Câu chuyện 4: GƯƠNG THÁNH PHỤ ĐA MINH

 Câu chuyện 4: GƯƠNG THÁNH PHỤ ĐA MINH

(Trong 16 câu chuyện về thánh Đaminh)

 

 

Ngày nay, các linh mục đều là những nhà giảng thuyết, nhưng cách đây hơn 800 năm, chỉ các bậc giám mục trở lên mới có quyền giảng! Nói như vậy để chúng ta hiểu tại sao dòng Đa Minh được gọi là dòng giảng thuyết, và đặc sủng của dòng Đa Minh quả là một cuộc cách mạng to lớn vào thời đó.

Đa Minh sinh năm 1170 tại Caleruega, thuộc dòng tộc Guzman, nên được gọi là Đa Minh Guzman. Guzman là một dòng tộc vị vọng tại Tây ban nha vào thời trung cổ. Thân phụ ngài là ông Felix, một kiếm sĩ "tuyệt vời và dịu dàng."

 

Bà cố là Joanna d'Aza, xuất thân từ gia đình cao quý. Bà cố đạo đức và được đức giáo hoàng Leo XII tuyên phong chân phước. Bên cạnh Đa Minh, bà cố còn có một người con nữa cũng là chân phước dòng Đa Minh: Mannes. Thực là gia đình đạo hạnh: một thánh, hai chân phước. Cũng nên biết rằng, người anh lớn của Đa Minh, linh mục triều, suốt đời làm việc trong nhà thương giúp đỡ người nghèo.

 

Nhiều dấu lạ xẩy ra khi Đa Minh chào đời. Theo thánh Jordan Saxony, vị ký lục về cuộc đời Đa Minh kể lại, thì khi đang mang thai, bà cố mơ thấy mình cho chào đời một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới. Rồi trong ngày thánh nhân rửa tội, mẹ đỡ đầu trông thấy trên trán chú bé một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Do đó tại sao ngày nay khi tạc tượng thánh Đa Minh, người ta cũng tạc luôn tượng con chó đang ngậm đuốc sáng nằm dưới chân, còn trên trán ngài thì có ngôi sao sáng.

 

Cuộc đời thánh nhân lúc còn nhỏ cũng bình thường như chúng ta. Năm lên bẩy, ngài được gửi đến ở với cậu là linh mục đang coi xứ gần Caleruega. Năm 14 tuổi, chú từ giã gia đình và bố mẹ để lên học tại Palencia, là trường học nổi tiếng nhất tại Tây ban nha lúc bấy giờ.

 

Ngay từ hồi nhỏ, chú đã biết dung hòa việc học hành với đời cầu nguyện và các bổn phận tông đồ. Có những lần chú đã bán các sách học để gíup đỡ người nghèo. Sách vở lúc chưa có nhà in, là những phẩm vật rất quý giá, nhưng người nghèo với chú còn quý giá hơn. Cũng đã hai lần chú muốn bán mình để có tiền chuộc những người bị bắt làm nô lệ. Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy chú sẽ dung hòa đời sống chiêm niệm và hoạt động trong tương lai?

Hết trung học, chú xin đi tu và có lẽ được truyền chức vào năm 1194. Sau đó, cha Đa Minh xin làm kinh sĩ tại nhà thờ chính tòa Osma. Kinh sĩ có bổn phận chuyên lo đọc kinh thay cho toàn giáo phận, nhất là thay cho các linh mục hoạt động. Hội kinh sĩ theo tinh thần tu luật của thánh Augustine, sống đời ẩn thân. Với lòng đạo đức và khôn ngoan, cha Đa Minh trở nên rường cột cho hội. Vì vậy, chỉ 2 năm sau, cha được chỉ định làm bề trên hội kinh sĩ. Đây là một vinh dự lớn lao cho 1 linh mục trẻ. Kinh sĩ Đa minh thường mang trên tay sách phúc âm theo thánh Matthêu, các thư của thánh Phaolô và sách các giáo phụ.



THA THỨ

 

            CHÚA NHẬT XXIV QUANH NĂM. A

 


Cách đây 2 ngày, trong lúc chờ đợi để chữa bệnh, tôi được chứng kiến  cảnh ẩu đả giữa hai người chạy xích lô, ngay trước bệnh viện Chợ Quán. Lý do thật đơn giản chỉ vì sự va quẹt bên ngoài mà họ đã có những lời lẽ và hành động hung hãn, gây ồn ào và mất trật tự cả một khu vực bệnh viện.

Ngày càng có nhiều  những cuộc xung đột mâu thuẫn, không chỉ xảy ra ở nơi phố chợ, mà ngay trong cuộc sống gia đình. Đôi khi từ lý do rất nhỏ mọn : như bể một cái chén, một lời nói vô tình, một sự chậm chạp vụng về... Và cứ thế, người ta đang làm u ám cái bầu trời nhân loại, và hủy hoại cái nôi hạnh phúc gia đình, biến thế giới này trở thành một hoả ngục với những hận thù ghen ghét.

