VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH

 

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM A

 


“Mục Tử nhân lành thí mạng sống vì chiên...” Cái chết của Chúa trên Thập giá, được tái hiện trong thánh lễ hôm nay, một lần nữa giúp chúng ta xác tín vào lòng nhân lành của Mục Tử Giêsu.

Xin cho mỗi chúng ta, không chỉ nhìn ra Chúa là Mục Tử của chúng ta, nhưng còn biết sống xứng đáng là chiên của Chúa, khi biết nghe và đi theo Ngài, để nhờ đó ta được dẫn đến với vương quốc của Con Chiên là chính hạnh phúc nước trời.

Trong cuốn chân dung Thánh GH. Gioan Phaolô II, tác giả Andzé Frossard đã giới thiệu với chúng ta : “Đầy dũng cảm và với sức mạnh siêu nhiên, Đức Thánh Cha xông pha khắp mọi miền của thế giới, không quản ngại nhọc nhằn, không mảy may lo ngại biết bao nguy hiểm, để làm cho mọi người vững tin. Như thế, người thực hiện sứ mạng của người kế vị Phêrô, người thừa tác của Chúa Kitô, người chủ chăn của Giáo Hội... Trong thời buổi đen tối mịt mù này, Thánh GH. Gioan Phaolô II là người cống hiến cho mọi người ánh sáng của Chúa Kitô. Người đã dũng cảm, mạnh mẽ xác nhận các chân lý của đức tin. Trong thời buổi đại khổ nạn, chối bỏ Chúa, người kêu mời, khẩn xin mọi người tiến bước trên con đường tương ái và hoà bình, giữa bối cảnh của thế giới đầy bạo lực, hận thù, hỗn loạn và chiến tranh”.

Bức tranh mà tác giả mô tả về Thánh GH Gioan Phaolô II mang dáng dấp hình ảnh sống động của Đức Kitô Mục Tử nhân hậu, mà thánh Gioan hôm nay đang diễn tả. Nếu như tội lỗi đã làm cho nhân loại băng hoại và tản mác như những chiên lạc đàn, xa nẻo, thì nhờ nước và máu đổ ra trên thập giá, Con Chiên Thiên Chúa đã tẩy rửa, giao hoà và đem chúng ta về sống trong đàn chiên Chúa là Giáo Hội. Hơn nữa, Ngài còn lo lắng và nuôi dưỡng đàn chiên bằng ơn sủng của Bí Tích, cũng như nơi sự quan phòng yêu thương của Ngài. Để chiên khỏi bị lạc bầy và rơi vào tình trạng ốm yếu, đói khát, lang thang tiều tụy, Ngài quan tâm hướng dẫn và hết lòng dạy dỗ. Đáp lại tình thương của Mục Tử nhân lành, chiên phải biết lắng nghe và đi theo tiếng chủ chiên. Thái độ vâng phục đức tin ấy, không làm chúng ta thui chột hay vong thân. Trái lại, nhờ đi trong đường nẻo và ánh sáng Chúa, vâng phục chủ chiên, ta không chỉ tránh được những cạm bẫy nguy hiểm của ma quỉ, mà còn được vui thoả trong đồng cỏ xanh, hạnh phúc nơi dòng suối mát. Lòng yêu thương của Mục Tử còn trải rộng đến vô biên, khi mong ước cho mọi người được gia nhập và sống trong đàn chiên Chúa: “Ta còn những chiên khác chưa thuộc về đàn này, cả chúng nữa Ta cũng phải đưa về, để chúng nên một đàn chiên dưới quyền chăn dắt của một chủ chiên”.

Sứ mạng ấy, Chúa Giêsu không chỉ ôm ấp, thao thức, nhưng Ngài đã chia sẻ cho Giáo Hội qua thánh Phêrô:  “Con hãy chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Ta”. Đáp lại lời mời gọi của Chúa, thánh tông đồ đã mạnh dạn rao giảng và mời gọi : “ Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội và sẽ nhận được ân huệ của Thánh Thần”.

Đón nhận của các thánh tông đồ, cả một đoàn lũ đông đảo gồm 3.000 người đã tin vào Đức Kitô, mục tử tối cao, và sẵn sàng bước đi theo sự chăn dắt của Ngài : “Xưa kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc. Nhưng nay đã quay về với vị mục tử Giêsu, Đấng chăn dắt linh hồn anh em”.

