"Đức Tin của bà mạnh thật"

 

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN năm A

  

“Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc”.

Đến với Chúa trong Thánh lễ này, mỗi chúng ta không chỉ cầu nguyện cho mình, vững một niềm tin vào Chúa, nhưng còn mở lòng xin Chúa cho mọi dân nước biết tìm đến Nhà Chúa, cầu nguyện cùng Chúa, như người đàn bà ngoại giáo hôm nay đã làm.

Hạnh các Vị Thánh Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam, có nói đến một vị chứng nhân đức tin, xuất thân là một người ngoại giáo đó là thánh Augustinô Nguyễn Văn Mới. Augustinô Mới sinh ra trong một gia đình nông dân ngoại giáo. Nhà nghèo, nên anh phải đi làm mướn. Chính tại nơi xứ Kẻ Mốt- Bắc Ninh, nơi anh làm mướn, anh đã có dịp được tiếp xúc với các tín hữu. Đời sống và gương sáng của họ đã có sức lôi cuốn, thuyết phục và cuối cùng vào năm 31 tuổi, anh được rửa tội- để rồi 2 năm sau, anh đã được vinh dự trở thành chứng nhân anh dũng của Đức Kitô giữa anh em mình.

Cái chết như một hiến tế dâng lên Thiên Chúa của thánh Augustinô Mới, đã không chỉ nói lên lòng trung thành của người tôi trung với Thiên Chúa, mà còn trở thành của lễ toàn thiêu, đem đến niềm vinh dự lớn lao cho Ngài. Đây cũng chính là điều mà Isaia trước Chúa giáng sinh đã từng loan báo: về một ơn cứu độ phổ quát mà Chúa dành cho các dân tộc, không phân biệt Do Thái hay dân ngoại, đã đón nhận và bước đi theo giáo huấn của Ngài: “ Tất cả những ai giữ ngày sabat, không hề sai lỗi, và trung thành giữ giao ước của Ta, Ta sẽ dẫn chúng lên núi thánh, sẽ cho chúng niềm vui trong nhà cầu nguyện... Vì nhà Ta là Nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc”.

Nếu trong Cựu Ước, Nhà tạm của Thiên Chúa được coi là Nhà cầu nguyện, thì trong Tân Ước, Đức Kitô đã được coi là Nhà cầu nguyện sống động của Thiên Chúa. Vì thế, hôm nay, khi Chúa Giêsu trở về Siđon và Tyrô, vùng đất dân ngoại, đã có một người đàn bà ngoại giáo đến gặp Ngài, và cầu xin Ngài cứu chữa cho đứa con của bà bị qủy ám. Đến gặp Chúa, bà đã không chỉ nói lên xác tín của mình về việc làm của ma quỷ: vừa xấu xa vừa gian ác, luôn mang lại điều bất hạnh cho con người. Nhưng hơn thế nữa, bà còn mang theo với mình, niềm khát mong sâu xa, là được Chúa dủ lòng thương cứu vớt. Hơn ai hết, bà hiểu rằng, bà chỉ là đứa con lạc dòng- là kẻ bị liệt vào hạng tội lỗi. Sự kiên trì, nhẫn nại và quyết tâm của bà, đã làm cho các môn đệ phải khó chịu. Ấy vậy mà bà cũng chỉ được đáp lại bằng những câu nói, xem ra quá lạnh nhạt và tiêu cực: “ Ta chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel và không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó”. Không chán nản tuyệt vọng, bà vẫn tiếp tục van xin. Cuối cùng bà đã được thưởng công xứng đáng: Này bà, bà có lòng tin mạnh, bà muốn sao thì được vậy và con gái bà đã được lành.

Người ta từ đông chí tây... Lời Chúa Giêsu được loan báo cách đây hơn 2000 năm. Thế nhưng cứ như những gì chúng ta nghe và chứng kiến, thì ngày càng có nhiều người sống xa với giáo lý của Chúa, và muốn chối bỏ Chúa. Tin Mừng hôm nay phải là một lời mời gọi, một sự cảnh tỉnh cho mỗi người Kitô hữu chúng ta:

“Nhà Cha Ta là Nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc”. Đời sống của các Kitô hữu ở xứ Kẻ Mốt, đã lôi cuốn, khiến cho Augustinô yêu mến đạo Chúa và sẵn sàng trở lại cùng Chúa. Còn đời sống đạo của tôi hôm nay thế nào, có phải là gương sáng đức tin, hay ngược lại, đã làm cho nhiều người xa với đạo, ác cảm với đạo, và không muốn đến với đạo không?