Trong cái thế giới với những cuộc chiến tranh không mùi thuốc súng, đang làm bao người mất hết niềm tin, hi vọng vào cuộc sống. Con Thiên Chúa đã có mặt, không chỉ để phân tích, hoà giải nhưng để kêu gọi con người hãy biết sống yêu thương và tha thứ cho nhau. Bài học ấy, Chúa Giêsu đã nhân dịp Phêrô hỏi Chúa : Phải tha đến mấy lần. Ngài trả lời : Phải tha thứ đến bảy mươi lần bảy, nghĩa là phải tha hoài, tha mãi, tha suốt cuộc đời. Để giúp chúng ta thấy được lý do và tìm được sức mạnh tha thứ, Ngài còn đưa ra dụ ngôn về người mắc nợ ông chủ 100 nén bạc. Anh không có gì trả, nên ông chủ đã tha thứ cho anh tất cả. Vậy mà khi ra ngoài, anh ta lại tìm cách để đánh đập, bỏ tù người anh em chỉ vì đã mắc nợ anh có 100 đồng. Hẳn chúng ta cảm thấy khó chịu và lên án thái độ nhẫn tâm của tên đầy tớ độc ác kia. Nhưng chúng ta có biết đâu rằng, chính chúng ta cũng đã nhiều lần cư xử như vậy với anh em. Bằng chứng sống động là trong luật Môisen, người ta đã cho phép : mắt đền mắt, rằng đền răng và coi đó như là luật công chính của Công giáo.

Đức Kitô đến không hủy bỏ, nhưng để kiện toàn lề luật. Mà luật quan trọng nhất là luật yêu thương, là lòng bao dung tha thứ. Cả cuộc đời Ngài đã sống luật tha thứ này : “Ta không kết án tội chị đâu”. “Lạy Cha xin tha cho chúng...”. Đây chính là căn cước, là chứng minh thư của một người môn đệ Chúa, một người Kitô hữu đích thực : “ Người ta cứ dấu này mà nhận biết...”

Thánh Phaolô trong thư gửi Rôma cũng kêu gọi chúng ta hãy sống yêu thương tha thứ, để được thuộc về Chúa : Nếu chúng ta sống... Dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa.

Kính thưa ông bà anh chị em,

Nếu ngươi biết tha thứ cho anh chị em, thì khi ngươi cầu nguyện, Chúa cũng tha thứ tội của ngươi. Lời Chúa trong bài đọc I phải giúp chúng ta nhìn thẳng vào con người thật của mình, với những lỡ lầm yếu đuối, hầu có thể đáp ứng lại những đòi hỏi phải tha thứ của Tin Mừng.

- Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha mấy lần - bảy lần phải không? Được gần gũi với Chúa, được Chúa dạy bảo, vậy mà Phêrô cũng không dấu diếm sự thật : con người vẫn luôn là bất toàn, là yếu đuối. Ý thức này có giúp chúng ta, một đàng không lên mặt dạy đời, cho mình là hay là giỏi, đàng khác biết mở rộng lòng để cảm thông, để chia sẻ với những sai sót lỡ lầm của người khác không?

- Xin Cha tha nợ... Rất nhiều lần, để nói lời tha thứ, chúng ta cảm thấy thật là khó khăn, nhất là khi người ấy lại là người thân, là người đã được ta nhắc nhiều lần, là người cố ý để hại đến ta, đến gia đình ta. Lời kinh Lạy Cha ta đọc mỗi ngày, có đi vào tâm tư, cuộc sống, biến thành hành động, để ta đáng được Chúa tha thứ vì cũng đã biết tha thứ không?

- Hãy về và đừng phạm tội nữa. Tha thứ không thể đồng nghĩa với nhu nhược, đồng loã, lại càng không phải là lý do để ta tiếp tục sai phạm. Lời Chúa nói với người phụ nữ ngoại tình, phải thôi thúc chúng ta, mỗi khi được tha thứ, cần phải nỗ lực hơn trong việc sửa đổi nên tốt, hầu không còn là một sự bất xứng với Chúa, và một khó chịu đối với anh em.

Yêu thương là chu toàn lề luật. Bao nhiêu người trong suốt cuộc đời đã chu toàn lề luật như : không trộm cắp, gian lận, ngoại tình... nhưng lại không bao giờ chu toàn một cách trọn vẹn vì họ đã không biết yêu thương và không sẵn lòng tha thứ.

Xin Chúa giúp mỗi người chúng con, không chỉ nhìn ra sự thật yêu đuối lỗi lầm của mình, để có cái nhìn rộng rãi hơn đối với lỗi lầm người khác, nhưng còn biết mạnh dạn, can đảm dám tha thứ như Chúa đã làm gương, để chúng con thực sự là những người môn đệ như chính Chúa đã dạy : Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy : là các con hãy yêu thương nhau. Amen.

