hệ với người chung quanh. Chúng ta có thái độ, suy nghĩ
nào khi được mời gọi để cùng cha mẹ, bề trên, anh chị em, góp sức lao động của
mình để kiến tạo một cuộc sống đầm ấm, đầy đủ cho gia đình, mở ra một thế giới
công bằng yêu thương. Thái độ chọn lựa của chúng ta ra sao, mau mắn vâng lời,
tích cực thực hiện, hay càm ràm kêu trách và tìm cách trốn tránh.
“Xin chỉ cho con đường đi của Chúa”. Lời thánh vịnh hôm nay đã được Chúa
đáp lại, khi sai Con Một Ngài đến dạy chúng ta về đường lối của Ngài. Chính nơi
Đức Kitô mà chúng ta có dịp khám phá ra ý định, đường lối nhân hậu, dung thứ
của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta noi gương Ngài, từng ngày biết học cách lắng
nghe và nhận ra ý Chúa. Nhất là không ngừng ra sức thực hiện, vì đây là con
đường duy nhất, dẫn chúng ta đến với hạnh phúc nước trời. Amen.
“Hay mắt bạn ganh tị vì tôi nhân lành chăng? ”
Dụ ngôn những người thợ vườn nho, mời
gọi chúng ta đi sâu vào lòng nhân hậu bao dung của Thiên Chúa, Đấng đưa chúng
ta vào làm việc trong vườn nho của Chúa là Giáo Hội, và tham dự vào hạnh phúc
Nước Trời.
Xin Chúa cho chúng ta không chỉ biết lo
lắng chu toàn bổn phận người Kitô hữu, nhưng còn biết quan tâm và lôi kéo nhiều
người được đến làm việc trong vườn nho Nước Trời.
Cuối năm 1955, tại một bệnh viện, người ta nghe tiếng Cha Don Gnocchi thì thầm với bác sĩ : Khi tôi mất rồi, xin bác sĩ móc đôi mắt tôi để ghép vào cho hai đứa trẻ mù mà tôi nuôi nấng. Sau đó mấy tháng, các bác sĩ đã thành công trong ca cấy ghép. Vị bác sĩ đã gạn hỏi hai cậu bé về mối liên hệ giữa hai em với ngài. Các em đều trả lời : Không hề có liên hệ gì cả. Cảm kích trước gương quảng đại hi sinh ấy, vị bác sĩ kia đã tình nguyện suốt đời được phục vụ cho những người bệnh nhân nghèo khổ và kém may mắn.
Trong thời buổi kinh tế thị trường, mọi
sự đều được tính toán, cân đo lời lỗ, thì những việc làm có tính cách vô vị
lợi, hoàn toàn vì tình thương, chỉ còn là hàng mẫu được trưng bày trong các tủ
kiếng. Bởi con người từ lâu đã đánh mất bản chất của mình vốn được dựng nên bởi
tình yêu.
Ay vậy mà Thiên Chúa Tình Yêu ấy vẫn
không ngừng đeo đuổi con người, ngay từ trong những bước chân phản bội đầu
tiên. Lời gọi mời : Hãy trở về với Thiên Chúa vì Ngài rộng lòng tha thứ đã
không ngừng vang lên, vươn rộng đến mọi người, vượt qua mọi biên giới với những
suy nghĩ của con người - vì “như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối
của Chúa cũng vượt trên tư tưởng con người như vậy”. Đây cũng là điều mà Đức
Kitô đã nhiều lần khẳng định: Ta đến để tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất.
Lòng yêu thương ấy đã được diễn tả thật sống động và xúc tích qua dụ ngôn về
những người làm vườn nho.
Sẽ không thiếu người cho là hoang
tưởng, khi đưa ra hình ảnh một ông chủ thuê người làm lại chẳng để ý gì đến khả
năng, tính toán giờ giấc lao động. Dường như ông chủ cũng không nghĩ gì đến lợi
nhuận từ lao động, mà chỉ quan tâm lo lắng đến cái nắng nôi, đói khát, lo âu,
hồi hộp của những người đang đứng không ngoài chợ.
Và còn ngạc nhiên sửng sốt hơn nữa vì
cách làm của ông chủ, khi trả cho mỗi người, từ người đến trước nhất cho đến
người sau cùng đều một đồng. Câu trả lời của Chúa trước thắc mắc của người đến
trước : “ Hay mắt bạn ganh tị vì tôi nhân lành chăng?” sẽ giúp chúng ta khám
phá ra cái nhìn bao dung của Thiên Chúa. Phải chăng chúng ta luôn tưởng tượng
Thiên Chúa theo thước đo của ta, và đóng khung Ngài trong những quan niệm chật
hẹp, giới hạn về tình yêu của ta. Quả thật, nếu không có quả tim của Chúa, cái
nhìn của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng để trách móc cũng như ghen tị với những điều
may mắn nơi anh em mình.
Từng là người đến sau, nên thánh Phaolô
đã dễ dàng cảm nhận sâu sắc về lòng khoan dung từ ái vô biên của Thiên Chúa. Hôm
nay trong thư gửi tín hữu Rôma, ngài phần nào muốn hoạ lại cách sống và lòng
nhân hậu của Chúa dành cho anh em khi nói : “Đối với tôi được về với Chúa là
một ích lợi. Nhưng nếu vì phần rỗi của anh em, tôi sẵn sàng ở lại để phục vụ”.
Ngày hôm nay, người ta hô hào làm và chủ trương giải quyết mọi việc phải có tình có lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm lâu thì ưu tiên. Tuy nhiên, đối Thiên Chúa, chỉ có một lý do duy nhất để hành động : Đó là vì yêu thương, vì muốn con người được hạnh phúc. Bài học này không chỉ giúp chúng ta khám phá ra lòng nhân hậu của Chúa, nhưng còn mời gọi ta hoán cải để cũng biết sống nhân hậu như Ngài :
-
Nước Trời giống như chủ nhà kia, sáng sớm ra thuê những người làm vườn
nho cho mình. Xuyên suốt dòng lịch sử, Thiên Chúa nhân lành lên tiếng gọi con
người mà Ngài yêu thương không mệt mỏi : Ngày nào, giờ nào, lứa tuổi nào là tuỳ
ý Ngài. Không ai bị bỏ quên, chẳng ai bị gạt ra ngoài quĩ đạo ân sủng. Xác tín này
có giúp chúng ta biết dấn thân vào cánh đồng truyền giáo, quan tâm khuyên nhủ
cũng như giúp đỡ anh chị em còn xa đường lạc nẻo, được có cơ hội trở về với
Chúa không ?
-
Hãy vào và làm vườn nho cho Ta. Từ trong thân phận bị bỏ rơi, nô lệ, tội
lỗi, chúng ta được gọi mời để làm việc trong vườn nho Giáo Hội. Chúng ta đã
tích cực tìm kiếm nước trời, sống đời thánh thiện hi sinh, hết long thờ phượng
Chúa, hay chỉ lo tìm kiếm vinh quang trần thế, quay quắt tìm kiếm miếng cơm
manh áo mà sao nhãng đời sống đức tin, và bổn phận người Kitô hữu, nhất là bổn
phận truyền giáo không ?
-
Hay mắt bạn ganh tị vì tôi nhân lành chăng? Đường lối và cách thức hành
động của Chúa dành cho mỗi người, nhất là người quê mùa, dốt nát, tội lỗi, có
làm cho chúng ta bực bội, khó chịu, lẩm bẩm, phân bì, hay giúp ta nhìn ra nẻo
đường nhân hậu của Chúa, để biết cư xử với nhau, nhất là với người tội lỗi cách
khoan dung nhân hậu như Chúa nêu gương chưa ?
Hãy trở về với ta thì các ngươi sẽ được tha thứ. Xuyên suốt chiều dài cứu độ, vẫn không ngừng vang lên lời gọi mời : Hãy ăn năn sám hối... của Đức Kitô. Hôm nay chúng ta có nhìn ra lòng yêu thương nhân hậu của Thiên Chúa, để biết dứt mình ra khỏi vũng bùn tội luỵ, những đam mê bất chính, những việc gian tà bất công, để đáng được Chúa yêu thương và cứu vớt không?
Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào
nước Thiên Chúa trước các ông. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy vượt qua những
định kiến, chủ quan, mở rộng cái nhìn để cảm thông, chia sẻ. Nhất là còn mở
rộng lòng mình để hiểu biết yêu thương, quan tâm và giúp đỡ, cũng như đưa mọi
người vào biển tình yêu thương của Thiên Chúa.
Ước gì mỗi chúng ta sẽ trở thành lời
mời gọi để những anh chị em ngoại giáo, lạc giáo, tội lỗi, trỗi dậy từ vực thẳm
tội lỗi đến với Chúa, để họ cũng có được cơ hội làm việc trong vườn nho của
Chúa là Nước Trời. Amen.