Thánh Tâm Chúa

Thánh Tâm Chúa Giêsu: Nguồn mạch tình yêu cứu độ và Sức mạnh



Tháng 6 hằng năm, phụng vụ dành riêng cho việc kính thờ Thánh tâm Chúa Giêsu. Tấm lòng người Công giáo Việt Nam đối với Thánh Tâm là tâm tình đạo đức nhiệt thành như là cách đáp trả lòng thương xót đặc biệt của Chúa.

Tất cả cốt lõi của đạo Công Giáo gồm tóm trong một quả tim, bởi lẽ “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Trong cuộc khổ nạn, khi: “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19, 34). Hình ảnh Chúa Giêsu trên thập giá với Trái Tim bị đâm thâu là đỉnh cao của Lời tình yêu được tỏ bày. Lễ Thánh Tâm được thiết lập từ những cuộc hiện ra của Chúa Giêsu với thánh nữ Magarita Maria Alacoque, và tỏ cho biết Chúa yêu thương loài người: “Nầy là Trái Tim đã yêu thương loài người đến nỗi không còn tiếc gì với họ”. Vào năm 1899, ĐGH Lêô XIII chính thức lập lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cho toàn thể Giáo Hội.

Tôn thờ Thánh Tâm là nòng cốt của đức tin Công giáo như ĐGH Piô XI và Piô XII đã nói: "Tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu là điểm cốt yếu của đạo chúng ta ". ĐGH Lêo XIII đã dâng hiến toàn thể nhân loại cho Thánh Tâm Chúa. Tình yêu phát xuất từ trái tim Chúa là tình yêu cứu độ và thánh hoá. Nhờ ơn Chúa, trái tim chúng ta được cải đổi. Như thế, từng phút giây, chúng ta được mời gọi : Hãy yêu như đang sống. Hãy sống như đang yêu. Yêu để sự sống tồn tại. Sống để tình yêu có mặt.




 

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA

 LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA



Năm 1263, một linh mục người Đức đang cử hành Thánh Lễ ở nhà thờ Thánh Christiana. Lúc bẻ bánh, linh mục thấy Mình Máu Thánh Chúa biến thành Thịt và Máu thực. Những giọt máu loang ra thấm ướt tấm khăn Thánh trên bàn thờ. Linh mục vội gấp khăn lại, nhưng gấp tới đâu, máu thấm ra tới đó, máu thấm qua 25 lần vải. Ngài tới yết kiến ĐGH Urbanô. ĐGH sai một Giám Mục đến rước Mình Thánh cùng tấm khăn đẫm máu về Tòa Thánh đặt ở nhà thờ chánh tòa cho giáo dân thờ kính. Năm sau, ngày 08-09-1264, Ngài ra sắc dụ lập lễ kính Thánh Thể trong toàn Giáo Hội.

Đã có nhiều phép lạ về Thánh Thể. Có lẽ Chúa Giêsu muốn củng cố niềm tin cho chúng ta vào bí tích này. Ngài muốn cho chúng ta hiểu rõ ý định của Người khi lập phép Thánh Thể. Đó thực là của nuôi rất cần thiết cho linh hồn giống như thức ăn cần cho thân xác. Đó thực là Thịt và Máu của Chúa, mà mắt thường không thể thấy.

Chúng ta tin Chúa Giêsu hiện diện trong  Bí Tích Thánh Thể. Có nhiều nơi, các tín hữu có thói quen thay phiên nhau Chầu Mình Thánh Chúa suốt ngày đêm. Có những người quì lặng cầu nguyện trước Nhà Tạm hằng giờ để kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn suối ủi an và nơi nương tựa. Chính Chúa Giêsu đã phán: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11,28). Nếu chúng ta năng kính viếng và lặng quỳ bên Thánh Thể Chúa. Chúng ta sẽ gặp gỡ một Chúa thật có trái tim biết cảm thông và yêu thương.

Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu mà Chúa Giêsu đã lập để tiếp tục lễ hy sinh trên Thánh giá và để ban Mình Máu Người hiện diện trong hình bánh rượu, làm của nuôi linh hồn. Bí Tích Thánh Thể được cử hành trong thánh lễ. Thánh lễ dâng mỗi ngày tái diễn lại hy lễ xưa trên cây Thánh Giá, mà Chúa Kitô vừa là chủ tế vừa là của lễ tiến dâng lên Thiên Chúa. Thánh lễ quí trọng vô giá. Thánh lễ giao hòa con người với Thiên Chúa. Thánh lễ liên kết mọi người hợp nhất với nhau. Thánh lễ mang lại ơn tha thứ và cứu độ. Mỗi khi cử hành thánh lễ, chúng ta tuyên xưng việc Chúa Giêsu chịu đau khổ, chịu chết và sống lại cùng mong đợi Chúa lại đến trong vinh quang. Vì thế, bí tích Thánh Thể được gọi là trung tâm đời sống Kitô hữu.

Vì vậy, khi tham dự thánh lễ, chúng ta cần tham dự một cách sốt sắng, tích cực; cùng nhau thưa kinh, dâng lời ca tiếng hát, hòa điệu trong mọi nghi thức cử hành và nhất là lắng nghe và áp dụng lời Chúa trong cuộc sống. Có đôi trường hợp, chúng ta đi tham dự thánh lễ như để cho xong bổn phận giữ ngày Chúa Nhật. Đi trễ về sớm. Lo ra chia trí. Nghe tai này ra tai kia. Ước gì mỗi người chúng ta biết dành một chút thời giờ riêng để tâm sự với Chúa và sưởi ấm tâm hồn qua Thánh lễ và viếng Thánh Thể.

 


Chúa Thăng Thiên

 

        LỄ CHÚA THĂNG THIÊN

 


“ Hỡi các người xứ Galilêa, sao các bạn còn đứng nhìn về trời”.

Lời của thiên sứ như muốn nhắc cho các tông đồ về một Mạc Khải quan trọng: Chúa Giêsu vinh thăng lên trời. Đồng thời cũng muốn nói với các ông muốn lên trời không phải đứng nhìn mà hãy bước theo con đường Đức Kitô, con đường hẹp của sự từ bỏ hy sinh, của việc vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.

Xin cho Lời Chúa soi dọi tâm tư, uốn nắn đời sống và khơi lên trong chúng ta về niềm hy vọng một cuộc sống vinh quang với Chúa, để nhờ đã nỗ lực và cố gắng sống đi vào con đường hẹp của Chúa, chúng ta cũng được chia sẻ với Ngài trên nước trời.

Có những sự thật khó tin, nhưng vẫn thường xảy ra. Chẳng hạn việc người chết rồi mà hai mắt vẫn mở. Chỉ khi có một người thân từ xa về, người chết mới chịu nhắm đôi mắt lại. Đôi mắt khép lại để nói lên sự hoàn toàn toại nguyện, không còn gì trăn trở, bức xúc khi phải lìa xa người thân. Điều này phần nào giúp ta hiểu tại sao sau khi phục sinh từ cõi chết, Đức Kitô vẫn còn ở lại với các tông đồ 40 ngày, rồi mới lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa. Phải chăng Ngài còn nhiều điều phải dạy, nhiều tâm sự cần được chia sẻ cùng đoàn môn đệ về Chúa Cha, về Đấng bầu chữa, về việc thiết lập Giáo Hội, và nhất là về sứ mạng cứu thế mà các ông phải tiếp tục sau khi Chúa về trời.

Cuộc chia tay nào cũng để lại nhiều bịn rịn xót xa, thổn thức và luyến nhớ. Vậy mà cuộc ra đi trở về với Chúa Cha của Đức Kitô, lại đang mở ra niềm hy vọng chan chứa, mang theo cái nhìn mới về cuộc tử nạn phục sinh, dệt nên ý nghĩa đời người Kitô, và hướng đến một tương lai tươi sáng dành cho ai trung thành bước đi theo Ngài.

