J’aime, et le Seigneur aime les cœurs libres et en joie, les cœurs dilatés.
Tôi yêu thích, và Chúa yêu thích những tâm hồn tự do và đầy hoan lạc, những tâm hồn luôn tươi nở.
CHÚA NHẬT XXIII QUANH NĂM.A
Báo Công an thành phố số ra ngày 4 tháng 9 năm 1996 có kể lại : Tại Toulon nước Pháp, một thiếu niên 16 tuổi đã giết cha mình vì tội : Đã dám tịch thu cái trò chơi máy tính của hắn. Chàng thiếu niên đã đâm người cha ở hông và ngực bằng kéo, sau khi người cha có việc làm trên. Sở dĩ người cha cấm tên sát nhân chơi máy vi tính vì kết qủa học tập của hắn quá sa sút. Một kết cục đau thương, một bi kịch ngay trong cuộc sống gia đình. Thêm một bằng chứng nữa trong danh sách khá dài về tội phạm nơi xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên ngày nay.
Thực ra, tội lỗi đã có mặt ngay từ khi con
người quay lưng, phản bội cùng Thiên Chúa nơi vườn địa đàng. Nó ăn sâu thấm
nhiễm và trở thành bản năng thứ hai của con người. Nó có mặt khắp mọi nơi, gây
tác hại và gieo rắc bao đau thương đối với nhân loại. Thánh Phaolô trong thư
Rôma cũng đã khẳng định với chúng ta điều đó : “Vì tội của một người mà tội lỗi
đã đột nhập vào thế gian, và bởi tội thì có sự chết”.
Bài học đau thương ấy, Israel cũng đã từng
vấp phải. Và vì vậy, để cứu vớt Israel Thiên Chúa đã sai đến với họ vị tiên tri
của Chúa là Giêrêmia : Ngươi hãy loan báo cho chúng thay Ta. Khi Ta phán cùng
kẻ gian ác rằng : “Hỡi kẻ gian ác, mi sẽ phải chết - nếu ngươi không chịu nói -
để kẻ gian ác bỏ đường lối mình, thì chính kẻ gian ác sẽ chết bởi
đường lối mình”
Tuy nhiên, con người ngày càng lao vào con
đường gian ác, càng tiến dần đến hố sâu của tuyệt vọng, của sự chết. Vì thế,
Thiên Chúa đã phải sai Con Một của Ngài xuống thế để kêu gọi con người trở lại
cùng Thiên Chúa : “Ta đến để tìm kiếm...” Cuộc tìm kiếm ấy được khởi đi từ Đức
Kitô, và được tiếp tục trong Giáo Hội, nơi các phần thân thể của Ngài là mỗi
Kitô hữu. Công cuộc này lớn lao và hệ trọng vì nó liên quan đến sự sống của
mình và tha nhân. Vì thế chính Ngài đã dạy ta cách thức khi thực hiện sứ mạng
hoà bình và yêu thương này : Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó,
riêng ngươi và nó thôi. Một cách mặc nhiên, Chúa cho chúng ta thấy, không ai có
quyền đứng ngoài qũy đạo cứu độ của Chúa. Họ phải liên đới và có trách nhiệm
trên phần rỗi của người khác, đặc biệt là cộng đoàn Giáo Hội. Cộng đoàn ấy
không phải là tập hợp của những tiếng nói, nhưng là tiếng nói duy nhất của Giáo
Hội, mà vị chủ chăn là đại diện : Những gì các con cầm buộc...
Trong thực tế, không thiếu trường hợp, kẻ
gian ác cố tình từ chối mọi lời kêu gọi của anh em, của Giáo Hội. Ngay cả trong
trường hợp ấy, Thiên Chúa vẫn mở ra một lối ngõ cho họ trở về, khi kêu gọi mỗi
người rằng : Nếu có hai ba người họp nhau lại nhân danh Ta cầu xin... Nhờ lời
cầu nguyện, hiệp nhất của cộng đoàn, ơn Chúa sẽ có thể lôi cuốn, dẫn
đưa người anh em tội lỗi trở lại cùng Chúa.
Từng là người đã được ơn Chúa kêu gọi trở
lại, hơn ai hết, thánh Phaolô cảm nhận được ơn Chúa để hôm nay, Ngài mời gọi và
khuyên nhủ chúng ta : “Anh em thân mến, anh em chớ mắc nợ ai, ngoài việc phải
yêu mến nhau. Lòng yêu thương không làm hại người khác. Vậy yêu thương là chu
toàn lề luật”.