 

 

 

Bổn Mạng Chị Em và Lễ Giỗ tháng 9




 

"BÁC ÁI- SỬA LỖI"

 

               CHÚA NHẬT XXIII QUANH NĂM.A

  


Báo Công an thành phố số ra ngày 4 tháng 9 năm 1996 có kể lại : Tại Toulon nước Pháp, một thiếu niên 16 tuổi đã giết cha mình vì tội : Đã dám tịch thu cái trò chơi máy tính của hắn. Chàng thiếu niên đã đâm người cha ở hông và ngực bằng kéo, sau khi người cha có việc làm trên. Sở dĩ người cha cấm tên sát nhân chơi máy vi tính vì kết qủa học tập của hắn quá sa sút. Một kết cục đau thương, một bi kịch ngay trong cuộc sống gia đình. Thêm một bằng chứng nữa trong danh sách khá dài về tội phạm nơi xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên ngày nay.

Thực ra, tội lỗi đã có mặt ngay từ khi con người quay lưng, phản bội cùng Thiên Chúa nơi vườn địa đàng. Nó ăn sâu thấm nhiễm và trở thành bản năng thứ hai của con người. Nó có mặt khắp mọi nơi, gây tác hại và gieo rắc bao đau thương đối với nhân loại. Thánh Phaolô trong thư Rôma cũng đã khẳng định với chúng ta điều đó : “Vì tội của một người mà tội lỗi đã đột nhập vào thế gian, và bởi tội thì có sự chết”.

Bài học đau thương ấy, Israel cũng đã từng vấp phải. Và vì vậy, để cứu vớt Israel Thiên Chúa đã sai đến với họ vị tiên tri của Chúa là Giêrêmia : Ngươi hãy loan báo cho chúng thay Ta. Khi Ta phán cùng kẻ gian ác rằng : “Hỡi kẻ gian ác, mi sẽ phải chết - nếu ngươi không chịu nói - để kẻ gian ác bỏ đường lối mình, thì chính kẻ gian ác sẽ chết  bởi đường lối mình”

Tuy nhiên, con người ngày càng lao vào con đường gian ác, càng tiến dần đến hố sâu của tuyệt vọng, của sự chết. Vì thế, Thiên Chúa đã phải sai Con Một của Ngài xuống thế để kêu gọi con người trở lại cùng Thiên Chúa : “Ta đến để tìm kiếm...” Cuộc tìm kiếm ấy được khởi đi từ Đức Kitô, và được tiếp tục trong Giáo Hội, nơi các phần thân thể của Ngài là mỗi Kitô hữu. Công cuộc này lớn lao và hệ trọng vì nó liên quan đến sự sống của mình và tha nhân. Vì thế chính Ngài đã dạy ta cách thức khi thực hiện sứ mạng hoà bình và yêu thương này : Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó, riêng ngươi và nó thôi. Một cách mặc nhiên, Chúa cho chúng ta thấy, không ai có quyền đứng ngoài qũy đạo cứu độ của Chúa. Họ phải liên đới và có trách nhiệm trên phần rỗi của người khác, đặc biệt là cộng đoàn Giáo Hội. Cộng đoàn ấy không phải là tập hợp của những tiếng nói, nhưng là tiếng nói duy nhất của Giáo Hội, mà vị chủ chăn là đại diện : Những gì các con cầm buộc...

Trong thực tế, không thiếu trường hợp, kẻ gian ác cố tình từ chối mọi lời kêu gọi của anh em, của Giáo Hội. Ngay cả trong trường hợp ấy, Thiên Chúa vẫn mở ra một lối ngõ cho họ trở về, khi kêu gọi mỗi người rằng : Nếu có hai ba người họp nhau lại nhân danh Ta cầu xin... Nhờ lời cầu nguyện,  hiệp nhất của cộng đoàn, ơn Chúa sẽ có thể lôi cuốn, dẫn đưa người anh em tội lỗi trở lại cùng Chúa.

Từng là người đã được ơn Chúa kêu gọi trở lại, hơn ai hết, thánh Phaolô cảm nhận được ơn Chúa để hôm nay, Ngài mời gọi và khuyên nhủ chúng ta : “Anh em thân mến, anh em chớ mắc nợ ai, ngoài việc phải yêu mến nhau. Lòng yêu thương không làm hại người khác. Vậy yêu thương là chu toàn lề luật”.

Ngày càng có nhiều người chủ trương : Đèn nhà ai, người ấy sáng. Quan niệm này còn được tiếp sức bởi quan niệm : Tôi nào đã tốt gì hơn ai. Vả lại, dễ gì mà người ta lại chịu để người khác nói về những sai sót của mình. Lời Chúa hôm nay đòi buộc chúng ta phải dấn thân, nhập cuộc và thấy được sứ mạng của mình trong việc sửa lỗi anh em :

- Hỡi kẻ gian ác, mi sẽ phải chết. Tội lỗi đâu chỉ đem đến dằn vặt xâu xé, bất an cho bản thân, nó còn rắc gieo biết bao tai hoạ và bất hạnh cho người khác, và nhất là còn đưa đến cái chết đời đời. Ý thức điều đó có giúp ta hằng ngày không ngừng nỗ lực cố gắng để không gây gương mù gương xấu, và hơn thế nữa ngăn ngừa gương xấu như bài bạc, say sưa, trộm cắp, gian lận, lừa gạt mánh mung, vợ nọ con kia không?

- Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó. Không ai nên thánh một mình. Xác tín này có giúp chúng ta vượt lên trên những mặc cảm, lối sống vị kỷ, cá nhân để biết quan tâm đến người khác, và nhất là từng bước khéo léo, nhẹ nhàng khuyên nhủ, khích lệ, khơi lên niềm tin tưởng, hy vọng, và giúp đưa những người lỗi lầm thiếu sót được ăn năn hối cải trở về không?

- Ở đâu có hai ba người họp nhau cầu nguyện thì Ta ở giữa họ. Lời Chúa cho chúng ta thấy sức mạnh vô biên của lòng xót thương nơi Thiên Chúa, nhất là đối với người tội lỗi. Xác tín này có tạo điều kiện để chúng ta kiên trì, nhẫn nại và hiệp thông với nhau, mỗi khi cầu nguyện cho người thân, gia đình, cho người chung quanh và cho những người tội lỗi trở về với Chúa không?

“Hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Người, các ngươi đừng cứng lòng”. Lời đáp ca trong Thánh Vịnh 94 chính là lời giục giã gọi mời cho từng người chúng ta, bởi mỗi chúng ta đều mang trên mình biết bao yếu đuối tội lỗi.

Xin Chúa giúp chúng ta, đủ khiêm tốn để nhận ra tội mình, cũng như đủ nhẫn nại, yêu thương để ôm ấp, bao bọc và giúp đỡ những kẻ yếu đuối, tội lỗi, để họ được ơn trở lại cùng Chúa, sống đời thánh thiện công chính, như chính Chúa hằng thao thức chờ đợi hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Amen.

 

 

 

 

NGƯỜI NỮ TU ĐA MINH ANASTAIE TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ KHÔN NGOAN

 

ĐỀ TÀI: NGƯỜI NỮ TU ĐA MINH ANASTAIE TRUYỀN GIÁO

VỚI SỰ KHÔN NGOAN



Dẫn nhập: Có những điều chúng ta nghe và nói nhiều lần nhưng không hiểu chính xác điều ấy là gì. Truyền giáo là một trong những điều như thế. Thật vậy nhiều lúc chúng ta không khỏi lúng túng khi phải giải thích thế nào là Truyền giáo. Vậy Truyền Giáo là gì?

  KHÁI NIỆM:

+ Truyền giáo là tiếp tục kế hoạch của Thiên Chúa: 

- Chúa phán: “Các con hãy đi dạy dỗ muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, hãy dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).   

+ Truyền giáo là loan truyền tình thương của Thiên Chúa đến với con người.

+ Truyền giáo là chia sẻ quà tặng là chính Đức Giêsu Kitô mà Giáo Hội nhận được.

=>Vậy Truyền Giáo là:  Truyền giáo thường được hiểu là giới thiệu Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa, và đưa họ vào Hội Thánh Chúa qua việc dạy giáo lý, cử hành các Bí Tích nhập Đạo, và gia nhập cộng đoàn. 

Vì vậy truyền giáo là bổn phận và cũng là niềm vui của mỗi Kitô hữu nói chung và là sứ vụ của mỗi một tu sĩ chúng ta nói riêng, đặc biệt đây là sứ mạng của mỗi một chị em chúng ta - những người con của Cha thánh Đaminh và mẹ Anatassie.

 

I.              SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

1. Đời sống thánh hiến tự bản chất đã là truyền giáo

- Đời sống thánh hiến tự bản chất đã là truyền giáo. Không phải lên bục giảng, nói nhiều, giảng hay hấp dẫn thì mới là công việc loan báo Tin Mừng nhưng chính đời sống khiết tịnh – khó nghèo – vâng phục đã là một lời loan báo.

2. Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi với chính con người của họ

Chúa Giêsu cũng sai các môn đệ ra đi không chỉ với lời giảng, nhưng với chính con người họ.

 - Các tông đồ không phải là những người hoàn hảo.

+ Phêrô từng chối Thầy ba lần.

+ Tôma từng nghi ngờ việc Chúa phục sinh.

+ Các môn đệ nhiều lần tranh cãi xem ai là người lớn nhất.

 + Tuy nhiên, Chúa vẫn tin tưởng và sai đi loan báo Tin Mừng

3. Trong tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui của Tin Mừng)

Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô nhắc rằng Giáo Hội truyền giáo bằng sức hấp dẫn của đời sống. Một đời sống khiêm nhường, bác ái, biết tha thứ và tràn đầy niềm vui sẽ trở thành lời chứng sống động, lôi cuốn người khác đến với Đức Kitô.

- Trong tông huấn, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh: “Giáo Hội không lớn lên nhờ chiêu dụ, nhưng nhờ sức hấp dẫn.”

Điều đó có nghĩa:

-        Không lôi kéo

-        Không gây áp lực

-        Không tranh luận gay gắt

Nhưng làm chứng bằng niềm vui và chứng tá đời sống thường ngày của chúng ta hôm nay.

Câu hỏi dành cho tu sĩ chúng ta hôm nay:

- Người ta có thể “đọc thấy Tin Mừng” nơi đời sống tôi trong thế giới hôm nay không?

4. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 849):

“Mệnh lệnh truyền giáo của Chúa phát xuất từ tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa.”

Chính Chúa Giêsu đã truyền lệnh:

“Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” (Mt 28,19)

Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hôm nay – đa tôn giáo, đa văn hóa, nhiều nhạy cảm – việc truyền giáo cần sự khôn Ngoan.

5. Khôn ngoan là hoa trái của Chúa Thánh Thần

+  Theo truyền thống Công Giáo, khôn ngoan là một trong bảy ơn Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần giúp ta:

- Biết nói khi cần nói

- Biết thinh lặng khi cần thinh lặng

- Phân định cách tiếp cận từng người

+ Sự khôn ngoan Kitô giáo luôn gắn liền với:

- Bác ái

- Khiêm nhường

- Tôn trọng tự do lương tâm

II. KHÔN NGOAN TỪ LỜI CHÚA

1. Đức Giêsu cầu nguyện trước và trong sứ vụ

Ngài thường lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện.

Trước những thời điểm quan trọng, Ngài tìm về với Chúa Cha.

+ Điều này cho thấy nguồn sức mạnh của sứ vụ không phải trước hết là khả năng của con người, nhưng là sự kết hiệp với Thiên Chúa.

2. Đức Giêsu truyền giáo bằng chính đời sống

Ngài không chỉ nói về tình yêu Thiên Chúa mà chính Ngài sống tình yêu ấy: khiêm nhường, phục vụ, tha thứ, hy sinh và gần gũi những người nghèo khổ.

“Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” (Ga 13,15)

=>Người truyền giáo trước hết phải là người sống điều mà mình loan báo.

3. Đức Giêsu truyền giáo bằng sự gặp gỡ cá vị.

Chúa Giê-su Chúa Giê-su không tiếp cận mọi người theo một khuôn mẫu cứng nhắc. Người luôn nhìn thấy hoàn cảnh, tâm hồn và nhu cầu của từng người để có cách gặp gỡ phù hợp. Chính sự khôn ngoan ấy làm cho nhiều người mở lòng đón nhận Tin Mừng.

+ Với Gia-kêu, Chúa chủ động gọi tên và đến ở nhà ông. Tình yêu và sự tôn trọng đã dẫn Gia-kêu đến hoán cải.

+ Với Người phụ nữ Samari, Chúa bắt đầu bằng một cuộc trò chuyện đơn sơ về nước uống rồi dần dần mặc khải về "nước hằng sống"

+ Với Người phụ nữ ngoại tình, Chúa không lên án nhưng mở ra con đường sám hối: "Tôi cũng không kết án chị. Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa"

+ Với Phêrô sau khi ông chối Thầy, Chúa không trách móc nhưng hỏi ba lần: "Con có yêu mến Thầy không?" để chữa lành và trao lại sứ mạng

=>Truyền giáo không chỉ là “nói cho nhiều người”, mà còn là đến với từng hoàn cảnh con người cụ thể.

4. Đức Giêsu biết lắng nghe và đối thoại

Đức Giêsu thường đặt câu hỏi:

“Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10,51)

Ngài giúp người đối diện nói ra nỗi đau, nhu cầu và khát vọng của họ.

=> Truyền giáo khôn ngoan bắt đầu bằng lắng nghe, chứ không phải luôn luôn nói.

5. Đức Giêsu dùng những điều gần gũi để nói về Thiên Chúa

Ngài sử dụng dụ ngôn từ những điều rất quen thuộc:

+ Người gieo giống.

+ Hạt cải.

+ Men trong bột.

+ Đồng tiền bị mất.

+ Con chiên lạc.

+ Người cha nhân hậu.

Ngài lấy những điều con người nhìn thấy mỗi ngày để dẫn họ đến những thực tại thiêng liêng.

+ Người truyền giáo cần biết nói ngôn ngữ đời thường mà người nghe dễ nghe, dễ hiểu.

6. Đức Giêsu truyền giáo bằng cách phục vụ

- Ngài nói:

“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ.” (Mc 10,45)

- Đỉnh cao là việc Ngài rửa chân cho các môn đệ.

=> Muốn truyền giáo, chúng ta không đặt mình ở trên người khác, nhưng cúi xuống phục vụ họ.

III. THÁNH ĐA MINH KHÔN NGOAN TRONG CÁCH TRUYỀN GIÁO

Khi nhắc đến Thánh Đa Minh, chúng ta thường nhớ đến một con người say mê Chân Lý, Lời Chúa và phần rỗi các linh hồn. Ngài đã sống một đời hoàn toàn hướng về Thiên Chúa, đồng thời thao thức đem Tin Mừng đến cho con người.