Kính thưa ông bà anh chị em,

Đến với Chúa nhật IV Phục sinh, ngày Chúa nhật lễ Chúa Chiên Lành, chúng ta không chỉ được mời gọi để khám phá ra chân dung của Vị Mục Tử Giêsu, nhưng còn biết đón nhận hạnh phúc khi sống trong đàn chiên của Ngài là Giáo Hội. Cảm nghiệm ấy thôi thúc chúng ta nhìn lại chính mình, để thấy được tương quan cần có giữa ta và Mục Tử Giêsu:

-   “Mục tử nhân lành thí mạng sống vì chiên”. Theo gót Mục Tử Giêsu, biết bao vị mục tử đã sống đời tận hiến, hi sinh phục vụ, cho dù có phải vì thế mà bị thiệt thòi, mất mát và đe doạ ngay cả mạng sống mình. Chúng ta hôm nay có ý thức đến điều này, để cầu nguyện cho có nhiều mục tử tốt lành. Nhất là còn biết chia sẻ trách nhiệm với các vị mục tử bằng tất cả quảng đại nhiệt tình, cũng như giúp các Ngài luôn sống xứng đáng là mục tử như lòng Chúa mong ước không?

-  “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”. Hôm nay, chúng ta có phải là chiên thật của Chúa khi biết lắng nghe Lời Chúa qua vị chủ chiên, hay như những người Do Thái xưa, chối bỏ Lời Thiên Chúa. Sống trong đoàn chiên giáo xứ mà cứ muốn theo ý riêng, bất chấp mọi lời giảng dạy, liều mình vào đường tội lỗi, và chối bỏ không muốn sống trong đàn chiên Giáo Hội không?

-  “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người”. Ngày lễ Chúa chiên lành cũng là ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi tu trì. Chúng ta có ý thức điều đó để tha thiết xin Chúa mở lòng những người trẻ sẵn sàng quảng đại đáp lại tiếng Chúa. Đồng thời cũng biết tích cực góp phần của mình vào việc nuôi dưỡng và phát triển ơn gọi trong giáo xứ qua những đóng góp chia sẻ chưa?

Xin cho phép tôi có đôi lời với anh chị em họ Mathêu Gẫm. Anh chị em thân mến,

Mừng lễ Mathêu Gẫm ngay trong ngày Chúa Nhật 4 Phục sinh, Chúa nhật lễ Chúa chiên lành, ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi, một dịp để chúng ta soi lại mẫu gương của thánh Mathêu Gẫm bổn mạng.

Năm 15 tuổi, Mathêu Gẫm đã từng ao ước dâng mình cho Chúa. Nhưng do không được Chúa kêu gọi, ngài đã trở về thế gian để sống đời người Kitô hữu. Lập gia đình và có bốn con, Ngài đã lo lắng chu toàn bổn phận của người chồng, người cha gia đình công giáo. Bên cạnh đó Ngài còn gắn bó yêu mến Giáo Hội, lo lắng bảo vệ cho các Đấng thừa sai trong công cuộc truyền giáo. Chính vì liên lụy đến việc chở các vị thừa sai từ Singapore về Việt Nam mà Ngài đã bị bắt, bị kết án chém đầu và chôn tại họ đạo Chợ Quán.

Cả cuộc đời, ngài đã luôn gắn bó với chủ chiên, và sống như một con chiên ngoan hiền trong đàn chiên của Chúa. Mẫu gương và đời sống của ngài mời gọi mỗi chúng ta, đặc biệt anh chị em họ Mathêu Gẫm, hãy cổ võ và quảng đại dâng con cái cho Chúa trong đời sống tu trì. Đồng thời, luôn biết là những con chiên ngaon hiền trong đoàn chiên Chúa, bằng cách vâng nghe lời chủ chiên, hiệp nhất gắn bó với anh chị em chung quanh. Nhất là biết hợp tác và rộng rãi chia sẻ, góp phần làm cho đoàn chiên ngày càng lớn mạnh thăng tiến. Có như vậy việc mừng lễ bổn mạng hôm nay mới thực sự tôn vinh Thiên Chúa, ngợi khen thánh Mathêu Gẫm, và đồng thời đem đến cho mỗi chúng ta lòng nhiệt thành hăng say dấn thân phục vụ Chúa và Giáo Hội như thánh Mathêu Gẫm nêu gương. Amen.

