Dụ Ngôn "hai người con"

 

CHÚA NHẬT XXVI NĂM A

 

Cách đây ít lâu, vào một buổi sáng sau thánh lễ, có vị gia trưởng đến gặp tôi. Qua câu chuyện trao đổi, tôi đọc được những nỗi day dứt trăn trở, những thở dài ngao ngán khi thấy đứa con trai của anh, càng lớn càng tỏ ra bướng bỉnh và không biết vâng lời ông bà cha mẹ.

Cái tâm trạng của người cha gia đình kia, cũng đã từng là cảm nghiệm của Thiên Chúa nơi gia đình nhân loại. Như người cha nọ, tình thương của Thiên Chúa đã từng bị coi thường, chối từ. Dẫu có gặp sự phản bội bất trung, thì Thiên Chúa vẫn ngừng yêu thương con người mà Ngài tạo dựng.

Thật vậy, để tạo dựng con người, Thiên Chúa chỉ dùng một lời quyền năng. Nhưng giờ đây để cứu vớt họ, Thiên Chúa lại chuẩn bị bằng cả một chương trình, một kế hoạch. Nơi dân tộc Israel, Thiên Chúa đã từng bước để thực hiện ý định cứu độ ấy. Ngày từng ngày, Ngài sai đến với họ các tiên tri, để cảnh tỉnh và mời gọi họ trở về: “Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ được sống chứ không phải chết ”.

Để làm sáng tỏ ý định cứu độ, Ngài còn sai Con một từ trời đến, vẫy gọi con người trở về, được minh họa qua câu chuyện của người cha và hai đứa con. Như bất cứ người cha nào, niềm mơ ước của ông nào đâu chỉ đặt vào miếng cơm manh áo cho con cái, mà còn nghĩ đến tương lai, sự nghiệp, và một gia sản để lại cho các con. Người cha trong dụ ngôn hôm nay khi sai các con của mình đi làm vườn nho, ông đã từng bước chuẩn bị cho họ đảm nhận một vinh dự lớn lao là làm chủ, là thừa hưởng một gia tài mà ông đã cả một đời vất vả gầy dựng. Nhưng ngoài những gì ông chờ đợi mong mỏi, người con cả bảo mình sẽ không đi, sau hối hận lại đi làm. Người con thứ, niềm hi vọng còn lại đã mau mắn nói lời xin vâng, nhưng rồi lại mau chóng nuốt lời để bỏ đi và làm theo ý riêng của mình.

Không cần lý giải nhiều, chúng ta cũng hiểu rằng : Người con thứ hai kia chính là dân tộc Do Thái, là những người biệt phái và luật sĩ. Họ đã thấy bao việc lạ lùng của Chúa làm, nghe bao giáo huấn của Chúa dạy, vậy mà họ vẫn giả điếc làm ngơ. Thái độ của họ chỉ vờ vĩnh, qua lần chiếu lệ, nặng hình thức khi giữ những luật lệ Chúa. Họ còn giữ vẻ đạo mạo bên ngoài để che đậy tâm địa xấu xa. Vì vậy, Chúa đã vạch trần thái độ của họ khi nói : “Đâu phải những kẻ kêu lạy Chúa lạy Chúa mà được vào nước trời” !

Trái ngược với họ là đám người bị khinh miệt vì tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm. Quá khứ của họ gắn liền với tai tiếng và xấu xa : thâm lạm, lừa đảo, trộm cắp dâm dật. Như người con cả, họ đã từng thưa không với Chúa. Nhưng sau, họ đã suy nghĩ lại, đã hối hận và trở về. Thái độ thành tâm của họ đã được Chúa đón nhận : “ Ta bảo thật các ngươi, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ngươi”.

Thật là an ủi biết bao khi chúng ta biết rằng, Thiên Chúa luôn tỏ ra khoan dung nhân từ đối với người tội lỗi. Theo lời mời gọi thánh Phaolô, chúng ta hãy cởi bỏ con người cũ của mình, để mặc lấy những tâm tình, cảm nghĩ của chính Đức Kitô, Người Con một yêu dấu của Thiên Chúa Cha, Đấng đã vì yêu mà vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Cách sống và hành động của Ngài, phải giúp chúng ta soi lại thái độ, và mối quan hệ phụ tử giữa chúng ta với Thiên Chúa.