Với chúng ta – những nữ tu mang linh đạo Đa Minh – đây không chỉ là một bài học lịch sử. Đây là một lời mời gọi sống lại căn tính của mình trong sứ mạng hôm nay.

Thánh Đa Minh đã noi gương Chúa Giê-su trong cách loan báo Tin Mừng bằng sự khôn ngoan, đối thoại và chứng tá đời sống. Khi đối diện với những người lạc giáo ở miền Nam nước Pháp, ngài không chọn sự kết án hay tranh cãi gay gắt. Trái lại, ngài sống nghèo khó như họ, lắng nghe, đối thoại với lòng tôn trọng và dùng Lời Chúa cùng lý lẽ vững chắc để dẫn họ đến chân lý.

Điểm nổi bật nơi Thánh Đa Minh không chỉ là lòng nhiệt thành truyền giáo mà còn là sự khôn ngoan trong cách rao giảng. Ngài hiểu rằng chân lý chỉ có thể chạm đến tâm hồn con người khi được trình bày bằng tình yêu, sự khiêm nhường và một đời sống chứng tá. Chính vì thế, ngài trở thành mẫu gương sáng cho mọi Kitô hữu, đặc biệt là mỗi người tu sĩ chúng ta là những người con cái của Cha Thánh được mời gọi loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô.

1. Khôn ngoan nhờ đặt nền tảng trên Lời Chúa

Đối với Thánh Đa Minh, việc rao giảng không bắt đầu bằng tài hùng biện mà bằng việc lắng nghe Thiên Chúa. Ngài dành nhiều giờ cầu nguyện, suy niệm Kinh Thánh và chiêm niệm trước khi giảng dạy.

Ngài xác tín rằng người giảng thuyết phải nói điều mình đã sống và đã cầu nguyện. Chính đời sống nội tâm sâu sắc giúp lời giảng của ngài có sức thuyết phục và mang lại nhiều hoa trái.

2. Khôn ngoan trong việc học hỏi chân lý

Một trong những đóng góp lớn nhất của Thánh Đa Minh là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học.

Ngài yêu cầu các tu sĩ phải học Kinh Thánh, thần học, triết học và những kiến thức cần thiết để có thể giải thích đức tin một cách rõ ràng và hợp lý.

Đối với ngài:

-        Học không nhằm tìm danh vọng.

-        Học để phục vụ Hội Thánh.

-        Học để bảo vệ chân lý.

-        Học để giúp con người gặp gỡ Đức Kitô.

3. Khôn ngoan trong đối thoại

Thánh Đa Minh không chọn con đường lên án hay bạo lực.

Ngài đến gặp những người lạc giáo, lắng nghe họ, đối thoại với họ bằng lý lẽ, Kinh Thánh và tình yêu thương.

Ngài tin rằng:

"Chân lý không cần áp đặt, nhưng cần được trình bày với lòng bác ái."

Đây là nét rất hiện đại trong phương pháp truyền giáo của ngài, phù hợp với tinh thần đối thoại mà Giáo hội luôn cổ võ.

4. Khôn ngoan bằng chứng tá đời sống

Người ta kể rằng Thánh Đa Minh thường đi bộ, sống rất nghèo, ăn uống đơn sơ và dành nhiều thời gian cầu nguyện ban đêm.

Ngài không chỉ nói về Tin Mừng mà còn sống Tin Mừng.

Đời sống nghèo khó và khiêm nhường ấy làm cho lời giảng của ngài trở nên đáng tin.

IV. MẸ ANASTASI KHÔN NGOAN TRONG CÁCH TRUYỀN GIÁO

1. Khôn ngoan nhờ đặt nền tảng trên Lời Chúa

Cầu nguyện cách Khôn ngoan trước khi hành động

- Đó là nguyên tắc đầu tiên trong đời sống của Mẹ: Cầu nguyện trước, hành động sau.

- Biết bao lần lời khuyên ấy xuất hiện trong những ghi chép của Mẹ - bởi đó chính là điều Mẹ sống.

- Trong những lúc khó khăn, Mẹ viết: “Phải làm gì? Hãy cầu nguyện trước đã, hãy cầu nguyện trước đã. Tôi phải như Môsê trên núi, hai tay luôn giơ cao lên trời để cầu xin sức mạnh và lòng can đảm cho tất cả những ai đang chiến đấu trong các trận chiến của Chúa.”

-  Mẹ xác tín rằng trước hết mình phải là người con của cầu nguyện. Không chạy đến cùng Thiên Chúa, không thể thành công trong việc hướng dẫn các linh hồn và điều hành một cộng đoàn.

- Mẹ tin rằng một Bề trên phải thưa với Thiên Chúa tất cả những gì mình biết, xin Người chỉ dạy những điều mình không biết, và cuối cùng trình bày với Người mọi sự. Chỉ sau khi đã hỏi ý Chúa, sau khi đã tự hỏi mình sẽ muốn nói hoặc làm gì nếu phải chết ngay lúc ấy, Mẹ mới nói và hành động.