 

 

Lòng Thương Xót Của Chúa

 

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

 


Chuyện kể rằng, trong thời kỳ bắt hại đạo có một linh mục đã mạnh dạn can đảm tuyên xưng niềm tin của mình đến chết. Khi bị đánh đập, ngài vẫn không hề run rẩy mà xưng ra rằng tôi tin. Lý hình cho cắt lưỡi, ngài lấy tay chấm máu từ lưỡi ngài mà viết : Tôi tin. Quá tức giận vì không lay chuyển được một niềm tin kiên cường và bất khuất của vị linh mục, lý hình đã cho chém đầu người tôi trung của Chúa.

Vị linh mục anh hùng kia đã không đòi thấy rồi mới tin. Nhưng ngài đã tin để được thấy. Mỗi người đều biết rằng, đã mang thân xác con người – ai cũng sợ roi đòn lao tù, cũng đều ham sống sợ chết. Vây mà vị linh mục trên đã không hề lùi bước trước những lao luỵ, gian đau khổ, ngay cả đến cái chết. Niềm tin trung kiên của ngài, hẳn đã làm cho những người có mặt thấy thế nào là đức tin của người Kitô hữu.

Niềm tin ấy cũng đã từng được các tín hữu đầu tiên trân trọng và thực hành một cách rất sống động và phong phú. Sách Tông Đồ Công Vụ hôm nay sẽ minh hoạ điều đó.

Được lãnh nhận niềm tin nơi các Tông đồ, các tín hữu sơ khai đã không ngừng củng cố và làm cho niềm tin thêm vững mạnh, nhờ vào việc lắng nghe giáo huấn của các Tông đồ. Hơn nữa, họ còn làm cho đức tin ấy ngày càng triển nở, và đâm rễ sâu bởi một đời sống gắn bó với Đức Kitô trong cầu nguyện và hiệp thông bẻ bánh. Như một kết quả hiển nhiên, đức tin của các tín hữu ấy dẫn đến một đời sống hiệp nhất yêu thương, công bình và bác ái để không ai thấy mình còn bị thiếu thốn. Từ đó , họ trở thành một cộng đoàn Kitô hữu đạo đức, vui vẻ, dễ thương, mở đường cho nhiều người qua đó được  trở về cùng Thiên Chúa.

Tuy nhiên, niềm tin mà các Tông đồ đắc thủ để chuyển thông cho các tín hữu, đã phải trải qua rất nhiều những thăng trầm vất vả : Một Thiên Chúa quyền năng thế mà lại tỏ ra quá yếu đuối trước những lời nhục mạ, dể duôi của kẻ thù. Từng thực hiện biết bao phép lạ, kể cả cho người chết sống lại, vậy mà Con Thiên Chúa lại không xuống được khỏi cây thập giá, mà dạy cho kẻ thù của Ngài bài học lễ độ. Vì vậy, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi biết rằng Chúa Giêsu sau khi chịu chết và chôn trong mồ đá thì các Tông đồ, kẻ thì bỏ trốn về quê như hai môn đệ Emmau, số còn lại trốn chui lủi trong phòng kín.

Cảm thông điều đó, nên Chúa Giêsu đã nhiều lần hiện ra cùng các Tông đồ, cho họ xem tay chân và cùng ăn uống với họ, để củng cố niềm tin cho các ông. Ngài cũng không hề khó chịu chấp nhận trước sự cứng cỏi của Tôma : Nếu tôi không thấy các vết thương. Nếu tôi không thọc bàn tay các lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, thì tôi không tin. Hiện ra với Tôma hôm nay, Chúa không chỉ muốn củng cố niềm tin của Tôma mà còn của mỗi chúng ta, những con người vốn quá dòn mỏng và yếu tin. Hơn nữa Ngài muốn chúng ta hiểu rằng, niềm tin không phải là món hàng vay mượn, nhưng còn là niềm xác tín của mỗi cá nhân, của từng người : Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con .

Có được niềm tin và sự xác tín vào Chúa đã là khó, nhưng  còn khó hơn nhiều trong việc giữ và củng cố đức tin của mình. Ý thức điều này nên thánh Phêrô trong thư thứ I hôm nay đã an ủi và khích lệ chúng ta rằng : “Anh em hãy vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin anh em. Anh em hãy hớn hở vui mừng, đầy hãnh diện hiên ngang và chan chứa niềm vui khôn tả, vì đã nắm được thành quả của đức tin anh em là ơn cứu độ”.