 

* “Ta đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất”. Lời Chúa xưa vẫn còn là một cổ vũ, động viên khi chúng ta biết rằng, đã từng có một Matthêu thu thuế được làm tông đồ, một Maria Madalena được trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Hôm nay, chúng ta có nhìn ra lời mời gọi đầy yêu thương của Chúa, để từ bỏ quá khứ tội lỗi, và những lời thưa không với Chúa bấy lâu nay, để quay về, hối cải, quyết tâm làm theo ý Chúa như người con thứ nhất hôm nay không?

 

* “Không phải những kẻ thưa lạy Chúa lạy Chúa...” Cũng vậy, đâu phải cứ thuộc kinh, đi lễ nhiều, thông thạo về giáo lý mà được vào Nước Chúa. Trái lại, phải sống đạo, đào sâu Lời Chúa, và như Đức Kitô, không ngừng ra sức thực hiện, diễn tả ý muốn của Thiên Chúa qua nỗ lực hoán cải đời sống, thăng tiến bản thân, góp phần xây dựng một thế giới huynh đệ và yêu thương.

 

* “Con ơi hãy đi làm vườn nho cho cha”. Lời Chúa không chỉ giới hạn, thu hẹp nơi đời sống đức tin ở nhà thờ, mà còn được mở rộng trong cuộc sống gia đình, trong mối quan hệ với người chung quanh. Chúng ta có thái độ, suy nghĩ nào khi được mời gọi để cùng cha mẹ, bề trên, anh chị em, góp sức lao động của mình để kiến tạo một cuộc sống đầm ấm, đầy đủ cho gia đình, mở ra một thế giới công bằng yêu thương. Thái độ chọn lựa của chúng ta ra sao, mau mắn vâng lời, tích cực thực hiện, hay càm ràm kêu trách và tìm cách trốn tránh.

 

“Xin chỉ cho con đường đi của Chúa”. Lời thánh vịnh hôm nay đã được Chúa đáp lại, khi sai Con Một Ngài đến dạy chúng ta về đường lối của Ngài. Chính nơi Đức Kitô mà chúng ta có dịp khám phá ra ý định, đường lối nhân hậu, dung thứ của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta noi gương Ngài, từng ngày biết học cách lắng nghe và nhận ra ý Chúa. Nhất là không ngừng ra sức thực hiện, vì đây là con đường duy nhất, dẫn chúng ta đến với hạnh phúc nước trời. Amen.

Dụ ngôn "Thợ làm vườn nho"

 

  CHÚA NHẬT XXV  NĂM. A

                                   

         

“Hay mắt bạn ganh tị vì tôi nhân lành chăng? ”

Dụ ngôn những người thợ vườn nho, mời gọi chúng ta đi sâu vào lòng nhân hậu bao dung của Thiên Chúa, Đấng đưa chúng ta vào làm việc trong vườn nho của Chúa là Giáo Hội, và tham dự vào hạnh phúc Nước Trời.

Xin Chúa cho chúng ta không chỉ biết lo lắng chu toàn bổn phận người Kitô hữu, nhưng còn biết quan tâm và lôi kéo nhiều người được đến làm việc trong vườn nho Nước Trời.

 Cuối năm 1955, tại một bệnh viện, người ta nghe tiếng Cha Don Gnocchi thì thầm với bác sĩ : Khi tôi mất rồi, xin bác sĩ móc đôi mắt tôi để ghép vào cho hai đứa trẻ mù mà tôi nuôi nấng. Sau đó mấy tháng, các bác sĩ đã thành công trong ca cấy ghép. Vị bác sĩ đã gạn hỏi hai cậu bé về mối liên hệ giữa hai em với ngài. Các em đều trả lời : Không hề có liên hệ gì cả. Cảm kích trước gương quảng đại hi sinh ấy, vị bác sĩ kia đã tình nguyện suốt đời được phục vụ cho những người bệnh nhân nghèo khổ và kém may mắn.