Ngày càng có nhiều người chủ trương : Đèn nhà ai, người ấy sáng. Quan niệm này còn được tiếp sức bởi quan niệm : Tôi nào đã tốt gì hơn ai. Vả lại, dễ gì mà người ta lại chịu để người khác nói về những sai sót của mình. Lời Chúa hôm nay đòi buộc chúng ta phải dấn thân, nhập cuộc và thấy được sứ mạng của mình trong việc sửa lỗi anh em :
- Hỡi kẻ gian ác, mi sẽ phải chết. Tội lỗi
đâu chỉ đem đến dằn vặt xâu xé, bất an cho bản thân, nó còn rắc gieo biết bao
tai hoạ và bất hạnh cho người khác, và nhất là còn đưa đến cái chết đời đời. Ý
thức điều đó có giúp ta hằng ngày không ngừng nỗ lực cố gắng để không gây gương
mù gương xấu, và hơn thế nữa ngăn ngừa gương xấu như bài bạc, say sưa, trộm
cắp, gian lận, lừa gạt mánh mung, vợ nọ con kia không?
- Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa
dạy nó. Không ai nên thánh một mình. Xác tín này có giúp chúng ta vượt lên trên
những mặc cảm, lối sống vị kỷ, cá nhân để biết quan tâm đến người khác, và nhất
là từng bước khéo léo, nhẹ nhàng khuyên nhủ, khích lệ, khơi lên niềm tin tưởng,
hy vọng, và giúp đưa những người lỗi lầm thiếu sót được ăn năn hối cải trở về
không?
- Ở đâu có hai ba người họp nhau cầu nguyện
thì Ta ở giữa họ. Lời Chúa cho chúng ta thấy sức mạnh vô biên của lòng xót
thương nơi Thiên Chúa, nhất là đối với người tội lỗi. Xác tín này có tạo điều
kiện để chúng ta kiên trì, nhẫn nại và hiệp thông với nhau, mỗi khi cầu nguyện
cho người thân, gia đình, cho người chung quanh và cho những người tội lỗi trở
về với Chúa không?
“Hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Người,
các ngươi đừng cứng lòng”. Lời đáp ca trong Thánh Vịnh 94 chính là lời giục giã
gọi mời cho từng người chúng ta, bởi mỗi chúng ta đều mang trên mình biết bao
yếu đuối tội lỗi.
Xin Chúa giúp chúng ta, đủ khiêm tốn để
nhận ra tội mình, cũng như đủ nhẫn nại, yêu thương để ôm ấp, bao bọc và giúp đỡ
những kẻ yếu đuối, tội lỗi, để họ được ơn trở lại cùng Chúa, sống đời thánh
thiện công chính, như chính Chúa hằng thao thức chờ đợi hôm qua, hôm nay và mãi
mãi. Amen.
ĐỀ TÀI: NGƯỜI NỮ TU ĐA MINH
ANASTAIE TRUYỀN GIÁO
VỚI SỰ KHÔN NGOAN
Dẫn nhập: Có những điều chúng ta nghe và nói nhiều lần nhưng không hiểu chính xác
điều ấy là gì. Truyền giáo là một trong những điều như thế. Thật vậy nhiều lúc
chúng ta không khỏi lúng túng khi phải giải thích thế nào là Truyền giáo. Vậy
Truyền Giáo là gì?
KHÁI NIỆM:
+ Truyền giáo là
tiếp tục kế hoạch của Thiên Chúa:
- Chúa phán: “Các
con hãy đi dạy dỗ muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh
Thần, hãy dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy sẽ ở
cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt
28,19-20).
+ Truyền giáo là
loan truyền tình thương của Thiên Chúa đến với con người.
+ Truyền giáo là
chia sẻ quà tặng là chính Đức Giêsu Kitô mà Giáo Hội nhận được.
=>Vậy Truyền
Giáo là: Truyền giáo thường được
hiểu là giới thiệu Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa, và đưa họ vào Hội
Thánh Chúa qua việc dạy giáo lý, cử hành các Bí Tích nhập Đạo, và gia nhập cộng
đoàn.
Vì vậy truyền giáo là
bổn phận và cũng là niềm vui của mỗi Kitô hữu nói chung và là sứ vụ của mỗi một
tu sĩ chúng ta nói riêng, đặc biệt đây là sứ mạng của mỗi một chị em chúng ta -
những người con của Cha thánh Đaminh và mẹ Anatassie.
I.
SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI
1. Đời sống thánh hiến
tự bản chất đã là truyền giáo
- Đời sống thánh hiến tự bản chất
đã là truyền giáo. Không phải lên bục giảng, nói nhiều, giảng hay hấp dẫn thì mới
là công việc loan báo Tin Mừng nhưng chính đời sống khiết tịnh – khó nghèo –
vâng phục đã là một lời loan báo.
2. Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi
với chính con người của họ
Chúa Giêsu cũng sai các môn
đệ ra đi không chỉ với lời giảng, nhưng với chính con người họ.
- Các tông đồ không phải là những người hoàn hảo.
+ Phêrô từng chối Thầy ba lần.
+ Tôma từng nghi ngờ việc Chúa phục
sinh.
+ Các môn đệ nhiều lần tranh cãi
xem ai là người lớn nhất.
+ Tuy nhiên, Chúa vẫn tin tưởng và sai đi loan
báo Tin Mừng
3.
Trong tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui của Tin Mừng)
Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô nhắc rằng
Giáo Hội truyền giáo bằng sức hấp dẫn của đời sống. Một đời sống khiêm nhường,
bác ái, biết tha thứ và tràn đầy niềm vui sẽ trở thành lời chứng sống động, lôi
cuốn người khác đến với Đức Kitô.
- Trong tông huấn, Đức Thánh Cha
Phanxicô nhấn mạnh: “Giáo Hội không lớn lên nhờ chiêu dụ, nhưng nhờ sức hấp dẫn.”
Điều đó có nghĩa:
-
Không lôi kéo
-
Không gây áp lực
-
Không tranh luận gay gắt
Nhưng làm chứng bằng niềm vui và chứng
tá đời sống thường ngày của chúng ta hôm nay.
Câu hỏi dành cho tu sĩ chúng ta
hôm nay:
- Người ta có thể “đọc thấy Tin Mừng”
nơi đời sống tôi trong thế giới hôm nay không?
4.
Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 849):
“Mệnh lệnh truyền giáo của Chúa
phát xuất từ tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa.”
Chính Chúa Giêsu đã truyền
lệnh:
“Anh em hãy đi và làm cho muôn dân
trở thành môn đệ.” (Mt 28,19)
Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội
hôm nay – đa tôn giáo, đa văn hóa, nhiều nhạy cảm – việc truyền giáo cần sự khôn
Ngoan.
5. Khôn ngoan là hoa trái của Chúa
Thánh Thần
+
Theo truyền thống Công Giáo, khôn ngoan là một trong bảy ơn Chúa Thánh
Thần.
Chúa Thánh Thần giúp ta:
- Biết nói khi cần nói
- Biết thinh lặng khi cần thinh lặng
- Phân định cách tiếp cận từng người
+ Sự khôn ngoan Kitô giáo luôn gắn
liền với:
- Bác ái
- Khiêm nhường
- Tôn trọng tự do lương tâm
II. KHÔN NGOAN TỪ LỜI CHÚA
1. Đức Giêsu cầu nguyện trước và
trong sứ vụ
Ngài thường lui vào nơi thanh vắng
để cầu nguyện.
Trước những thời điểm quan trọng,
Ngài tìm về với Chúa Cha.
+ Điều này cho thấy nguồn sức mạnh
của sứ vụ không phải trước hết là khả năng của con người, nhưng là sự kết hiệp
với Thiên Chúa.
2. Đức Giêsu truyền giáo bằng
chính đời sống
Ngài không chỉ nói về tình yêu
Thiên Chúa mà chính Ngài sống tình yêu ấy: khiêm nhường, phục vụ, tha thứ, hy
sinh và gần gũi những người nghèo khổ.
“Thầy đã nêu gương cho anh em, để
anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” (Ga 13,15)
=>Người truyền giáo trước hết
phải là người sống điều mà mình loan báo.
3. Đức Giêsu truyền giáo bằng sự gặp
gỡ cá vị.
Chúa Giê-su
Chúa Giê-su không tiếp cận mọi người theo một khuôn mẫu cứng
nhắc. Người luôn nhìn thấy hoàn cảnh, tâm hồn và nhu cầu của từng người để có
cách gặp gỡ phù hợp. Chính sự khôn ngoan ấy làm cho nhiều người mở lòng đón nhận
Tin Mừng.
+ Với Gia-kêu, Chúa chủ động gọi
tên và đến ở nhà ông. Tình yêu và sự tôn trọng đã dẫn Gia-kêu đến hoán cải.
+ Với Người phụ nữ Samari, Chúa bắt
đầu bằng một cuộc trò chuyện đơn sơ về nước uống rồi dần dần mặc khải về
"nước hằng sống"
+ Với Người phụ nữ ngoại tình,
Chúa không lên án nhưng mở ra con đường sám hối: "Tôi cũng không kết án chị.
Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa"
+ Với Phêrô sau khi ông chối Thầy,
Chúa không trách móc nhưng hỏi ba lần: "Con có yêu mến Thầy không?" để
chữa lành và trao lại sứ mạng
=>Truyền giáo không chỉ là “nói
cho nhiều người”, mà còn là đến với từng hoàn cảnh con người cụ thể.