Niềm tin và ơn cứu độ của Đức Kitô đã được ban tặng cho nhân loại hơn 2000 năm qua. Vậy mà cây đức tin xem ra vẫn chưa bén rễ sâu nơi lòng giáo xứ và mỗi chúng ta. Trái lại vẫn đang từng ngày bị lung lay và chao đảo bởi một lối sống phù phiếm xa hoa và tội lỗi. Vì thế bài Tin Mừng hôm nay phải là một dịp để khơi lên và làm cho đức tin của chúng ta ngày càng bén rễ và chín muồi :

*  Đức tin có được nhờ nghe . Các tín hữu sơ khai đón nhận đức tin và không ngừng làm cho đức tin triển nở nhờ vào việc siêng năng lắng nghe lời rao giảng của các Tông đồ. Hôm nay, chúng ta có biết chăm lo vun xới cây đức tin của chúng ta, bằng việc học hỏi giáo lý, siêng năng cầu nguyện, tham dự thánh lễ, và lắng nghe lời của Chúa qua các vị chủ chăn ?

*   Đức tin không việc làm là đức tin chết. Niềm tin của các tín hữu sơ khai, đã không hề bị đóng khung,  nhưng luôn được cụ thể, biểu thị cách sống động bởi một đời sống đoàn kết yêu thương, phục vụ quên mình, chuyên chăm cầu nguyện và bẻ bánh. Hôm nay gia đình tôi, bản thân tôi đã có việc làm gì, dấu chỉ nào để biểu hiện đức tin của tôi với Chúa và tha nhân, với đồng loại.

*  Anh em hãy vui mừng, mặc dù còn phải ưu phiền giữa trăm chiều thử thách. Lời của thánh Tông đồ Phêrô có thôi thúc chúng ta mạnh dạn can đảm tuyên xưng đức tin và sống đức tin, để giữa đau khổ luôn vui tươi, giữa khó khăn luôn trông cậy, giữa thử thách luôn kiên trì, giữa thất bại luôn tin tưởng, giữa yếu đuối luôn phó thác, giữa nghi kỵ luôn yêu thương không?

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con. Lời các Tông đồ xưa thưa với Chúa cũng là tâm tình của chúng con trong giờ phút này.

Xin Chúa cho chúng con, một lần như Tôma được xác tín vào Chúa, thì cũng sẵn sàng hiên ngang rao giảng về Chúa, để không phải nhờ thấy mới tin, nhưng nhờ tin mà chúng con sẽ được thấy mọi sự. Amen.

 

 

Chúa Đã Sống Lại- Alleluia

 

LỄ  PHỤC  SINH


 

“ Cánh Bướm Mùa Xuân”, vũ khúc do các em thiếu nhi thành phố thực hiện trên đài truyền hình cách đây ít lâu, đã gieo vào lòng người xem một sự hấp dẫn và thích thú. Nhìn các em nhẹ nhàng uyển chuyển theo lời bài hát, điệu múa, dễ làm người xem liên tưởng đến những cánh bướm muôn màu sặc sỡ, vẫn luôn có mặt để điểm tô cho mùa xuân của con người thêm tươi vui và ngập tràn sức sống. Phải chăng cũng từ ý nghĩa ấy mà Giáo Hội thường coi bướm như là biểu tượng của mùa Phục Sinh, của sự sống mới.

Ai lại chẳng hiểu rằng cánh bướm xinh đẹp duyên dáng kia là kết quả của chú sâu róm lột xác. Để ý quan sát chúng ta thấy : sâu chỉ biết bò chầm chậm sát đất, còn bướm thì nhởn nhơ trong không gian thơm ngát hương hoa của mùa xuân. Sâu chỉ sống bám dưới gốc cây kẽ lá, còn bướm thì lượn quanh những khóm hoa muôn sắc rực rỡ. Sâu làm người ta sợ và gây thiệt hại cho hoa quả, còn bướm đem lại niềm vui, tô điểm thêm vẻ đẹp của đất trời. Thế nhưng sâu và bướm lại là biến thể của cùng một thực tại. Đó là mầu nhiệm thâm sâu của thiên nhiên, của cuộc sống, của Đức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh.

Thật vậy, cũng như chú sâu róm xấu xí hèn hạ, đã phải chui vào cái tổ kén nhỏ hẹp đen tối của mình để lột xác, trước khi biến dạng thành một nàng bướm nhẹ nhàng kiêu diễm, thì Đức Kitô trước khi bước vào vinh quang Phục Sinh, cũng đã từng trải qua những giờ phút đau thương sỉ nhục và tăm tối nơi mồ đá ba ngày. Cả cuộc đời, Ngài chỉ biết sống phục vụ yêu thương. Thế nhưng những gì Ngài nhận lại, chỉ là những phản bội bất trung, thù ghét và cái chết nhục nhã trên Thập giá. Bài học mà Ngài để lại cho ta qua cuộc tử nạn Phục Sinh, đã giúp ta có thể hiểu mình, hiểu người, hiểu đời hơn. Cảm nhận ra chân giá trị của cuộc sống để học biết kiên nhẫn, cảm thông, thứ tha tự hạ và tự thoát. Phải chăng cái giá của sự sống là phải đi qua cái chết : “Đức Kitô phải trải qua đau khổ mới bước vào vinh quang”.