Trong thời buổi kinh tế thị trường, mọi sự đều được tính toán, cân đo lời lỗ, thì những việc làm có tính cách vô vị lợi, hoàn toàn vì tình thương, chỉ còn là hàng mẫu được trưng bày trong các tủ kiếng. Bởi con người từ lâu đã đánh mất bản chất của mình vốn được dựng nên bởi tình yêu.

Ay vậy mà Thiên Chúa Tình Yêu ấy vẫn không ngừng đeo đuổi con người, ngay từ trong những bước chân phản bội đầu tiên. Lời gọi mời : Hãy trở về với Thiên Chúa vì Ngài rộng lòng tha thứ đã không ngừng vang lên, vươn rộng đến mọi người, vượt qua mọi biên giới với những suy nghĩ của con người - vì  “như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối của Chúa cũng vượt trên tư tưởng con người như vậy”. Đây cũng là điều mà Đức Kitô đã nhiều lần khẳng định: Ta đến để tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất. Lòng yêu thương ấy đã được diễn tả thật sống động và xúc tích qua dụ ngôn về những người làm vườn nho.

Sẽ không thiếu người cho là hoang tưởng, khi đưa ra hình ảnh một ông chủ thuê người làm lại chẳng để ý gì đến khả năng, tính toán giờ giấc lao động. Dường như ông chủ cũng không nghĩ gì đến lợi nhuận từ lao động, mà chỉ quan tâm lo lắng đến cái nắng nôi, đói khát, lo âu, hồi hộp của những người đang đứng không ngoài chợ.

Và còn ngạc nhiên sửng sốt hơn nữa vì cách làm của ông chủ, khi trả cho mỗi người, từ người đến trước nhất cho đến người sau cùng đều một đồng. Câu trả lời của Chúa trước thắc mắc của người đến trước : “ Hay mắt bạn ganh tị vì tôi nhân lành chăng?” sẽ giúp chúng ta khám phá ra cái nhìn bao dung của Thiên Chúa. Phải chăng chúng ta luôn tưởng tượng Thiên Chúa theo thước đo của ta, và đóng khung Ngài trong những quan niệm chật hẹp, giới hạn về tình yêu của ta. Quả thật, nếu không có quả tim của Chúa, cái nhìn của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng để trách móc cũng như ghen tị với những điều may mắn nơi anh em mình.

Từng là người đến sau, nên thánh Phaolô đã dễ dàng cảm nhận sâu sắc về lòng khoan dung từ ái vô biên của Thiên Chúa. Hôm nay trong thư gửi tín hữu Rôma, ngài phần nào muốn hoạ lại cách sống và lòng nhân hậu của Chúa dành cho anh em khi nói : “Đối với tôi được về với Chúa là một ích lợi. Nhưng nếu vì phần rỗi của anh em, tôi sẵn sàng ở lại để phục vụ”.

Ngày hôm nay, người ta hô hào làm và chủ trương giải quyết mọi việc phải có tình có lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm lâu thì ưu tiên. Tuy nhiên, đối Thiên Chúa, chỉ có một lý do duy nhất để hành động : Đó là vì yêu thương, vì muốn con người được hạnh phúc. Bài học này không chỉ giúp chúng ta khám phá ra lòng nhân hậu của Chúa, nhưng còn mời gọi ta hoán cải để cũng biết sống nhân hậu như Ngài :

-    Nước Trời giống như chủ nhà kia, sáng sớm ra thuê những người làm vườn nho cho mình. Xuyên suốt dòng lịch sử, Thiên Chúa nhân lành lên tiếng gọi con người mà Ngài yêu thương không mệt mỏi : Ngày nào, giờ nào, lứa tuổi nào là tuỳ ý Ngài. Không ai bị bỏ quên, chẳng ai bị gạt ra ngoài quĩ đạo ân sủng. Xác tín này có giúp chúng ta biết dấn thân vào cánh đồng truyền giáo, quan tâm khuyên nhủ cũng như giúp đỡ anh chị em còn xa đường lạc nẻo, được có cơ hội trở về với Chúa không ?

-    Hãy vào và làm vườn nho cho Ta. Từ trong thân phận bị bỏ rơi, nô lệ, tội lỗi, chúng ta được gọi mời để làm việc trong vườn nho Giáo Hội. Chúng ta đã tích cực tìm kiếm nước trời, sống đời thánh thiện hi sinh, hết long thờ phượng Chúa, hay chỉ lo tìm kiếm vinh quang trần thế, quay quắt tìm kiếm miếng cơm manh áo mà sao nhãng đời sống đức tin, và bổn phận người Kitô hữu, nhất là bổn phận truyền giáo không ?

-    Hay mắt bạn ganh tị vì tôi nhân lành chăng? Đường lối và cách thức hành động của Chúa dành cho mỗi người, nhất là người quê mùa, dốt nát, tội lỗi, có làm cho chúng ta bực bội, khó chịu, lẩm bẩm, phân bì, hay giúp ta nhìn ra nẻo đường nhân hậu của Chúa, để biết cư xử với nhau, nhất là với người tội lỗi cách khoan dung nhân hậu như Chúa nêu gương chưa ?

 Hãy trở về với ta thì các ngươi sẽ được tha thứ. Xuyên suốt chiều dài cứu độ, vẫn không ngừng vang lên lời gọi mời : Hãy ăn năn sám hối... của Đức Kitô. Hôm nay chúng ta có nhìn ra lòng yêu thương nhân hậu của Thiên Chúa, để biết dứt mình ra khỏi vũng bùn tội luỵ, những đam mê bất chính, những việc gian tà bất công, để đáng được Chúa yêu thương và cứu vớt không?

Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy vượt qua những định kiến, chủ quan, mở rộng cái nhìn để cảm thông, chia sẻ. Nhất là còn mở rộng lòng mình để hiểu biết yêu thương, quan tâm và giúp đỡ, cũng như đưa mọi người vào biển tình yêu thương của Thiên Chúa.

Ước gì mỗi chúng ta sẽ trở thành lời mời gọi để những anh chị em ngoại giáo, lạc giáo, tội lỗi, trỗi dậy từ vực thẳm tội lỗi đến với Chúa, để họ cũng có được cơ hội làm việc trong vườn nho của Chúa là Nước Trời. Amen.

 

 

 

Câu chuyện 4: GƯƠNG THÁNH PHỤ ĐA MINH

 Câu chuyện 4: GƯƠNG THÁNH PHỤ ĐA MINH

(Trong 16 câu chuyện về thánh Đaminh)

 

 

Ngày nay, các linh mục đều là những nhà giảng thuyết, nhưng cách đây hơn 800 năm, chỉ các bậc giám mục trở lên mới có quyền giảng! Nói như vậy để chúng ta hiểu tại sao dòng Đa Minh được gọi là dòng giảng thuyết, và đặc sủng của dòng Đa Minh quả là một cuộc cách mạng to lớn vào thời đó.

Đa Minh sinh năm 1170 tại Caleruega, thuộc dòng tộc Guzman, nên được gọi là Đa Minh Guzman. Guzman là một dòng tộc vị vọng tại Tây ban nha vào thời trung cổ. Thân phụ ngài là ông Felix, một kiếm sĩ "tuyệt vời và dịu dàng."

 

Bà cố là Joanna d'Aza, xuất thân từ gia đình cao quý. Bà cố đạo đức và được đức giáo hoàng Leo XII tuyên phong chân phước. Bên cạnh Đa Minh, bà cố còn có một người con nữa cũng là chân phước dòng Đa Minh: Mannes. Thực là gia đình đạo hạnh: một thánh, hai chân phước. Cũng nên biết rằng, người anh lớn của Đa Minh, linh mục triều, suốt đời làm việc trong nhà thương giúp đỡ người nghèo.