- Biết bao lần, theo lời Mẹ Thánh Phaolô, chúng tôi đã thấy Mẹ suy xét và cầu nguyện suốt nhiều tuần, nhiều tháng trước khi đưa ra một lời khuyên, một mệnh lệnh, một công việc — để tránh gây tổn thương cho bất cứ ai. Mẹ hết sức thận trọng trong mọi quyết định; nhưng khi đã nói, thì phải thi hành; Mẹ không chiều theo những thất thường hay ước muốn do bản tính tự nhiên thúc đẩy.

2. Mẹ Anastasie truyền giáo tinh thần khiêm nhường, đơn sơ.

-  Mẹ không dùng phương pháp áp đặt; Mẹ sống với sự khiêm nhường, đơn sơ.

- Chị em hãy sống đơn sơ và khiêm nhường: đó là con đường mở lòng người khác.”
(Tóm lược từ linh đạo Mẹ – được cộng đoàn ghi lại)

Mẹ dẫn dắt các tâm hồn đến với Chúa trong vui tươi và đơn sơ, tránh những lối đi bất thường, thích đặc biệt sự nhu mì và thẳng thắn: mẹ viết:

“Chúng ta hãy đi đến Chúa qua con đường thẳng nhất.

Chúng ta hãy tìm chúa với một tâm hồn ngay thẳng.”

Mẹ muốn các chị thật thà và đơn sơ tránh kiểu cách rắc rối, tránh những dáng điệu xiên xéo và những thái độ ngoại giao. Con của Cha Thánh Đaminh phải biết hướng thẳng về một mục đích, không quan ngại khó khăn trên đường, phải nhìn đời với một cặp mắt cương quyết, ngay thẳng và sáng suốt.

- Không có sự khiêm nhường và đơn sơ, việc truyền giáo dễ trở thành áp đặt. Khôn ngoan là biết chạm vào trái tim người khác bằng sự chân thành và tinh tế.

3. Bằng việc tông đồ và giáo dục

Trước tiên là phương diện mục đích, các chị dòng Mân Côi phải tỏ ra xứng đáng được mang danh hiệu “nữ tu giảng thuyết” của bao thế hệ nữ tu Đaminh. Đời các chị là đời hiến dâng để cứu rỗi các linh hồn. Khổ hạnh, hy sinh, cầu nguyện sinh hoạt bên ngoài mọi hành động đều phải trở thành phương tiện tang nhiệt khí tông đồ.

Việc tông đồ, đó là hoạt động mà mẹ muốn được thực hiện không ngừng, một hoạt động mà Mẹ hiểu theo quan niệm Đaminh mà thánh Tôma Aquinô đã tóm tắt: “chia sẻ với kẻ khác những hoa trái đã thu thập được trong chiêm niệm.”

Mẹ mở trường học, dạy chữ, giáo dục trẻ em, đặc biệt trẻ nghèo — giúp họ được học hành, được biết đến Tin Mừng trong bối cảnh yêu thương và giáo dục.

Mẹ tạo dựng lòng tin, sự kính trọng - từ đó Tin Mừng trở nên hấp dẫn hơn, dễ đón nhận hơn.

- Cách làm của mẹ cho thấy: truyền giáo không chỉ là giảng đạo, mà là sống đức tin trong yêu thương và phục vụ - đó là khôn ngoan thật sự.

V. KHÔN NGOAN TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN

Một điều nữa rất gần gũi với đời sống của chúng ta: truyền giáo bắt đầu từ chính cộng đoàn.

Nếu chúng ta nói về tình yêu Thiên Chúa nhưng lại thiếu kiên nhẫn với chị em, thì chứng tá của chúng ta sẽ trở nên yếu ớt.

Nếu chúng ta nói về sự hiệp nhất nhưng lại dễ chia rẽ, thì lời giảng sẽ mất sức thuyết phục.

Nếu chúng ta nói về lòng thương xót nhưng không biết tha thứ cho nhau, thì người khác khó có thể nhận ra khuôn mặt của Đức Kitô nơi chúng ta.

Vì thế, sự khôn ngoan của người nữ tu Đa Minh Anastasies còn là biết xây dựng cộng đoàn trong tình huynh đệ.

Biết khi nào cần nói.

Biết khi nào cần im lặng.

Biết khi nào cần góp ý.

Biết khi nào cần nhường nhịn.

Biết lắng nghe trước khi phán đoán.

Biết sửa lỗi trong bác ái.

Đó là một nghệ thuật rất khó, nhưng lại là một cách truyền giáo rất mạnh mẽ.

Cộng đoàn – nơi rèn luyện sự khôn ngoan truyền giáo

Trong linh đạo của Mẹ Anastasie, cộng đoàn không chỉ là nơi sống chung, mà là nguồn sức mạnh của sứ vụ.