Chân lý này xem ra quá đơn giản, nhưng để có thể xác tín thì không dễ dàng tí nào. Hai Tông đồ Phêrô và Gioan mà Tin Mừng ghi lại đã theo chân các phụ nữ ra thăm ngôi mộ Chúa. Họ thấy có các dây băng và khăn liệm nhưng lại không có xác Ngài, nên các ông vẫn chưa tin dù từng nghe biết trước: “Theo Kinh Thánh, Ngài phải sống lại từ cõi chết”. Chỉ sau này, khi được Chúa nhiều lần hiện ra và qua Thánh Thần tác động, các ông mới có được niềm xác tín ấy và sẵn sàng làm chứng cho mọi người rằng: Đức Giêsu chính là Đấng mà người ta đã treo trên Thập giá, nhưng ngày thứ ba Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại. Đây không chỉ là nền tảng, là niềm hy vọng, mà còn phải trở thành điểm tựa, sức bật và là một kinh nghiệm sống mầu nhiệm Phục Sinh của mỗi Kitô hữu : “Anh em thân mến, anh em đã chỗi dậy làm một với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa”. Vì vậy, tất cả những gì phải làm lúc này, là hãy cởi mở tâm hồn mình, dấn bước theo ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh :

- Mỗi lần chúng ta khước từ dịp tội, cám dỗ và lôi cuốn của ma quỷ, thế gian, xác thịt, là chúng ta đang tham dự vào quyền năng Phục Sinh, là rũ bỏ kiếp sâu bọ hèn hạ tầm thường mà mặc lấy vẻ đẹp rực rỡ của những cánh bướm trong vườn xuân Thiên Quốc.

- Mỗi lần chúng ta kiên trì cầu nguyện giữa đơn côi bệnh tật, nỗ lực cố gắng sau những cứng cỏi thất bại, luôn tin tưởng tín thác sau những phản bội bất trung, là chúng ta đang làm cho sứ điệp Phục Sinh tái hiện trong chính bản thân mình.

- Mỗi khi chúng ta thắp lên lửa tin yêu, hy vọng giữa bóng đêm của hụt hẫng khổ đau, chấp nhận dấn thân phục vụ ngay trong lừa lọc lợi dụng ; quảng đại để tha thứ dù bị vu khống lên án và đay nghiến, là lúc chúng ta làm cho niềm tin Phục Sinh được rực sáng giữa bầu trời đen tối của nhân loại đau thương.

Giữa bóng đêm âm u của sự chết, Anh Sáng Phục Sinh của Đức Kitô đã tỏ hiện. Bình minh của ngày thứ I, ngày Chúa nhật Phục Sinh không chỉ xua tan đi băng giá của tội lỗi bất hạnh, nhưng còn khơi lên biết bao niềm vui và hy vọng. Sự sống đã xuất hiện trước tiên và trên hết cho những mảnh đời vỡ vụn nơi Maria Mad, nơi các Tông đồ. Từ nơi họ, sứ điệp Phục Sinh đã được loan đi, và vang xa đến tận cùng trái đất. Sứ điệp ấy là: Không gì có thể huỷ diệt chúng ta dù là đau khổ, tội lỗi, chối từ và kể cả sự chết. Sứ điệp Phục Sinh ấy là Đức Kitô đã ngự bên hữu Thiên Chúa, để từ đây mở đường khai lối và dẫn đưa chúng ta về trời.

Như các Tông đồ, như Maria Mad, chúng ta hãy làm cho niềm xác tín của ta vào Chúa thêm mãnh liệt, sâu xa nhờ lắng nghe, suy niệm lời Kinh Thánh, gặp gỡ Ngài nơi Bí Tích Thánh Thể, qua anh chị em nghèo khổ bất hạnh. Với sức mạnh tình yêu Phục Sinh, chúng ta sẽ không chỉ phá đổ mọi bức tường của tội lỗi, san bằng những núi đồi của ích kỷ hận thù, xua tan những băng giá của chán chường thất vọng, cay cực nước mắt. Chắc chắn một khi đã chấp nhận đi vào mầu nhiệm tử nạn giữa những đau khổ hy sinh, quên mình phục vụ, như đi vào trong tổ kén nhỏ hẹp tăm tối, chúng ta sẽ có dịp để hoá thân thành những cánh bướm sặc sỡ, nhởn nhơ trong vườn xuân thên quốc, nơi ngập tràn ánh sáng và tình yêu của Chúa Kitô Phục Sinh. Amen.