 

Nhiều dấu lạ xẩy ra khi Đa Minh chào đời. Theo thánh Jordan Saxony, vị ký lục về cuộc đời Đa Minh kể lại, thì khi đang mang thai, bà cố mơ thấy mình cho chào đời một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới. Rồi trong ngày thánh nhân rửa tội, mẹ đỡ đầu trông thấy trên trán chú bé một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Do đó tại sao ngày nay khi tạc tượng thánh Đa Minh, người ta cũng tạc luôn tượng con chó đang ngậm đuốc sáng nằm dưới chân, còn trên trán ngài thì có ngôi sao sáng.

 

Cuộc đời thánh nhân lúc còn nhỏ cũng bình thường như chúng ta. Năm lên bẩy, ngài được gửi đến ở với cậu là linh mục đang coi xứ gần Caleruega. Năm 14 tuổi, chú từ giã gia đình và bố mẹ để lên học tại Palencia, là trường học nổi tiếng nhất tại Tây ban nha lúc bấy giờ.

 

Ngay từ hồi nhỏ, chú đã biết dung hòa việc học hành với đời cầu nguyện và các bổn phận tông đồ. Có những lần chú đã bán các sách học để gíup đỡ người nghèo. Sách vở lúc chưa có nhà in, là những phẩm vật rất quý giá, nhưng người nghèo với chú còn quý giá hơn. Cũng đã hai lần chú muốn bán mình để có tiền chuộc những người bị bắt làm nô lệ. Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy chú sẽ dung hòa đời sống chiêm niệm và hoạt động trong tương lai?

Hết trung học, chú xin đi tu và có lẽ được truyền chức vào năm 1194. Sau đó, cha Đa Minh xin làm kinh sĩ tại nhà thờ chính tòa Osma. Kinh sĩ có bổn phận chuyên lo đọc kinh thay cho toàn giáo phận, nhất là thay cho các linh mục hoạt động. Hội kinh sĩ theo tinh thần tu luật của thánh Augustine, sống đời ẩn thân. Với lòng đạo đức và khôn ngoan, cha Đa Minh trở nên rường cột cho hội. Vì vậy, chỉ 2 năm sau, cha được chỉ định làm bề trên hội kinh sĩ. Đây là một vinh dự lớn lao cho 1 linh mục trẻ. Kinh sĩ Đa minh thường mang trên tay sách phúc âm theo thánh Matthêu, các thư của thánh Phaolô và sách các giáo phụ.



THA THỨ

 

            CHÚA NHẬT XXIV QUANH NĂM. A

 


Cách đây 2 ngày, trong lúc chờ đợi để chữa bệnh, tôi được chứng kiến  cảnh ẩu đả giữa hai người chạy xích lô, ngay trước bệnh viện Chợ Quán. Lý do thật đơn giản chỉ vì sự va quẹt bên ngoài mà họ đã có những lời lẽ và hành động hung hãn, gây ồn ào và mất trật tự cả một khu vực bệnh viện.

Ngày càng có nhiều  những cuộc xung đột mâu thuẫn, không chỉ xảy ra ở nơi phố chợ, mà ngay trong cuộc sống gia đình. Đôi khi từ lý do rất nhỏ mọn : như bể một cái chén, một lời nói vô tình, một sự chậm chạp vụng về... Và cứ thế, người ta đang làm u ám cái bầu trời nhân loại, và hủy hoại cái nôi hạnh phúc gia đình, biến thế giới này trở thành một hoả ngục với những hận thù ghen ghét.

Trong cái thế giới với những cuộc chiến tranh không mùi thuốc súng, đang làm bao người mất hết niềm tin, hi vọng vào cuộc sống. Con Thiên Chúa đã có mặt, không chỉ để phân tích, hoà giải nhưng để kêu gọi con người hãy biết sống yêu thương và tha thứ cho nhau. Bài học ấy, Chúa Giêsu đã nhân dịp Phêrô hỏi Chúa : Phải tha đến mấy lần. Ngài trả lời : Phải tha thứ đến bảy mươi lần bảy, nghĩa là phải tha hoài, tha mãi, tha suốt cuộc đời. Để giúp chúng ta thấy được lý do và tìm được sức mạnh tha thứ, Ngài còn đưa ra dụ ngôn về người mắc nợ ông chủ 100 nén bạc. Anh không có gì trả, nên ông chủ đã tha thứ cho anh tất cả. Vậy mà khi ra ngoài, anh ta lại tìm cách để đánh đập, bỏ tù người anh em chỉ vì đã mắc nợ anh có 100 đồng. Hẳn chúng ta cảm thấy khó chịu và lên án thái độ nhẫn tâm của tên đầy tớ độc ác kia. Nhưng chúng ta có biết đâu rằng, chính chúng ta cũng đã nhiều lần cư xử như vậy với anh em. Bằng chứng sống động là trong luật Môisen, người ta đã cho phép : mắt đền mắt, rằng đền răng và coi đó như là luật công chính của Công giáo.