Thật vậy, những gì mà thánh ký Matthêu thuật lại, về cuộc giã từ các tông đồ, không đưa các ông đến với tâm trạng u ám, chán nản. Vì hôm nay, Chúa Giêsu về trời là để được tôn vinh và đã ngự bên hữu Thiên Chúa, mà còn là để cdọn chỗ cho chúng ta để Ngài ở đâu chúng ta sẽ ở đó với Ngài. Mạc Khải này giúp ta nhìn ra hoa trái của công cuộc tử nạn phục sinh nơi Chúa: đau khổ là đường dẫn đến vinh quang; thập giá là nấc thang đem đến triều thiên nước trời. Cùng với lời Mạc Khải còn là lời mời gọi cho một sứ vụ: Hãy làm cho sự hiện diện của Chúa Kitô được mở rộng đến với mọi tâm hồn. Đây cũng chính là việc làm cho quyền lực của Chúa Kitô phục sinh được biểu lộ trong lòng thế giới: “Các con hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy”.

Việc để cho lời Chúa thấm nhập tác động vào quả tim chai đá của nhân loại không phải là việc dễ dàng và nhất thời. Vì để trở thành môn đệ Chúa Kitô, người ta phải thay đổi nếp sống cũ, tẩy rửa khỏi mọi nết xấu, và không ngừng sống theo các lời khuyên phúc âm, là những điều hoàn toàn đi ngược lại với bản tính tự nhiên, với con người yếu đuối. Nhìn ra được điều này nên Ngài đã đưa ra cho các tông đồ một lời hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Qua Đấng bào chữa là Thánh Thần, Ngài đang tiếp tục hiện diện để củng cố niềm tin, tăng cường sức mạnh, giúp ta vượt thắng và đi trọn con đường trần gian về tới thiên quốc.

Giáp mặt với cuộc sống hôm nay, một cuộc sống có quá nhiều những lam lũ, vất vả, cay nghiệt, khiến chúng ta không còn nghị lực để ngước nhìn lên cao, và không sao tránh khỏi những bi quan, chán nản tuyệt vọng. Hôm nay Chúa Giêsu đã về trời. Đây chính là một bảo đảm dành cho những người môn đệ Chúa Kitô, về một cuộc sống, một số phận hạnh phúc với Ngài trên trời. Nhìn ra điều đó để mỗi người biết sẵn sàng chính đốn đời sống, uốn nắn tâm tư, và khắc phục tính ươn hèn để sẵn sàng đi vào con đường hẹp, đường đau khổ, nhưng cũng là đường dẫn đến nước trời.

 -    Trong lúc dạy dỗ các tông đồ, Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc nhở : Đức Kitô phải chịu nhiều đau khổ rồi mới bước vào vinh quang. Chúng ta hôm nay có ý thức qui luật chết đi để được sống, đau khổ đưa đến hạnh phúc, để biết nỗ lực từng ngày chiến đấu với tội lỗi, đẩy lùi sự ác, và sẵn sàng theo Chúa đi vào con đường hẹp của thập giá qua những trách nhiệm bổn phận hằng ngày, cùng kiên trì nhẫn nại sống và tìm kiếm ý Chúa chưa?

-     Quê hương chúng ta ở trên trời. Bài học vỡ lòng mà chúng ta được dạy từ tấm bé, có giúp chúng ta vượt ra khỏi ra khỏi sự tha hoá và cám dỗ trần gian, để không quá bám víu vào trần gian, vào sự giàu sang, địa vị chức quyền, cùng những đam mê trần thế, mà luôn sống hết lòng tận trung thờ phượng kính mến Chúa; nhiệt tình chia sẻ và giúp đỡ tha nhân; luôn chân thật, không giả dối môi mép với anh chị em chung quanh chưa?

-    Chúa về trời nhưng không bỏ chúng ta mô côi. Ngài hứa ban Đấng bầu chữa đến chúng ta và giúp chúng ta sống trọn ơn gọi Tông đồ, loan báo và nhân chứng Tin Mừng. Chúng ta đã biết cộng tác với Chúa Thánh Thần, thắp sáng ngọn lửa chứng nhân, góp phần làm cho sự hiện diện của Chúa Phục Sinh được nhận biết, được đón nhận nơi mọi tâm hồn, mọi môi trường bằng đời sống vui tươi, hòa nhã, hiền lành và thứ tha, khiêm nhu và phục vụ  như chính Ngài đã dạy và nêu gương chưa?

Lạy Chúa, cuộc đời trần gian với quá nhiều những giả dối đảo điên, quá nhiều những thú vui và đam mê hưởng thụ, khiến chúng con lúc nào cũng hoài nghi và không còn nghĩ gì về đời sau, về cuộc sống mai hậu trên trời.

Mừng lễ Chúa Lên Trời, một cơ hội để mỗi chúng con hướng lòng về trời cao, cùng sẵn sàng đi vào nẻo đường Chúa đã đi, con đường hi sinh phục vụ, vâng lời cho đến chết và chết trên Thập giá. Chúng con tin rằng : nhờ đã cố gắng không ngừng dõi theo vết chân của Chúa, từng ngày chấp nhận chết đi cho tội, sống cho anh em, chúng con cũng sẽ đạt đến hạnh phúc là được lên trời với Chúa. Amen.

 

 

 

 

Đấng Bảo Trợ

 

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH



 “Không phải ai kêu : Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào nước trời, nhưng là những kẻ nghe và  giữ lời Chúa”. Con đường đến với Cha, đến với hạnh phúc là con đường của tình yêu, của việc lắng nghe và thực hành Lời Thiên Chúa.

Mẫu gương tự hiến của Chúa trên thập giá, được tái hiện trong Thánh lễ hôm nay, chính là lời mời gọi cho mỗi người môn đệ Chúa Kitô, để đáp trả lại tình yêu của Đấng đã yêu ta và kêu gọi ta chia sẻ hạnh phúc vinh quang với Ngài, qua việc lắng nghe và thực hành theo thánh ý Chúa.

Nhiều nhà chú giải Kinh Thánh vẫn cho rằng, để bù lại 3 lần chối Thầy nơi dinh thượng tế Caipha, Phêrô cũng 3 lần tuyên chứng niềm tin vào Chúa sau khi được Ngài hiện ra bên bờ biển Tibêria. Bên cạnh tấm lưới con thuyền, Chúa đã lên tiếng hỏi Phêrô : Phêrô con có yêu mến Thầy không? Cả 3 lần ông khẳng định : Thưa Thầy có. Và ông còn qủa quyết thêm : Thầy biết con yêu mến Thầy.

Sau những lời xác quyết ấy, là những lần biểu lộ lòng yêu mến, gắn bó cùng Thầy : Lúc mệt nhọc để đi rao giảng Tin Mừng ; khi nhân danh Thầy chữa bệnh và trừ quỉ. Tuy nhiên, có lẽ điều làm chứng cho lòng yêu mến của Phêrô là khi ông đứng trước công nghị của người Do Thái. Cùng với những đe dọa, còn là những roi vọt, tù đày. Thế mà, dầu tuổi già bị đoạ đày bởi những sỉ nhục, ngắn cấm, đòn vọt, Phêrô vẫn không sờn lòng tin yêu vào thầy, khi dõng dạc nói với các kỳ mục Do Thái rằng : “ Xin các ông xét cho, trước mặt Thiên Chúa, vâng lời các ông hay vâng lời Thiên Chúa, đằng nào chính đáng hơn”.

Thế là đã rõ! Không một mảy may nghi ngờ về lòng yêu mến của Phêrô, một lòng yêu mến được cụ thể hoá một cách sống động, rõ nét qua việc vâng giữ lời Thiên Chúa. Điều này một lần nữa làm chứng cho chân lý mà Chúa Giêsu hôm nay đang ngỏ với chúng ta: “Ai yêu mến Ta thì tuân giữ Lời Ta”.

Chân lý này thực ra chẳng có gì là mới mẻ , nhất là với những ai đã một lần yêu thương hay được yêu thương. Khi yêu ai, ta dễ có khả năng từ bỏ quan điểm riêng của mình, để sống phù hợp tối đa với ý muốn và ước vọng của họ. Kẻ yêu mến tự biến đổi trong ánh mắt kẻ họ yêu thương. Một thứ cộng sinh tương hỗ được hình thành : Ước vọng của bạn cũng là ước vọng của tôi ; ý muốn của bạn cũng là điều tôi ước muốn ; tư tưởng của bạn trở thành suy nghĩ của tôi. Hai đời sống đã chỉ còn là một.