4. Đức Giêsu biết lắng nghe và đối
thoại
Đức Giêsu thường đặt câu hỏi:
“Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc
10,51)
Ngài giúp người đối diện nói ra nỗi
đau, nhu cầu và khát vọng của họ.
=> Truyền giáo khôn ngoan bắt đầu
bằng lắng nghe, chứ không phải luôn luôn nói.
5. Đức Giêsu dùng những điều gần
gũi để nói về Thiên Chúa
Ngài sử dụng dụ ngôn từ những điều
rất quen thuộc:
+ Người gieo giống.
+ Hạt cải.
+ Men trong bột.
+ Đồng tiền bị mất.
+ Con chiên lạc.
+ Người cha nhân hậu.
Ngài lấy những điều con người nhìn
thấy mỗi ngày để dẫn họ đến những thực tại thiêng liêng.
+ Người truyền giáo cần biết nói
ngôn ngữ đời thường mà người nghe dễ nghe, dễ hiểu.
6. Đức Giêsu truyền giáo bằng cách
phục vụ
- Ngài nói:
“Con Người đến không phải để được
người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ.” (Mc 10,45)
- Đỉnh cao là việc Ngài rửa chân
cho các môn đệ.
=> Muốn truyền giáo, chúng ta
không đặt mình ở trên người khác, nhưng cúi xuống phục vụ họ.
III. THÁNH ĐA MINH KHÔN NGOAN
TRONG CÁCH TRUYỀN GIÁO
Khi nhắc đến Thánh Đa Minh, chúng
ta thường nhớ đến một con người say mê Chân Lý, Lời Chúa và phần rỗi các linh hồn.
Ngài đã sống một đời hoàn toàn hướng về Thiên Chúa, đồng thời thao thức đem Tin
Mừng đến cho con người.
Với chúng ta – những nữ tu mang
linh đạo Đa Minh – đây không chỉ là một bài học lịch sử. Đây là một lời mời gọi
sống lại căn tính của mình trong sứ mạng hôm nay.
Thánh
Đa Minh đã noi gương Chúa Giê-su trong cách loan báo Tin Mừng bằng sự khôn
ngoan, đối thoại và chứng tá đời sống. Khi đối diện với những người lạc giáo ở
miền Nam nước Pháp, ngài không chọn sự kết án hay tranh cãi gay gắt. Trái lại,
ngài sống nghèo khó như họ, lắng nghe, đối thoại với lòng tôn trọng và dùng Lời
Chúa cùng lý lẽ vững chắc để dẫn họ đến chân lý.
Điểm
nổi bật nơi Thánh Đa Minh không chỉ là lòng nhiệt thành truyền giáo mà còn là sự
khôn ngoan trong cách rao giảng. Ngài hiểu rằng chân lý chỉ có thể chạm đến tâm
hồn con người khi được trình bày bằng tình yêu, sự khiêm nhường và một đời sống
chứng tá. Chính vì thế, ngài trở thành mẫu gương sáng cho mọi Kitô hữu, đặc biệt
là mỗi người tu sĩ chúng ta là những người con cái của Cha Thánh được mời gọi
loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô.
1. Khôn ngoan nhờ đặt nền tảng trên Lời Chúa
Đối
với Thánh Đa Minh, việc rao giảng không bắt đầu bằng tài hùng biện mà bằng việc
lắng nghe Thiên Chúa. Ngài dành nhiều giờ cầu nguyện, suy niệm Kinh Thánh và
chiêm niệm trước khi giảng dạy.
Ngài
xác tín rằng người giảng thuyết phải nói điều mình đã sống và đã cầu nguyện.
Chính đời sống nội tâm sâu sắc giúp lời giảng của ngài có sức thuyết phục và
mang lại nhiều hoa trái.
2. Khôn ngoan trong việc học hỏi chân lý
Một
trong những đóng góp lớn nhất của Thánh Đa Minh là nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc học.
Ngài
yêu cầu các tu sĩ phải học Kinh Thánh, thần học, triết học và những kiến thức cần
thiết để có thể giải thích đức tin một cách rõ ràng và hợp lý.
Đối
với ngài:
-
Học không nhằm tìm danh vọng.
-
Học để phục vụ Hội Thánh.
-
Học để bảo vệ chân lý.
-
Học để giúp con người gặp gỡ Đức Kitô.
3. Khôn ngoan trong đối thoại
Thánh Đa Minh không chọn
con đường lên án hay bạo lực.
Ngài đến gặp những người
lạc giáo, lắng nghe họ, đối thoại với họ bằng lý lẽ, Kinh Thánh và tình yêu
thương.