Truyền thống dòng ghi lại lời Mẹ dạy các chị em trẻ:

“Chị này hãy là cây gậy cho chị kia; chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”

Trong Hiến pháp có viết:

“Thinh lặng, mộ mến cầu nguyện và lao động, tình thân ái và sự hòa hợp trong một cộng đoàn giờ đã tìm lại niềm vui và sự tin tưởng” đã có một sức mạnh chứng tá kỳ diệu đến nỗi khắp nơi yêu cầu các nữ tu đến mở các “nhà trường”.

Một cộng đoàn hiệp nhất là bài giảng âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất.
Người ngoài nhìn vào sẽ nhận ra Tin Mừng qua cách chị em yêu thương nhau.

Đây chính là con đường khôn ngoan mà Mẹ Anastasie để lại:
 trước khi đi truyền giáo bên ngoài, hãy để cộng đoàn rao giảng cho chính mình;
 trước khi dạy người khác, hãy để vâng phục uốn nắn trái tim mình.

VI. NHỮNG NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO KHÔN NGOAN

1. Từ lời chúa

Có thể vì chúng ta có lòng nhiệt thành, nhưng đôi khi thiếu sự khôn ngoan.

Chúa Giêsu truyền lệnh:

“Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”. (Mt 10,16)

Khôn ngoan
không phải là mưu mô.

Khôn ngoan là biết phân định:

điều gì đến từ Chúa,

khi nào cần nói,
khi nào cần thinh lặng;

khi nào cần bước tới,
khi nào cần lùi lại
để giữ lòng bình an.

 

Người môn đệ
không sống ngây thơ.

Nhưng cũng không được sống gian.

Không để ai lừa mình,
nhưng cũng không dùng lừa lọc
để đáp lại.

Không nhắm mắt trước sự dữ,
nhưng cũng không để sự dữ
làm lòng mình thành độc.

Hiền lành không có nghĩa
là để mình bị chà đạp.

Khôn ngoan cũng có nghĩa
là biết tránh điều xấu,
đặt ranh giới,
và bảo vệ sự thật
bằng tinh thần Tin Mừng.

 

Còn đơn sơ
không phải là khờ khạo.

Đơn sơ là giữ lòng ngay thẳng.

Không hai mặt.
Không cố ý làm đau.
Không nuôi hận thù.
Không lấy ác báo ác.

Giữa một thế giới
nhiều tính toán,
giữ được một trái tim trong sạch
đã là một cuộc chiến âm thầm.

2. Tôn trọng tôn giáo và văn hóa khác

Giáo Hội Công Giáo không phủ nhận những giá trị chân thật nơi tôn giáo khác.

Công Đồng Vatican II trong tuyên ngôn Nostra Aetate khẳng định:

Giáo Hội tôn trọng và trân trọng những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo khác.

Vì vậy, truyền giáo khôn ngoan không phải là:

-        Chê bai đạo khác

-        So sánh hơn thua

-        Công kích niềm tin của người khác

Nhưng:

-        Đối thoại

-        Lắng nghe

-  Tìm điểm chung

3. Truyền giáo bằng bác ái cụ thể

- Thăm viếng người neo đơn: lắng nghe người già, người nghèo, người gặp khủng hoảng…

- Hỗ trợ giáo dục: hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo, …

Sống bác ái trong cộng đoàn: nhường nhịn, cảm thông, nói lời xây dựng….

Đức tin được diễn tả qua hành động yêu thương.

VI. KẾT LUẬN

Trong một thế giới nhiều khác biệt về niềm tin và quan điểm, người môn đệ của Chúa được mời gọi:

+ Cầu nguyện để có sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần.

+ Học hỏi Lời Chúa và giáo huấn của Hội Thánh để có nền tảng vững chắc.

+ Đối thoại với lòng tôn trọng và yêu thương.

+ Rao giảng bằng một đời sống thánh thiện, khiêm nhường và phục vụ.

+ Rao giảng bằng đời sống và chứng tá yêu thương hơn là chỉ bằng lời nói.

=>Như thế, sự khôn ngoan trong rao giảng không chỉ là nói đúng, mà còn là nói đúng cách, đúng lúc và với một tình yêu chân thành, để người nghe có thể nhận ra dung mạo của Đức Kitô qua chính người loan báo Tin Mừng.

Như vậy, việc loan báo Tin Mừng không chỉ là truyền đạt giáo lý, mà còn là nghệ thuật gặp gỡ con người: yêu thương trước, cảm thông trước, rồi mới mời gọi họ bước theo Người.

Đây cũng là một thách đố đối với chúng ta hôm nay:

+ Một nữ tu có thể rất giỏi giáo lý, rất nhiệt thành trong hoạt động, nhưng nếu không biết lắng nghe người mình phục vụ thì việc truyền giáo có thể trở nên xa cách.

+ Và ngược lại: Một nữ tu có thể không có khả năng diễn thuyết thật xuất sắc, nhưng nếu chị sống đơn sơ, vui tươi, hiền hòa, tha thứ và yêu thương, thì chính đời sống ấy đã trở thành một bài giảng.