Đây không chỉ là ý thuyết, nhưng là kinh nghiệm, được rút ra từ chính cuộc đời Đức Kitô. Thật vậy chính qua Đức Kitô, chúng ta học biết đâu là một tình yêu chân chính, trọn vẹn, hoàn hảo. Là Ngôi Lời Thiên Chúa, nhưng để tỏ lòng yêu mến Chúa Cha, và nhân loại, Ngài đã chấp nhận đi vào chương trình của Chúa Cha qua con đường nhập thể : Này Con xin đến để thi hành ý Cha. Và ý Cha là muốn Chúa Giêsu tự hiến trên Thập giá. Đây không chỉ là một ý định nhưng là một cuộc vượt qua mà đức Kitô phải thực hiện, dẫu mang nhiều dáng dấp của đau khổ nà nghiệt ngã: “Lạy cha nếu có thể xin cất chén đắng khỏi con nhưng đừng theo ý con, một theo ý Cha”. Chỉ khi vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá, Chúa Giêsu mới mãn nguyện mà  thưa lên cùng Cha : “Lạy cha mọi sự đã hoàn tất”.

“ Nếu chúng con yêu mến Thầy chúng con hãy tuân giữ Lời Thầy. Thầy sẽ xin với Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng phù trợ”. Hôm nay, khi mời gọi chúng ta hãy thể hiện tình yêu mến Chúa bằng việc làm vâng giữ Lời Thiên Chúa, Ngài cũng biết rằng với phận hèn sức yếu, chúng ta khó có thể làm trọn và giữ hết điều Chúa dạy. Vì vậy, Ngài trao ban thần khí sức mạnh đến với chúng ta như là một trợ lực cần thiết, để không chỉ biến lý thuyết thành việc làm, mà còn làm cho những việc tuân giữ Lời Chúa đi đến chỗ kiện toàn và viên mãn.

“ Tình yêu Đức Kitô thúc đẩy tôi”. Dòng suối tình yêu đã cuốn hút thánh Phaolô từ con suối nhỏ cuộc đời hoà nhập vào tình yêu biển khơi là Thiên Chúa. Hôm nay, tình yêu ấy cũng đang vẫy gọi tôi, gọi ông bà anh chị em, những người môn đệ của Đức Kitô. Chúng ta có sẵn sàng để mở rộng lòng mình, đáp lại tiếng vọng yêu thương của Đấng đã chết vì chúng ta chưa :

-    24 tuổi xuân với 9 năm giam mình trong Dòng Kín Lisieux, nữ tu Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã hoạ lại con đường tình yêu một cách trọn vẹn và hoàn hảo, qua nỗ lực cố gắng để dệt tiếng đàn của mình theo cung lòng của bạn tình Giêsu. Còn tình yêu của tôi với Chúa hôm nay thế nào : có phải một tình yêu còn nhiều so đo, còn lắm tính toán, ích kỷ: mau mắn  đi theo Chúa, giữ lề luật Chúa khi có lợi, lúc gặp may và sẵn sàng từ chối thao lui, trốn chạy khi gặp thử thách, bệnh tật, tai nạn, thiếu thốn không ?

-    Không ai có thể tách tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô. Lời của thánh Phaolô quả là một thách đố với chúng ta. Với Ngài, cuộc sống sau khi trở lại là quyết tâm để loan báo tình yêu của Chúa cho anh em lương dân, là đem mọi người trở về cùng Chúa. Còn tôi, tôi có nhìn ra hoài bão cứu thế của Chúa , để không ngừng loan báo và làm chứng nhân cho tình yêu Chúa, bằng một nếp sống đức tin sâu sắc, bằng những dấn thân sống cho lý tưởng công bằng bác ái, và nỗ lực để giúp anh em vượt qua vũng cạn của nghèo đói, bệnh tật bất hạnh chưa?

-    Ai yêu Ta giữ Lời Ta. Lời Chúa vẫn đang lên tiếng qua Kinh Thánh, qua biến cố, qua tiếng lương tâm và rõ rệt hơn là qua Giáo Hội. Chúng ta có mau mắn nhìn ra để lắng nghe, đón nhận, cộng tác và góp phần làm cho ý Chúa qua các bề trên, được thực hiện và kiện toàn, hay chúng ta đã khéo léo từ chối, bỏ ngoài tai , và tệ hại hơn là phê bình, chỉ trích, tìm cách cản trở và gây khó khăn không?

Lạy Thầy, Thầy biết chúng con yêu mến thầy. Phêrô đã minh chứng tình yêu dành cho Chúa bằng chính việc trung thành thực hiện ý Chúa  giữa những đau thương , thử thách và nhất là cái chết tử đạo của mình. Còn chúng ta, liệu chúng ta có dám trả lời với Chúa như Phêrô xưa không? Điều này tuỳ thuộc cách sống của chúng ta, biểu hiện qua việc có vâng nghe và trung thành giữ Lời Chúa hay không ? Amen.

Chút Tâm tình Tháng Hoa

Đức Mẹ đã đưa tôi vào đạo

 


“Tôi là người con gái kế út trong gia đình 9 anh chị em. Tôi không rõ ba tôi có là tín đồ Phật giáo không, nhưng ba tôi thích phóng sinh các con vật như chim, cá, rùa mỗi năm vài lần. Mỗi lần rất nhiều và tổ chức long trọng lắm. Ba tôi rất thương vợ con, và rất ghét những gì gian dối, đặc biệt là ba tôi luôn sẵn lòng giúp đỡ những người kém may mắn. Má tôi thì hết lòng xây dựng gia đình, hết lòng thương con cái. Tôi chưa hề thấy má tôi lớn tiếng la mắng con cái, nhưng luôn kiên nhẫn dùng lời phân tách giảng giải cho các con. Má tôi thật là tín đồ sùng bái Phật giáo và rất thương người.

Trong khi đó, nhìn ra lối xóm, thấy có nhiều người dữ dằn, nhiều người đàn bà lúc nào cũng sẵn sàng tuôn ra những lời chửi bới nguyền rủa con cái hay người khác cách độc ác, trong những người này, có nhiều người theo đạo Thiên Chúa (Công giáo). Lớn lên, khi tôi đi học, tôi cũng gặp nhiều người bạn Công giáo, những người này thường hay khinh miệt các tôn giáo khác, mà bản thân họ chỉ thấy cuồng tín, ích kỷ, chứ không có gì nói lên rằng đạo Công giáo là hay là tốt. Do đó, đầu óc tôi mamg những ý tưởng e dè mấy người Công giáo, cho tới khi trưởng thành tôi vẫn luôn nghĩ là sẽ KHÔNG BAO GIỜ theo đạo Công giáo.

Khi tôi quen chồng tôi, tôi không biết anh là người miền Bắc và Công giáo, vì anh nói giọng Nam. Anh lôi cuốn tôi, vì tôi thấy anh biết quan tâm tới cha mẹ và các em của anh, nên tôi nghĩ rằng anh có thể là người chồng tốt. Tới khi biết anh là người Bắc và Công giáo tôi rất phân vân. Tôi viết thư hỏi ý kiến ba má tôi. Ba má tôi để tôi tự do, và có lần khuyên tôi nên theo Công giáo cho đồng vợ đồng chồng. Chồng tương lai tôi cũng thuyết phục nhiều lần, dầu vậy, tôi quyết không theo Công giáo. Làm sao tôi quên được những ám ảnh từ hồi còn nhỏ về những người Công giáo kia. Sau cùng ảnh nhượng bộ: Đạo ai nấy giữ, nhưng với vài điều kiện tôi phải chấp nhận theo giáo luật như cho con rửa tội, và dạy con theo tinh thần đạo, không được cố tình ngăn cản anh theo đạo anh…Tôi thấy mỗi bên nhượng nhau một chút cũng là phải, nên tôi chấp nhận. Trong thời gian này, tôi theo học khóa dự bị hôn nhân. Tôi quen biết và kính trọng các linh mục, nhất là cha bác của chồng tôi. Tôi được làm lễ Gia Tiên, làm hôn phối trong nhà thờ, được các cha quan tâm, mến chuộng cách sống của chồng tôi, nhưng tôi vẫn không đổi ý, nhất quyết không theo Công giáo. Điều này làm phật ý bố mẹ chồng tôi, là những người Công giáo gốc, tôi biết những tiếng xì xèo, bóng gió, nhưng tôi cứ nín thinh, cho tới khi sinh đứa con thứ hai, thì sự cay đắng với cha mẹ chồng đã vượt quá sức chịu đựng của tôi. Tôi nảy mầm thù ghét đạo Công giáo. Thời gian này tôi được hung tin từ VN: Má tôi vĩnh viễn ra đi. Nghe tin ấy, tôi đau buồn tới ngã quị. Người mẹ mà tôi sùng bái như mẫu gương hy sinh đã không còn nữa. Người mẹ mà từ ngày rời gia đình tôi vẫn mang theo trong lòng để có sức phấn đấu nơi quê người. Suốt mấy tháng, tôi sống thẫn thờ, tâm hồn tan nát, nước mắt tuôn tràn. Vào lúc tôi ở trong tận đáy của đau buồn thì Đức Mẹ đã soi dẫn tôi.

Nếu tôi nhớ không lầm thì sau khi điều đình với chồng tôi, và chúng tôi bàn nhau, dù tôi không rõ đón tượng Đức Mẹ để làm gì, nhưng chiều ý chồng tôi, tôi bằng lòng chuyện ấy. Chiều ngày 22/7/1995, bác Phổ đưa tượng Đức Mẹ đến nhà tôi, có thêm vài gia đình trong Khu xóm đến đọc kinh. Tôi không dự. Tượng Đức Mẹ ở lại nhà tôi một tuần. Tối nào chồng tôi cũng bế con, thắp nến cầu nguyện cách rất sùng kính trước tượng này. Tôi để mặc, không nghĩ gì.

Rồi hôm thứ Tư tuần đó, vào buổi trưa, sau khi đã dỗ cho 2 đứa bé ngủ, tôi ngồi một mình ở ghế sôpha nhìn lên tượng Mẹ, tâm hồn tôi trống vắng, nhìn mà không có chút ý tưởng nào hết. Đột nhiên, tôi như thiếp đi, không thấy gì nữa. Tôi nghe như có tiếng phụ nữ đang êm ái kể ra cho tôi ngững nguy nan tôi đã trải qua, và chỉ cho tôi biết Thiên Chúa đã quan phòng sắp xếp để che chở tôi. Tôi hỏi lại là Thiên Chúa biết việc tôi sao? Giọng người nữ đoan chắc điều đó. Rồi Người an ủi tôi, cho biết là mọi thử thách đã qua, còn khen tôi đã sống đẹp lòng Chúa…Tới đây tôi bừng tỉnh, tôi thấy mặt Đức Mẹ đẹp rạng ngời, ánh mắt tha thiết yêu thương như bao dung khích lệ. Tôi nhận ra ngay là vừa rồi chính Mẹ đã nói chuyện với tôi. Hồn tôi bừng tỉnh nhận ra là Người đã sinh ra tôi, tôi còn có người Mẹ thánh thiêng. Nước mắt tôi tuôn trào. Tôi đã khóc vì vui sướng, mà không thể diễn tả vui sướng chừng nào.

Tôi đã sốt sắng ghi tên vào lớp Dự tòng. Nay tôi đã tin. Tôi nhiệt thành học hỏi đạo Chúa. Thời gian thấm thoát, sau 6 tháng đã tới ngày vui: Ngày lễ mừng Chúa Phục sinh năm 1996, tôi đã được nhận Phép Rửa, chính thức gia nhập đạo Công giáo. Tôi tạ ơn Đức mẹ, cảm ơn các linh mục, và những ai đã giúp tôi nhập đạo Chúa. Tôi hãnh diện là người Công giáo. Nhớ lại câu chuyện “Vết chân trên cát”, rõ ràng là Chúa đã đi bên tôi những ngày đau khổ. Chúa đã không chấp tội tôi mưu nghịch lại đạo Chúa.

Bây giờ tôi say mê đạo lắm, thích đi lễ để nghe giảng dạy. Tôi rất yêu đời, yêu mái ấm gia đình nhỏ bé đang được Chúa che chở. Bây giờ tôi nhìn những người không sống đạo tử tế, tôi thấy tội nghiệp cho họ, mà không thấy khinh ghét như xưa.

(Truyện của chị Ngô T. Ngọc Sương, Fort Worth, Texas)