Ngài tin rằng:
"Chân lý không cần
áp đặt, nhưng cần được trình bày với lòng bác ái."
Đây là nét rất hiện đại
trong phương pháp truyền giáo của ngài, phù hợp với tinh thần đối thoại mà Giáo
hội luôn cổ võ.
4. Khôn ngoan bằng chứng tá đời sống
Người
ta kể rằng Thánh Đa Minh thường đi bộ, sống rất nghèo, ăn uống đơn sơ và dành
nhiều thời gian cầu nguyện ban đêm.
Ngài
không chỉ nói về Tin Mừng mà còn sống Tin Mừng.
Đời
sống nghèo khó và khiêm nhường ấy làm cho lời giảng của ngài trở nên đáng tin.
IV. MẸ ANASTASI KHÔN NGOAN TRONG
CÁCH TRUYỀN GIÁO
1. Khôn ngoan nhờ đặt nền tảng trên Lời Chúa
Cầu
nguyện cách Khôn ngoan trước khi hành động
-
Đó là nguyên tắc đầu tiên trong đời sống
của Mẹ: Cầu nguyện trước, hành động sau.
-
Biết bao lần lời khuyên ấy xuất hiện
trong những ghi chép của Mẹ - bởi đó chính là điều Mẹ sống.
-
Trong những lúc khó khăn, Mẹ viết: “Phải
làm gì? Hãy cầu nguyện trước đã, hãy cầu nguyện trước đã. Tôi phải như Môsê
trên núi, hai tay luôn giơ cao lên trời để cầu xin sức mạnh và lòng can đảm cho
tất cả những ai đang chiến đấu trong các trận chiến của Chúa.”
- Mẹ
xác tín rằng trước hết mình phải là người con của cầu nguyện. Không chạy đến
cùng Thiên Chúa, không thể thành công trong việc hướng dẫn các linh hồn và điều
hành một cộng đoàn.
- Mẹ tin rằng một Bề trên phải thưa với Thiên Chúa tất cả
những gì mình biết, xin Người chỉ dạy những điều mình không biết, và cuối cùng
trình bày với Người mọi sự. Chỉ sau khi đã hỏi ý Chúa, sau khi đã tự hỏi mình sẽ
muốn nói hoặc làm gì nếu phải chết ngay lúc ấy, Mẹ mới nói và hành động.
- Biết bao lần, theo lời Mẹ Thánh Phaolô, chúng tôi đã thấy
Mẹ suy xét và cầu nguyện suốt nhiều tuần, nhiều tháng trước khi đưa ra một lời
khuyên, một mệnh lệnh, một công việc — để tránh gây tổn thương cho bất cứ ai. Mẹ hết sức thận trọng
trong mọi quyết định; nhưng khi đã nói, thì phải thi hành; Mẹ không chiều theo
những thất thường hay ước muốn do bản tính tự nhiên thúc đẩy.
2. Mẹ Anastasie truyền giáo
tinh thần khiêm nhường,
đơn sơ.
- Mẹ không dùng phương pháp áp đặt; Mẹ sống với
sự khiêm nhường, đơn sơ.
- Chị em hãy sống đơn
sơ và khiêm nhường: đó là con đường mở lòng người khác.”
(Tóm lược từ linh đạo Mẹ – được cộng đoàn ghi lại)
Mẹ dẫn dắt các tâm
hồn đến với Chúa trong vui tươi và đơn sơ, tránh những lối đi bất thường, thích
đặc biệt sự nhu mì và thẳng thắn: mẹ viết:
“Chúng ta hãy đi đến
Chúa qua con đường thẳng nhất.
Chúng ta hãy tìm
chúa với một tâm hồn ngay thẳng.”
Mẹ muốn các chị thật
thà và đơn sơ tránh kiểu cách rắc rối, tránh những dáng điệu xiên xéo và những
thái độ ngoại giao. Con của Cha Thánh Đaminh phải biết hướng thẳng về một mục
đích, không quan ngại khó khăn trên đường, phải nhìn đời với một cặp mắt cương
quyết, ngay thẳng và sáng suốt.
- Không có sự khiêm
nhường và đơn sơ, việc truyền giáo dễ trở thành áp đặt. Khôn ngoan là biết chạm
vào trái tim người khác bằng sự chân thành và tinh tế.
3.
Bằng việc tông đồ và
giáo dục
Trước tiên là phương diện mục
đích, các chị dòng Mân Côi phải tỏ ra xứng đáng được mang danh hiệu “nữ tu
giảng thuyết” của bao thế hệ nữ tu Đaminh. Đời các chị là đời hiến dâng để cứu
rỗi các linh hồn. Khổ hạnh, hy sinh, cầu nguyện sinh hoạt bên ngoài mọi hành
động đều phải trở thành phương tiện tang nhiệt khí tông đồ.
Việc tông đồ, đó là hoạt động
mà mẹ muốn được thực hiện không ngừng, một hoạt động mà Mẹ hiểu theo quan niệm
Đaminh mà thánh Tôma Aquinô đã tóm tắt: “chia sẻ với kẻ khác những hoa trái đã
thu thập được trong chiêm niệm.”
Mẹ mở trường học, dạy chữ, giáo dục trẻ em,
đặc biệt trẻ nghèo — giúp họ được học hành, được biết đến Tin Mừng trong bối
cảnh yêu thương và giáo dục.
Mẹ tạo dựng lòng tin, sự kính
trọng - từ đó Tin Mừng trở nên hấp dẫn hơn, dễ đón nhận hơn.
- Cách làm của mẹ cho thấy:
truyền giáo không chỉ là giảng đạo, mà là sống đức tin trong yêu thương và phục
vụ - đó là khôn ngoan thật sự.
V. KHÔN NGOAN TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG
ĐOÀN
Một
điều nữa rất gần gũi với đời sống của chúng ta: truyền giáo bắt đầu từ chính cộng
đoàn.
Nếu
chúng ta nói về tình yêu Thiên Chúa nhưng lại thiếu kiên nhẫn với chị em, thì
chứng tá của chúng ta sẽ trở nên yếu ớt.
Nếu
chúng ta nói về sự hiệp nhất nhưng lại dễ chia rẽ, thì lời giảng sẽ mất sức
thuyết phục.
Nếu
chúng ta nói về lòng thương xót nhưng không biết tha thứ cho nhau, thì người
khác khó có thể nhận ra khuôn mặt của Đức Kitô nơi chúng ta.
Vì
thế, sự khôn ngoan của người nữ tu Đa Minh Anastasies còn là biết xây dựng cộng
đoàn trong tình huynh đệ.
Biết khi nào cần nói.
Biết khi nào cần im lặng.
Biết khi nào cần góp ý.
Biết khi nào cần nhường nhịn.
Biết lắng nghe trước khi phán
đoán.
Biết sửa lỗi trong bác ái.
Đó là một nghệ thuật rất khó,
nhưng lại là một cách truyền giáo rất mạnh mẽ.
Trong linh đạo của Mẹ Anastasie, cộng đoàn
không chỉ là nơi sống chung, mà là nguồn sức mạnh của sứ vụ.
Truyền thống dòng ghi lại lời Mẹ dạy các
chị em trẻ:
“Chị này hãy là cây gậy cho chị
kia; chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”
Trong Hiến pháp có viết:
“Thinh lặng, mộ mến cầu nguyện
và lao động, tình thân ái và sự hòa hợp trong một cộng đoàn giờ đã tìm lại niềm
vui và sự tin tưởng” đã có một sức mạnh chứng tá kỳ diệu đến nỗi khắp nơi yêu
cầu các nữ tu đến mở các “nhà trường”.
Một cộng đoàn hiệp nhất là bài
giảng âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất.
Người ngoài nhìn vào sẽ nhận ra Tin Mừng qua cách chị em yêu thương nhau.
Đây chính là con đường khôn ngoan
mà Mẹ Anastasie để lại:
trước khi đi truyền giáo bên ngoài, hãy
để cộng đoàn rao giảng cho chính mình;
trước khi dạy người khác, hãy để vâng
phục uốn nắn trái tim mình.
VI. NHỮNG NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO
KHÔN NGOAN
1. Từ lời chúa
Có thể vì chúng ta có lòng nhiệt
thành, nhưng đôi khi thiếu sự khôn ngoan.
Chúa Giêsu truyền lệnh:
“Này,
Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn
và đơn sơ như bồ câu”. (Mt 10,16)
Khôn
ngoan
không phải là mưu mô.
Khôn
ngoan là biết phân định:
điều
gì đến từ Chúa,
khi
nào cần nói,
khi nào cần thinh lặng;
khi
nào cần bước tới,
khi nào cần lùi lại
để giữ lòng bình an.
Người
môn đệ
không sống ngây thơ.
Nhưng
cũng không được sống gian.
Không
để ai lừa mình,
nhưng cũng không dùng lừa lọc
để đáp lại.
Không
nhắm mắt trước sự dữ,
nhưng cũng không để sự dữ
làm lòng mình thành độc.
Hiền
lành không có nghĩa
là để mình bị chà đạp.
Khôn
ngoan cũng có nghĩa
là biết tránh điều xấu,
đặt ranh giới,
và bảo vệ sự thật
bằng tinh thần Tin Mừng.
Còn
đơn sơ
không phải là khờ khạo.
Đơn
sơ là giữ lòng ngay thẳng.
Không
hai mặt.
Không cố ý làm đau.
Không nuôi hận thù.
Không lấy ác báo ác.
Giữa
một thế giới
nhiều tính toán,
giữ được một trái tim trong sạch
đã là một cuộc chiến âm thầm.
2.
Tôn trọng tôn giáo và văn hóa khác
Giáo Hội Công Giáo không phủ nhận
những giá trị chân thật nơi tôn giáo khác.
Công Đồng Vatican II trong tuyên
ngôn Nostra Aetate khẳng định:
Giáo Hội tôn trọng và trân trọng
những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo khác.
Vì vậy, truyền giáo khôn ngoan
không phải là:
-
Chê bai đạo khác
-
So sánh hơn thua
-
Công kích niềm tin của người khác
Nhưng:
-
Đối thoại
-
Lắng nghe
-
Tìm điểm chung
3. Truyền giáo bằng bác ái cụ thể
- Thăm viếng người neo đơn: lắng
nghe người già, người nghèo, người gặp khủng hoảng…
- Hỗ trợ giáo dục: hỗ trợ học
sinh, sinh viên nghèo, …
Sống bác ái trong cộng đoàn: nhường
nhịn, cảm thông, nói lời xây dựng….
Đức tin được diễn tả qua hành động
yêu thương.
VI. KẾT LUẬN
Trong
một thế giới nhiều khác biệt về niềm tin và quan điểm, người môn đệ của Chúa được
mời gọi:
+
Cầu nguyện để có sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần.
+
Học hỏi Lời Chúa và giáo huấn của Hội Thánh để có nền tảng vững chắc.
+ Đối thoại với lòng tôn trọng và yêu
thương.
+
Rao giảng bằng một đời sống thánh thiện, khiêm nhường và phục vụ.
+ Rao giảng bằng đời sống và chứng
tá yêu thương hơn là chỉ bằng lời nói.
=>Như thế, sự khôn
ngoan trong rao giảng không chỉ là nói đúng, mà còn là nói đúng cách,
đúng lúc và với một tình yêu chân thành, để người nghe có thể nhận ra dung
mạo của Đức Kitô qua chính người loan báo Tin Mừng.
Như
vậy, việc loan báo Tin Mừng không chỉ là truyền đạt giáo lý, mà còn là nghệ thuật
gặp gỡ con người: yêu thương trước, cảm thông trước, rồi mới mời gọi họ bước
theo Người.
Đây
cũng là một thách đố đối với chúng ta hôm nay:
+
Một nữ tu có thể rất giỏi giáo lý, rất nhiệt thành trong hoạt động, nhưng nếu
không biết lắng nghe người mình phục vụ thì việc truyền giáo có thể trở nên xa
cách.
+
Và ngược lại: Một nữ tu có thể không có khả năng diễn thuyết thật xuất sắc,
nhưng nếu chị sống đơn sơ, vui tươi, hiền hòa, tha thứ và yêu thương, thì chính
đời sống ấy đã trở thành một bài giảng.
Câu chuyện 3: THÁNH ĐA
MINH LÀM 3 PHÉP LẠ CẢI TỬ HOÀN SINH
(Trong 16 câu chuyện về thánh
Đaminh)
Khuynh hướng Giáo hội gần đây khi cổ
võ lòng tôn kính các thánh, thường nhấn mạnh việc noi gương đời sống nhân đức
của các ngài. Điều đó chính xác, tuy nhiên đừng quên, các thánh luôn là những
đấng chuyển cầu thần thế cho chúng ta trước nhan Thiên Chúa.
Các vị thánh như thánh Đaminh,
Vincentê, Martinô … nên thánh do đời sống thánh thiện của các ngài chứ không
phải nhờ phép lạ, nhưng các phép lạ là dấu hiệu để ta nhận ra tình yêu của các
ngài với Chúa lớn lao như thế nào. Và Hội thánh vẫn dựa vào phép lạ, khi suy
tôn các vị trên bàn thờ.
Thánh Đaminh lúc sinh thời, đã được
Chúa ban nhiều dấu lạ như: Cuốn sách không cháy trong cuộc tranh luận với lạc
giáo; Khả năng nói tiếng Đức để giảng cho khách hành hương; Cứu sống đoàn tàu
hành hương Compostella thoát cơn bão tố; Các phép lạ chữa bệnh; Thiên thần đem
bánh cho tu viện khi thầy đi hành khất vì bác ái đã phân phát hết cho người
nghèo …
Trong bài này xin giới thiệu ba phép
lạ đặc biệt, phép lạ cải tử hoàn sinh, cho người đã chết được sống lại. Nhờ lời
chuyển cầu của thánh Đaminh, Chúa đã thực hiện việc cải tử hoàn sinh một kiến
trúc sư, một em bé và cháu của hồng y Têphanô.
1.
Cải tử hoàn
sinh một kiến trúc sư
Một kiến trúc sư được mời đến giúp sửa
chữa nhà cửa tại tu viện Sixto. Một hôm, khi cha Đa Minh đi vắng, các thầy dẫn
ông lên coi một tháp cao chót vót đã cũ cần được sửa lại. Chẳng may tháp lâu
ngày đã mục đổ xuống vùi ông dưới đống đá chết ngay tại chỗ. Cả nhà dòng và dân
chúng tuốn đến coi tai nạn mới xảy ra và bàn tán xôn xao.
Cha Đa Minh đi giảng về, nghe biết tin, người bình tĩnh tiến
thẳng đến chỗ tai nạn xảy ra, và yêu cầu các thầy bới đống gạch đá để lấy xác
ra ngoài. Sau đó, người quì xuống cầu nguyện với Chúa.
Khi cha Đa Minh vừa cầu nguyện xong,
toàn thể dân chúng đứng chung quanh đều chứng kiến nạn nhân được sống lại với
thân thể lành mạnh như không có việc chi xảy ra. Tiếng phép lạ đồn thổi khắp
thành Rôma.
2.
Cải tử hoàn
sinh một em bé
Đó cũng là nội dung bức tranh được
giáo xứ Đaminh trưng bày tại gian cung thánh năm nay, theo chủ đề "Thánh
Đaminh, con người của lòng trắc sẩn". Bức tranh do họa sĩ Vlaho Bukovac
người Praha Tiệp Khắc vẽ năm 1911, và được tôn kính tại nhà thờ thánh Đaminh tại
Dubrovnik.
Một góa phụ tên là Tuta, có đứa con bị bệnh nặng. Nhưng quyết
định đến nhà thờ thánh Maccô tại Rôma để nghe Cha Đaminh giảng thuyết. Khi về
nhà bà phát hiện ra con trai của bà mới chết.
Bà mang đứa bé đến nhà thờ và thấy
thánh Đaminh đứng ngay ở cửa như đang chờ ai đó. Bà liền đặt đứa bé dưới chân
thánh nhân và xin ngài cứu sống con mình. Thánh Đaminh đến trước bàn thờ cầu
nguyện một lát, rồi đến gần hai mẹ con, làm dấu Thánh giá ban phúc lành và đặt
tay ... Bỗng nhiên đứa trẻ được hồi sinh.
Phép lạ này được ĐTC Honorio III công
nhận, khiến ảnh hưởng của cha Đa Minh tăng lên gấp bội; thiên hạ tuốn đến với
Người rất đông, họ chen nhau đụng chạm đến áo người mặc. Có người còn lén cắt
trộm gấu áo của người để làm kỷ niệm di tích của một Đấng Thánh.
3.
Cải tử hoàn
sinh Napoleô, cháu Hồng Y Têphanô
(Trích sách Phục sinh Napoleô -
Thánh Đaminh xuất thần)
Một hôm cha Đa Minh đang cùng thảo luận với hồng y Têphanô và
hai vị hồng y khác. Bỗng có người đến báo hung tín, Napolene Orsini, cháu gọi
hồng y Têphanô bằng cậu vừa ngã ngựa và chết ngay tại chỗ. Nghe tin, hồng y
Têphanô bàng hoàng ngất xỉu.
Cha Đa Minh đích thân chạy đến chỗ Napoleô nằm chết yêu cầu đem
xác nạn nhân về nhà. Rồi người sốt sáng dâng thánh lễ cầu nguyện cho cậu. Sau
đó ngài đi vào phòng để xác cậu, lấy tay xếp đặt lại các phần thân thể đã gãy,
quì xuống cầu nguyện ba lần, làm dấu thánh giá trên thi hài cậu.
Rồi ngài lớn tiếng truyền lệnh:
“Napoleô, nhân danh Chúa Giêsu, con hãy chỗi dậy ngay”.
Người vừa dứt lời thì Napoleô đã hồi sinh, bằng yên vô sự, chân
tay lành lặn như không có biến cố đáng tiếc đã xảy ra. Cha Đa Minh cầm tay
Napoleô trao lại cho đức hồng y.
(Lm
Px Đào Trung Hiệu OP.)
Nhiều phép lạ khác của thánh nhân
trong tác phẩm “Thánh phụ Đaminh, Đấng sáng lập dòng thuyết giáo”, của cha Giuse
Nguyễn Tri Ân, OP.