“Lạy con vua Đavít, xin thương con gái tôi”. Nó bị quỷ ám khốn khổ lắm.  Mỗi người chúng ta có nhìn ra tác hại mà ma quỷ đang tìm cách để gieo rắc trong giáo xứ: qua phim ảnh xấu, câu chuyện tục tĩu, cuộc sống phóng túng hưởng thụ, bài bạc đỏ đen, say xỉn cãi vã, chua ngoa và gian dối không?

“Này bà, bà có lòng mạnh tin, bà muốn sao thì được vậy”. Niềm tin của người đàn bà ngoại giáo : khiêm tốn, kiên trì, mạnh mẽ, tin yêu  đã khiến cho con bà được lành bệnh. Niềm tin của mỗi chúng ta thế nào: nông cạn hời hợt hay sâu thẳm thâm trầm, vụ lợi ích kỷ hay quảng đại, yêu mến mạnh mẽ kiên trì hay chán nản buông xuôi.

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con. Lời cầu nguyện của các Tông đồ xưa, cũng là tâm tình của chúng ta trong lúc này và mọi phút giây của cuộc sống, để cũng như một nạn nhân của Đức quốc và trong Thế chiến thứ II, trong lúc bị truy nã, chúng ta sẽ nói rằng:

“Tôi tin vào mặt trời, ngay cả lúc nó không chiếu sáng.

Tôi tin vào tình yêu, ngay cả lúc tôi không thấy nó.

Tôi tin vào Thiên Chúa ngay cả khi Ngài im lặng”. Amen. 

Câu chuyện 2: THÁNH PHỤ ĐA MINH VÀ CHIẾC ĐẦU LÂU

Câu chuyện 2: THÁNH PHỤ ĐA MINH VÀ CHIẾC ĐẦU LÂU

( Trong 16 câu chuyện về thánh Đaminh)

Tác giả bài viết là Thánh Alphonso Ligouri.



Cha Eusêbiô Nierembê thuật rằng:

‘Trong một thành phố nước Aragôn, có một thiếu nữ quí phái, nhan sắc và trang trọng khác vời. Cô tên là Alêxandra. Cô được hai thanh niên trong thành cùng thầm yêu trộm nhớ. Do mối hờn ghen xúc xiểm, hai chàng đó, một hôm đã cùng nhau đọ sức và cả hai đã giết hại nhau. Thân thuộc của hai chàng, vì cơn hỏa nóng bốc cháy tâm hồn, qui tất cả mọi tội lỗi lên đầu cô thiếu nữ. Vì thế họ kéo nhau đến nhà nàng, giết chết nàng. Họ chặt đầu nàng và ném thi thể xuống giếng sâu.

Một ít ngày sau, thánh Đa Minh có dịp qua vùng đó. Được linh cảm bởi ơn Trời, ngài đến bên giếng và gọi to:

-Alexanđa ơi, lên đây!

Thốt nhiên, đầu thiếu nữ xuất hiện và tự đặt lên trên thành giếng, xin thánh Đa Minh giải tội, thánh nhân nghe nàng xưng tội, xá giải cho nàng, lại rước Thánh Thể cho nàng rước lĩnh, trước một số rất đông dân chúng kéo đến xem sự lạ. Sau đó, thánh nhân ra lệnh cho nàng nói nhờ đâu mà nàng được đặc ân vĩ đại ấy. Alêxanđa trả lời rằng: “Lúc con bị người ta giết, con còn mang tội trọng. Nhưng Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đã giữ cho con được sống, để tưởng thưởng lòng con từng sốt sắng đọc kinh Mân Côi.”

Liền hai ngày tiếp đó, mọi người còn được thấy thủ cấp Alêxanđa sống tươi nguyên vẹn trên miệng giếng, cho đến khi hồn nàng vào luyện ngục.

Nhưng chỉ mười lăm ngày sau, nàng lại hiện đến với thánh Đa Minh, diễm lệ và sáng trưng như một vì tinh tú. Nàng thưa với thánh nhân rằng không có việc lành nào hiệu lực để cứu giúp các linh hồn luyện ngục bằng việc đọc kinh chuỗi Mân Côi. Nàng cũng thêm rằng, các linh hồn lành thánh đó, khi đã lên trời, sẽ không quên cầu nguyện cho những người đã cầu nguyện cho mình được giải thoát. Liền đó, thánh Đa Minh thấy linh hồn may mắn của nàng, tràn đầy hoan hỉ, băng mình về Thiên Đàng.

(Trích sách Vinh Quang Đức Mẹ Maria, của thánh Alphonso Ligouri, chuyển ngữ: Phạm Duy Lễ, CMC)




 

Câu chuyện 1: THÁNH PHỤ ĐA MINH

 

Câu chuyện 1: THÁNH PHỤ ĐA MINH, Linh mục (1170 - 1221)

( Trong 16 câu chuyện về thánh Đaminh)



Thánh Đa Minh sinh tại Castille, Tây Ban Nha, năm 1170. Truyện về tuổi trẻ của Ngài nói tới nhiều điềm báo lạ lùng. Mẹ Ngài, bà Aza mơ thấy con mình như một con chó ngậm đuốc chạy khắp cả thế gian. E ngại vì giấc mơ này bà làm tuần cửu nhật xin cho được sinh nở vuông tròn đến ngày thứ bảy, vị chánh sở nói với bà:

-Bà đừng sợ gì vì đứa trẻ sinh ra sẽ trở thành ánh sáng thế gian và niềm an ủi cho Giáo hội, nhờ sự thánh thiện và giáo thuyết của nó.

Khi trẻ Đa Minh còn nằm trong nôi, một bầy ong mật lượn quanh rồi êm ái đậu xuống nơi nôi Ngài. Điều này báo trước rằng lời lẽ miệng Ngài sẽ êm dịu như mật ngọt. Ngày chịu phép rửa tội, vú nuôi Ngài thấy một vì sao chói sáng trên trán Ngài. Đó là dấu ơn thánh Ngài sẽ tỏa chiếu để thu hút các linh hồn.

Được cưng chiều, thánh Đaminh sớm sống đời khổ hạnh. Ngài học hãm mình cầu nguyện khi vừa thôi nôi. Người vú nuôi nhiều lần thấy Ngài âm thầm thức dậy trong đêm tối để cầu nguyện. Ngài chọn một nơi thanh vắng ở cuối vườn làm nơi tâm sự với Chúa. Đức Trinh nữ thường hiện ra với Ngài, dạy Ngài lần chuỗi. Việc đạo đức này về sau trở thành phương thế hữu hiệu để cải hóa những người theo lạc giáo.

Đến tuổi đi học, Đaminh được gởi tới thụ giáo với ông cậu là tổng linh mục ở Gumiel. Năm 14 tuổi, Ngài theo học tại đại học ở Palencia và đã tiến triển rất nhanh về hiểu biết lẫn nhân đức. Nạn đói lan tràn nước Tây Ban Nha, một người bạn đến thăm Đaminh không thấy đồ dùng lẫn những pho sách quí đâu nữa. Ngài đã bán để giúp người nghèo khó rồi. Gương sáng này đã lôi kéo được nhiều sinh viên lẫn các giáo sư bắt chước.

Sau khi hoàn tất việc học, Đaminh được đức Chadiegô, giám mục Osma truyền chức linh mục. Vị giám mục đạo đức này đang muốn canh tân lòng đạo đức trong giáo phận, đã đặt cha Đaminh làm kinh sĩ. Khi lo chuyện nhà nước qua Châu Au, đức cha Diegô dẫn cha Đaminh đi theo. Tại Languedoc, các Ngài được chứng kiến được tàn phá mà bè rối Albigeois gây ra. Họ chủ trương rằng: mọi vật chất đều xấu và do ma quỉ. Sự hoàn thiện theo họ, hệ tại sự từ bỏ phi nhân bản để sống khắc khổ. Chủ trương này dẫn tới sự lãnh cảm. Chẳng hạn đối với việc hôn nhân và chôn vùi mọi cơ cấu xã hội gia đình. Họ còn có lễ nghi, và phẩm trật riêng. Người ta bị phân thành hai loại: một bên gồm những người hoàn thiện và những nhà lãnh đạo sống rất khắc khổ; bên kia là quần chúng tìm thấy nơi giáo thuyết mới lý do bào chữa cho sự tự do luân lý không bị kiềm chế của mình.

Trên đường về, đức cha Diegô và cha Đaminh đến Roma xin từ nhiệm để dấn thân vào cuộc truyền giáo quanh vùng Dniepen. Đức giáo hoàng Innocentê III từ lâu đã mong có người ra đi rao giảng tại miền nam nước Pháp, chống lại ảnh hưởng của bè rối Albigeois, thay vì chấp nhận lời thỉnh cầu, Đức giáo hoàng sai các Ngài tới miền nam nước Pháp. Hai người đã tới phụ lực với các sứ giả đã được sai tới trước kia. Tại Montpellier, đức cha Diegô đã nhận thấy sự khác biệt giữa các nhà giảng thuyết công giáo đầy xa hoa với các nhà giảng thuyết phái Albigeois đầy khiêm tốn giản dị. Các Ngài chọn đường lối khác, lấy khó nghèo và cầu nguyện làm gương sáng thu hút mọi người.

Tháng 4 năm 1207, nhiều tu sĩ Xitô đến trợ lực. Trong vòng một năm trời, có đến 40 vị dấn thân vào hoạt động. Những thành công sơ khởi bắt đầu tới, nhưng không kéo dài được lâu. Các tu sĩ Xitô nản lòng. Đức cha Diegô trở về Tây Ban Nha kiếm thêm người trợ lực và qua đời tại đây. Một vị sự thần cũng từ trần. Tệ hại hơn cả là Phêrô Castelman, vị sự thần khác, bị bọn lạc giáo ám sát.

Còn lại mình cha Đaminh. Ngài vẫn tiếp tục nhiệt tình hoạt động trong đường lối khổ hạnh và cầu nguyện. Không chấp nhận kiểu rao giảng khua trống gióng chiêng, Ngài nói:

- Không thể đến với kẻ thù như vậy được. Hãy trang bị bằng kinh nguyện và chân không mà đến với tên khổng lồ Goliath.

Trong sáu năm, cha Đaminh trải qua nhiều sóng gió, ngay khi mới tới, đức cha Diegô và Ngài đã thiết lập một cộng đoàn nữ tu tại Prouille. Bây giờ Ngài chỉ còn là trợ lực duy nhất, một ngày kia trong khi nhiệt tình cầu nguyện, thánh nhân than thở tại sao số người lạc giáo quá nhiều mà trở lại thì quá ít.

Đức Trinh nữ đã hiện ra và dạy Ngài hãy rao giảng phép lần hạt Mân Côi. Vâng lời Mẹ, thánh nhân dồn nỗ lực vào việc truyền bá sự sùng kính kỳ diệu này, thay vì tranh luận như trước, Ngài dạy dân chúng hiểu phương pháp và tinh thần khi lần chuỗi. Ngài dẫn giải cho họ các mầu nhiệm thánh. Kết quả thật lạ lùng. Sau một thời gian ngắn, thánh Đaminh đã được an ủi khi thấy hơn một trăm ngàn người tội lỗi và những kẻ lạc giáo được đưa trở về với Giáo hội.

Hoàn thành sứ mệnh, thánh Đaminh có ý định thành lập một dòng tu làm vườn ươm các tông đồ. Ngài trình bày dự tính với Đức giáo hoàng Innocentê III. Nhưng đức giáo hoàng ngần ngại. Đêm sau Ngài mơ thấy đại giáo đường Lateranô bị rung chuyển và thánh Đaminh đưa vai chống đỡ bức tường cho khỏi sụp đổ. Biết ý Chúa Ngài cho gọi thánh nhân đến và chấp thuận cho lập dòng mới. Đây là dòng giảng thuyết.

Khi còn ở Roma, một đêm kia, trong lúc cầu nguyện, thánh Đaminh thấy Chúa Giêsu giận dữ muốn phóng ba ngọn đuốc xuống thiêu hủy thế gian:

- Loài người lao mình vào nết xấu kiêu căng nhục dục và biển lận, nên Ta muốn hủy diệt chúng bằng 3 ngọn lửa này.

Nhưng Đức Trinh Nữ cản lại:

- Con ơi, hãy thương xót thế gian. Này đây có hai người sẽ làm sống dậy các nhân đức.

Đaminh biết mình là một, nhưng người kia là ai thì chưa rõ. Hôm sau khi đến nhà thờ Ngài gặp một tu sĩ, mặc đồ người ăn xin ngồi ngay cửa. Đó là thánh Phanxicô. Hai người chưa gặp nhau, nhưng đã ôm choàng lấy nhau và gọi tên nhau. Các Ngài hợp nhất với nhau trong công cuộc của Chúa.

Thánh Đaminh đề cao việc học, Ngài gởi các tu sĩ đến các đại học, Ngài truyền:

-Chớ gì các tu sĩ chuyên cần học tập ngày đêm. Lúc ở nhà cũng như khi đi ngoài đường, họ phải không ngừng đọc sách và suy gẫm.

Thánh Đaminh rảo qua khắp nẻo trên đường giảng dạy, một thanh niên ngây ngất hỏi Ngài đã học cách nào, Ngài nói:

-Hỡi con trong sách đức ái đó, sách này hơn mọi sách dạy bảo tất cả.

Một năm trước khi qua đời, các tu sĩ Đaminh đã được sai tới Oxford, Hungaria, Đan Mạch và Hy lạp. Thánh Đaminh qua đời tại Bologna ngày 6 tháng 8 năm 1221.