Đức Kitô đến không hủy bỏ, nhưng để kiện toàn lề luật. Mà luật quan trọng nhất là luật yêu thương, là lòng bao dung tha thứ. Cả cuộc đời Ngài đã sống luật tha thứ này : “Ta không kết án tội chị đâu”. “Lạy Cha xin tha cho chúng...”. Đây chính là căn cước, là chứng minh thư của một người môn đệ Chúa, một người Kitô hữu đích thực : “ Người ta cứ dấu này mà nhận biết...”

Thánh Phaolô trong thư gửi Rôma cũng kêu gọi chúng ta hãy sống yêu thương tha thứ, để được thuộc về Chúa : Nếu chúng ta sống... Dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa.

Kính thưa ông bà anh chị em,

Nếu ngươi biết tha thứ cho anh chị em, thì khi ngươi cầu nguyện, Chúa cũng tha thứ tội của ngươi. Lời Chúa trong bài đọc I phải giúp chúng ta nhìn thẳng vào con người thật của mình, với những lỡ lầm yếu đuối, hầu có thể đáp ứng lại những đòi hỏi phải tha thứ của Tin Mừng.

- Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha mấy lần - bảy lần phải không? Được gần gũi với Chúa, được Chúa dạy bảo, vậy mà Phêrô cũng không dấu diếm sự thật : con người vẫn luôn là bất toàn, là yếu đuối. Ý thức này có giúp chúng ta, một đàng không lên mặt dạy đời, cho mình là hay là giỏi, đàng khác biết mở rộng lòng để cảm thông, để chia sẻ với những sai sót lỡ lầm của người khác không?

- Xin Cha tha nợ... Rất nhiều lần, để nói lời tha thứ, chúng ta cảm thấy thật là khó khăn, nhất là khi người ấy lại là người thân, là người đã được ta nhắc nhiều lần, là người cố ý để hại đến ta, đến gia đình ta. Lời kinh Lạy Cha ta đọc mỗi ngày, có đi vào tâm tư, cuộc sống, biến thành hành động, để ta đáng được Chúa tha thứ vì cũng đã biết tha thứ không?

- Hãy về và đừng phạm tội nữa. Tha thứ không thể đồng nghĩa với nhu nhược, đồng loã, lại càng không phải là lý do để ta tiếp tục sai phạm. Lời Chúa nói với người phụ nữ ngoại tình, phải thôi thúc chúng ta, mỗi khi được tha thứ, cần phải nỗ lực hơn trong việc sửa đổi nên tốt, hầu không còn là một sự bất xứng với Chúa, và một khó chịu đối với anh em.

Yêu thương là chu toàn lề luật. Bao nhiêu người trong suốt cuộc đời đã chu toàn lề luật như : không trộm cắp, gian lận, ngoại tình... nhưng lại không bao giờ chu toàn một cách trọn vẹn vì họ đã không biết yêu thương và không sẵn lòng tha thứ.

Xin Chúa giúp mỗi người chúng con, không chỉ nhìn ra sự thật yêu đuối lỗi lầm của mình, để có cái nhìn rộng rãi hơn đối với lỗi lầm người khác, nhưng còn biết mạnh dạn, can đảm dám tha thứ như Chúa đã làm gương, để chúng con thực sự là những người môn đệ như chính Chúa đã dạy : Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy : là các con hãy yêu thương nhau. Amen.

 

 

 

Bổn Mạng Chị Em và Lễ Giỗ tháng 9