 

 

Bổn mạng và lễ giỗ tháng 4




 

Tam Nhật Thánh.

                                             TAM NHẬT THÁNH LÀ GÌ?



Tam Nhật Thánh là cao điểm quan trọng nhất của Năm Phụng Vụ, thường được gọi với các tên như: Tam Nhật Thánh (Holy Triduum), Tam Nhật Vượt Qua (Paschal Triduum), Tam Nhật Phục Sinh (Easter Triduum). Đây là trung tâm điểm của đức tin Kitô giáo: sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô.

Từ “Triduum” có gốc tiếng Latinh nghĩa là “ba ngày”:

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Năm và kết thúc vào chiều tối Thứ Sáu.

Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Sáu và kết thúc vào chiều tối Thứ Bảy.

Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday) bắt đầu từ chiều tối Thứ Bảy và kết thúc vào chiều tối Chúa Nhật.

Tam Nhật Thánh bắt đầu từ chiều Thứ Năm Tuần Thánh và kết thúc vào Kinh Chiều (Evening Prayer ) của Chúa Nhật Phục Sinh. Tam Nhật Thánh bao gồm 3 ngày trọn vẹn: bắt đầu và kết thúc vào chiều tối. Như vậy, Tam Nhật Vượt Qua bao gồm: Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday), Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday), Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday), Đêm Vọng Phục Sinh (Great Easter Vigil), đỉnh cao của Tam Nhật Thánh, và Chúa Nhật Phục Sinh (Easter). Nếu tính theo cách của người Việt Nam, thì không phải ba ngày, mà là, bốn ngày: Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy, Chúa Nhật.

Tam Nhật Thánh là một phần của Mùa Chay, nên, Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy Tuần Thánh vẫn được tính vào 40 ngày Mùa Chay truyền thống.

Tam Nhật Thánh tưởng niệm Mầu Nhiệm Thánh Thể (Bí tích của các Bí tích), Mầu Nhiệm Tử Nạn và Mầu Nhiệm Phục Sinh vinh quang của Chúa Giêsu vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Các Mầu Nhiệm quan trọng của Tam Nhật Thánh, cùng với Mầu Nhiệm Thăng Thiên làm nên Mầu Nhiệm Vượt Qua (Paschal Mystery).

Lễ Truyền Dầu trước Tam Nhật Thánh: Sở dĩ được gọi là Lễ Truyền Dầu, bởi vì, trong Thánh Lễ này, Đức Giám Mục sẽ thánh hiến dầu SC (Sacrum Chrisma), để dùng vào việc thánh hiến, và làm phép dầu OS (Oleum Sanctum) hay OC (Oleum Catechumenorum), để dùng cho dự tòng, và dầu OI (Oleum Infirmorum), để dùng cho bệnh nhân. Dầu được làm phép: OI - Dầu Ông I đi kẻ liệt; OS hoặc OC - Dầu Ông Sáu, Dầu Ông Cha thoa dự tòng. Dầu được thánh hiến: SC - Dầu Siêu Chuẩn thuần thánh hiến: được dùng để thánh hiến nhà thờ, bàn thờ, và được dùng trong các bí tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh.

 Lễ Truyền Dầu còn có mục đích tưởng niệm việc Đức Giêsu lập Bí Tích Truyền Chức Thánh, tấn phong một số người được tuyển chọn lên làm Linh Mục, ban cho các ngài quyền hành động nhân danh Đức Kitô để làm những việc, mà đúng ra, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể làm, như tái diễn hy lễ của Đức Kitô trên Thánh Giá, tha tội cho con người... Lễ Truyền Dầu liên quan trước tiên đến các Linh Mục, vì thế, vào một ngày thích hợp trước Tam Nhật Thánh, các Linh Mục Giáo Phận quy tụ về xung quanh Vị Chủ Chăn Giáo Phận để cử hành Thánh Lễ Truyền Dầu, trong đó, các ngài sẽ lặp lại lời thề với Đấng Bản Quyền: hứa trung thành với Sứ Vụ Linh Mục đã được trao phó cho mình.

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB