Chúa Thăng Thiên

 

        LỄ CHÚA THĂNG THIÊN

 


“ Hỡi các người xứ Galilêa, sao các bạn còn đứng nhìn về trời”.

Lời của thiên sứ như muốn nhắc cho các tông đồ về một Mạc Khải quan trọng: Chúa Giêsu vinh thăng lên trời. Đồng thời cũng muốn nói với các ông muốn lên trời không phải đứng nhìn mà hãy bước theo con đường Đức Kitô, con đường hẹp của sự từ bỏ hy sinh, của việc vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.

Xin cho Lời Chúa soi dọi tâm tư, uốn nắn đời sống và khơi lên trong chúng ta về niềm hy vọng một cuộc sống vinh quang với Chúa, để nhờ đã nỗ lực và cố gắng sống đi vào con đường hẹp của Chúa, chúng ta cũng được chia sẻ với Ngài trên nước trời.

Có những sự thật khó tin, nhưng vẫn thường xảy ra. Chẳng hạn việc người chết rồi mà hai mắt vẫn mở. Chỉ khi có một người thân từ xa về, người chết mới chịu nhắm đôi mắt lại. Đôi mắt khép lại để nói lên sự hoàn toàn toại nguyện, không còn gì trăn trở, bức xúc khi phải lìa xa người thân. Điều này phần nào giúp ta hiểu tại sao sau khi phục sinh từ cõi chết, Đức Kitô vẫn còn ở lại với các tông đồ 40 ngày, rồi mới lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa. Phải chăng Ngài còn nhiều điều phải dạy, nhiều tâm sự cần được chia sẻ cùng đoàn môn đệ về Chúa Cha, về Đấng bầu chữa, về việc thiết lập Giáo Hội, và nhất là về sứ mạng cứu thế mà các ông phải tiếp tục sau khi Chúa về trời.

Cuộc chia tay nào cũng để lại nhiều bịn rịn xót xa, thổn thức và luyến nhớ. Vậy mà cuộc ra đi trở về với Chúa Cha của Đức Kitô, lại đang mở ra niềm hy vọng chan chứa, mang theo cái nhìn mới về cuộc tử nạn phục sinh, dệt nên ý nghĩa đời người Kitô, và hướng đến một tương lai tươi sáng dành cho ai trung thành bước đi theo Ngài.

Thật vậy, những gì mà thánh ký Matthêu thuật lại, về cuộc giã từ các tông đồ, không đưa các ông đến với tâm trạng u ám, chán nản. Vì hôm nay, Chúa Giêsu về trời là để được tôn vinh và đã ngự bên hữu Thiên Chúa, mà còn là để cdọn chỗ cho chúng ta để Ngài ở đâu chúng ta sẽ ở đó với Ngài. Mạc Khải này giúp ta nhìn ra hoa trái của công cuộc tử nạn phục sinh nơi Chúa: đau khổ là đường dẫn đến vinh quang; thập giá là nấc thang đem đến triều thiên nước trời. Cùng với lời Mạc Khải còn là lời mời gọi cho một sứ vụ: Hãy làm cho sự hiện diện của Chúa Kitô được mở rộng đến với mọi tâm hồn. Đây cũng chính là việc làm cho quyền lực của Chúa Kitô phục sinh được biểu lộ trong lòng thế giới: “Các con hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy”.

Việc để cho lời Chúa thấm nhập tác động vào quả tim chai đá của nhân loại không phải là việc dễ dàng và nhất thời. Vì để trở thành môn đệ Chúa Kitô, người ta phải thay đổi nếp sống cũ, tẩy rửa khỏi mọi nết xấu, và không ngừng sống theo các lời khuyên phúc âm, là những điều hoàn toàn đi ngược lại với bản tính tự nhiên, với con người yếu đuối. Nhìn ra được điều này nên Ngài đã đưa ra cho các tông đồ một lời hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Qua Đấng bào chữa là Thánh Thần, Ngài đang tiếp tục hiện diện để củng cố niềm tin, tăng cường sức mạnh, giúp ta vượt thắng và đi trọn con đường trần gian về tới thiên quốc.

Giáp mặt với cuộc sống hôm nay, một cuộc sống có quá nhiều những lam lũ, vất vả, cay nghiệt, khiến chúng ta không còn nghị lực để ngước nhìn lên cao, và không sao tránh khỏi những bi quan, chán nản tuyệt vọng. Hôm nay Chúa Giêsu đã về trời. Đây chính là một bảo đảm dành cho những người môn đệ Chúa Kitô, về một cuộc sống, một số phận hạnh phúc với Ngài trên trời. Nhìn ra điều đó để mỗi người biết sẵn sàng chính đốn đời sống, uốn nắn tâm tư, và khắc phục tính ươn hèn để sẵn sàng đi vào con đường hẹp, đường đau khổ, nhưng cũng là đường dẫn đến nước trời.

 -    Trong lúc dạy dỗ các tông đồ, Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc nhở : Đức Kitô phải chịu nhiều đau khổ rồi mới bước vào vinh quang. Chúng ta hôm nay có ý thức qui luật chết đi để được sống, đau khổ đưa đến hạnh phúc, để biết nỗ lực từng ngày chiến đấu với tội lỗi, đẩy lùi sự ác, và sẵn sàng theo Chúa đi vào con đường hẹp của thập giá qua những trách nhiệm bổn phận hằng ngày, cùng kiên trì nhẫn nại sống và tìm kiếm ý Chúa chưa?

-     Quê hương chúng ta ở trên trời. Bài học vỡ lòng mà chúng ta được dạy từ tấm bé, có giúp chúng ta vượt ra khỏi ra khỏi sự tha hoá và cám dỗ trần gian, để không quá bám víu vào trần gian, vào sự giàu sang, địa vị chức quyền, cùng những đam mê trần thế, mà luôn sống hết lòng tận trung thờ phượng kính mến Chúa; nhiệt tình chia sẻ và giúp đỡ tha nhân; luôn chân thật, không giả dối môi mép với anh chị em chung quanh chưa?

-    Chúa về trời nhưng không bỏ chúng ta mô côi. Ngài hứa ban Đấng bầu chữa đến chúng ta và giúp chúng ta sống trọn ơn gọi Tông đồ, loan báo và nhân chứng Tin Mừng. Chúng ta đã biết cộng tác với Chúa Thánh Thần, thắp sáng ngọn lửa chứng nhân, góp phần làm cho sự hiện diện của Chúa Phục Sinh được nhận biết, được đón nhận nơi mọi tâm hồn, mọi môi trường bằng đời sống vui tươi, hòa nhã, hiền lành và thứ tha, khiêm nhu và phục vụ  như chính Ngài đã dạy và nêu gương chưa?

Lạy Chúa, cuộc đời trần gian với quá nhiều những giả dối đảo điên, quá nhiều những thú vui và đam mê hưởng thụ, khiến chúng con lúc nào cũng hoài nghi và không còn nghĩ gì về đời sau, về cuộc sống mai hậu trên trời.

Mừng lễ Chúa Lên Trời, một cơ hội để mỗi chúng con hướng lòng về trời cao, cùng sẵn sàng đi vào nẻo đường Chúa đã đi, con đường hi sinh phục vụ, vâng lời cho đến chết và chết trên Thập giá. Chúng con tin rằng : nhờ đã cố gắng không ngừng dõi theo vết chân của Chúa, từng ngày chấp nhận chết đi cho tội, sống cho anh em, chúng con cũng sẽ đạt đến hạnh phúc là được lên trời với Chúa. Amen.

 

 

 

 

Đấng Bảo Trợ

 

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH



 “Không phải ai kêu : Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào nước trời, nhưng là những kẻ nghe và  giữ lời Chúa”. Con đường đến với Cha, đến với hạnh phúc là con đường của tình yêu, của việc lắng nghe và thực hành Lời Thiên Chúa.

Mẫu gương tự hiến của Chúa trên thập giá, được tái hiện trong Thánh lễ hôm nay, chính là lời mời gọi cho mỗi người môn đệ Chúa Kitô, để đáp trả lại tình yêu của Đấng đã yêu ta và kêu gọi ta chia sẻ hạnh phúc vinh quang với Ngài, qua việc lắng nghe và thực hành theo thánh ý Chúa.

Nhiều nhà chú giải Kinh Thánh vẫn cho rằng, để bù lại 3 lần chối Thầy nơi dinh thượng tế Caipha, Phêrô cũng 3 lần tuyên chứng niềm tin vào Chúa sau khi được Ngài hiện ra bên bờ biển Tibêria. Bên cạnh tấm lưới con thuyền, Chúa đã lên tiếng hỏi Phêrô : Phêrô con có yêu mến Thầy không? Cả 3 lần ông khẳng định : Thưa Thầy có. Và ông còn qủa quyết thêm : Thầy biết con yêu mến Thầy.

Sau những lời xác quyết ấy, là những lần biểu lộ lòng yêu mến, gắn bó cùng Thầy : Lúc mệt nhọc để đi rao giảng Tin Mừng ; khi nhân danh Thầy chữa bệnh và trừ quỉ. Tuy nhiên, có lẽ điều làm chứng cho lòng yêu mến của Phêrô là khi ông đứng trước công nghị của người Do Thái. Cùng với những đe dọa, còn là những roi vọt, tù đày. Thế mà, dầu tuổi già bị đoạ đày bởi những sỉ nhục, ngắn cấm, đòn vọt, Phêrô vẫn không sờn lòng tin yêu vào thầy, khi dõng dạc nói với các kỳ mục Do Thái rằng : “ Xin các ông xét cho, trước mặt Thiên Chúa, vâng lời các ông hay vâng lời Thiên Chúa, đằng nào chính đáng hơn”.

Thế là đã rõ! Không một mảy may nghi ngờ về lòng yêu mến của Phêrô, một lòng yêu mến được cụ thể hoá một cách sống động, rõ nét qua việc vâng giữ lời Thiên Chúa. Điều này một lần nữa làm chứng cho chân lý mà Chúa Giêsu hôm nay đang ngỏ với chúng ta: “Ai yêu mến Ta thì tuân giữ Lời Ta”.

Chân lý này thực ra chẳng có gì là mới mẻ , nhất là với những ai đã một lần yêu thương hay được yêu thương. Khi yêu ai, ta dễ có khả năng từ bỏ quan điểm riêng của mình, để sống phù hợp tối đa với ý muốn và ước vọng của họ. Kẻ yêu mến tự biến đổi trong ánh mắt kẻ họ yêu thương. Một thứ cộng sinh tương hỗ được hình thành : Ước vọng của bạn cũng là ước vọng của tôi ; ý muốn của bạn cũng là điều tôi ước muốn ; tư tưởng của bạn trở thành suy nghĩ của tôi. Hai đời sống đã chỉ còn là một.

Đây không chỉ là ý thuyết, nhưng là kinh nghiệm, được rút ra từ chính cuộc đời Đức Kitô. Thật vậy chính qua Đức Kitô, chúng ta học biết đâu là một tình yêu chân chính, trọn vẹn, hoàn hảo. Là Ngôi Lời Thiên Chúa, nhưng để tỏ lòng yêu mến Chúa Cha, và nhân loại, Ngài đã chấp nhận đi vào chương trình của Chúa Cha qua con đường nhập thể : Này Con xin đến để thi hành ý Cha. Và ý Cha là muốn Chúa Giêsu tự hiến trên Thập giá. Đây không chỉ là một ý định nhưng là một cuộc vượt qua mà đức Kitô phải thực hiện, dẫu mang nhiều dáng dấp của đau khổ nà nghiệt ngã: “Lạy cha nếu có thể xin cất chén đắng khỏi con nhưng đừng theo ý con, một theo ý Cha”. Chỉ khi vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá, Chúa Giêsu mới mãn nguyện mà  thưa lên cùng Cha : “Lạy cha mọi sự đã hoàn tất”.

“ Nếu chúng con yêu mến Thầy chúng con hãy tuân giữ Lời Thầy. Thầy sẽ xin với Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng phù trợ”. Hôm nay, khi mời gọi chúng ta hãy thể hiện tình yêu mến Chúa bằng việc làm vâng giữ Lời Thiên Chúa, Ngài cũng biết rằng với phận hèn sức yếu, chúng ta khó có thể làm trọn và giữ hết điều Chúa dạy. Vì vậy, Ngài trao ban thần khí sức mạnh đến với chúng ta như là một trợ lực cần thiết, để không chỉ biến lý thuyết thành việc làm, mà còn làm cho những việc tuân giữ Lời Chúa đi đến chỗ kiện toàn và viên mãn.

“ Tình yêu Đức Kitô thúc đẩy tôi”. Dòng suối tình yêu đã cuốn hút thánh Phaolô từ con suối nhỏ cuộc đời hoà nhập vào tình yêu biển khơi là Thiên Chúa. Hôm nay, tình yêu ấy cũng đang vẫy gọi tôi, gọi ông bà anh chị em, những người môn đệ của Đức Kitô. Chúng ta có sẵn sàng để mở rộng lòng mình, đáp lại tiếng vọng yêu thương của Đấng đã chết vì chúng ta chưa :

-    24 tuổi xuân với 9 năm giam mình trong Dòng Kín Lisieux, nữ tu Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã hoạ lại con đường tình yêu một cách trọn vẹn và hoàn hảo, qua nỗ lực cố gắng để dệt tiếng đàn của mình theo cung lòng của bạn tình Giêsu. Còn tình yêu của tôi với Chúa hôm nay thế nào : có phải một tình yêu còn nhiều so đo, còn lắm tính toán, ích kỷ: mau mắn  đi theo Chúa, giữ lề luật Chúa khi có lợi, lúc gặp may và sẵn sàng từ chối thao lui, trốn chạy khi gặp thử thách, bệnh tật, tai nạn, thiếu thốn không ?

-    Không ai có thể tách tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô. Lời của thánh Phaolô quả là một thách đố với chúng ta. Với Ngài, cuộc sống sau khi trở lại là quyết tâm để loan báo tình yêu của Chúa cho anh em lương dân, là đem mọi người trở về cùng Chúa. Còn tôi, tôi có nhìn ra hoài bão cứu thế của Chúa , để không ngừng loan báo và làm chứng nhân cho tình yêu Chúa, bằng một nếp sống đức tin sâu sắc, bằng những dấn thân sống cho lý tưởng công bằng bác ái, và nỗ lực để giúp anh em vượt qua vũng cạn của nghèo đói, bệnh tật bất hạnh chưa?

-    Ai yêu Ta giữ Lời Ta. Lời Chúa vẫn đang lên tiếng qua Kinh Thánh, qua biến cố, qua tiếng lương tâm và rõ rệt hơn là qua Giáo Hội. Chúng ta có mau mắn nhìn ra để lắng nghe, đón nhận, cộng tác và góp phần làm cho ý Chúa qua các bề trên, được thực hiện và kiện toàn, hay chúng ta đã khéo léo từ chối, bỏ ngoài tai , và tệ hại hơn là phê bình, chỉ trích, tìm cách cản trở và gây khó khăn không?

Lạy Thầy, Thầy biết chúng con yêu mến thầy. Phêrô đã minh chứng tình yêu dành cho Chúa bằng chính việc trung thành thực hiện ý Chúa  giữa những đau thương , thử thách và nhất là cái chết tử đạo của mình. Còn chúng ta, liệu chúng ta có dám trả lời với Chúa như Phêrô xưa không? Điều này tuỳ thuộc cách sống của chúng ta, biểu hiện qua việc có vâng nghe và trung thành giữ Lời Chúa hay không ? Amen.

Chút Tâm tình Tháng Hoa

Đức Mẹ đã đưa tôi vào đạo

 


“Tôi là người con gái kế út trong gia đình 9 anh chị em. Tôi không rõ ba tôi có là tín đồ Phật giáo không, nhưng ba tôi thích phóng sinh các con vật như chim, cá, rùa mỗi năm vài lần. Mỗi lần rất nhiều và tổ chức long trọng lắm. Ba tôi rất thương vợ con, và rất ghét những gì gian dối, đặc biệt là ba tôi luôn sẵn lòng giúp đỡ những người kém may mắn. Má tôi thì hết lòng xây dựng gia đình, hết lòng thương con cái. Tôi chưa hề thấy má tôi lớn tiếng la mắng con cái, nhưng luôn kiên nhẫn dùng lời phân tách giảng giải cho các con. Má tôi thật là tín đồ sùng bái Phật giáo và rất thương người.

Trong khi đó, nhìn ra lối xóm, thấy có nhiều người dữ dằn, nhiều người đàn bà lúc nào cũng sẵn sàng tuôn ra những lời chửi bới nguyền rủa con cái hay người khác cách độc ác, trong những người này, có nhiều người theo đạo Thiên Chúa (Công giáo). Lớn lên, khi tôi đi học, tôi cũng gặp nhiều người bạn Công giáo, những người này thường hay khinh miệt các tôn giáo khác, mà bản thân họ chỉ thấy cuồng tín, ích kỷ, chứ không có gì nói lên rằng đạo Công giáo là hay là tốt. Do đó, đầu óc tôi mamg những ý tưởng e dè mấy người Công giáo, cho tới khi trưởng thành tôi vẫn luôn nghĩ là sẽ KHÔNG BAO GIỜ theo đạo Công giáo.

Khi tôi quen chồng tôi, tôi không biết anh là người miền Bắc và Công giáo, vì anh nói giọng Nam. Anh lôi cuốn tôi, vì tôi thấy anh biết quan tâm tới cha mẹ và các em của anh, nên tôi nghĩ rằng anh có thể là người chồng tốt. Tới khi biết anh là người Bắc và Công giáo tôi rất phân vân. Tôi viết thư hỏi ý kiến ba má tôi. Ba má tôi để tôi tự do, và có lần khuyên tôi nên theo Công giáo cho đồng vợ đồng chồng. Chồng tương lai tôi cũng thuyết phục nhiều lần, dầu vậy, tôi quyết không theo Công giáo. Làm sao tôi quên được những ám ảnh từ hồi còn nhỏ về những người Công giáo kia. Sau cùng ảnh nhượng bộ: Đạo ai nấy giữ, nhưng với vài điều kiện tôi phải chấp nhận theo giáo luật như cho con rửa tội, và dạy con theo tinh thần đạo, không được cố tình ngăn cản anh theo đạo anh…Tôi thấy mỗi bên nhượng nhau một chút cũng là phải, nên tôi chấp nhận. Trong thời gian này, tôi theo học khóa dự bị hôn nhân. Tôi quen biết và kính trọng các linh mục, nhất là cha bác của chồng tôi. Tôi được làm lễ Gia Tiên, làm hôn phối trong nhà thờ, được các cha quan tâm, mến chuộng cách sống của chồng tôi, nhưng tôi vẫn không đổi ý, nhất quyết không theo Công giáo. Điều này làm phật ý bố mẹ chồng tôi, là những người Công giáo gốc, tôi biết những tiếng xì xèo, bóng gió, nhưng tôi cứ nín thinh, cho tới khi sinh đứa con thứ hai, thì sự cay đắng với cha mẹ chồng đã vượt quá sức chịu đựng của tôi. Tôi nảy mầm thù ghét đạo Công giáo. Thời gian này tôi được hung tin từ VN: Má tôi vĩnh viễn ra đi. Nghe tin ấy, tôi đau buồn tới ngã quị. Người mẹ mà tôi sùng bái như mẫu gương hy sinh đã không còn nữa. Người mẹ mà từ ngày rời gia đình tôi vẫn mang theo trong lòng để có sức phấn đấu nơi quê người. Suốt mấy tháng, tôi sống thẫn thờ, tâm hồn tan nát, nước mắt tuôn tràn. Vào lúc tôi ở trong tận đáy của đau buồn thì Đức Mẹ đã soi dẫn tôi.

Nếu tôi nhớ không lầm thì sau khi điều đình với chồng tôi, và chúng tôi bàn nhau, dù tôi không rõ đón tượng Đức Mẹ để làm gì, nhưng chiều ý chồng tôi, tôi bằng lòng chuyện ấy. Chiều ngày 22/7/1995, bác Phổ đưa tượng Đức Mẹ đến nhà tôi, có thêm vài gia đình trong Khu xóm đến đọc kinh. Tôi không dự. Tượng Đức Mẹ ở lại nhà tôi một tuần. Tối nào chồng tôi cũng bế con, thắp nến cầu nguyện cách rất sùng kính trước tượng này. Tôi để mặc, không nghĩ gì.

Rồi hôm thứ Tư tuần đó, vào buổi trưa, sau khi đã dỗ cho 2 đứa bé ngủ, tôi ngồi một mình ở ghế sôpha nhìn lên tượng Mẹ, tâm hồn tôi trống vắng, nhìn mà không có chút ý tưởng nào hết. Đột nhiên, tôi như thiếp đi, không thấy gì nữa. Tôi nghe như có tiếng phụ nữ đang êm ái kể ra cho tôi ngững nguy nan tôi đã trải qua, và chỉ cho tôi biết Thiên Chúa đã quan phòng sắp xếp để che chở tôi. Tôi hỏi lại là Thiên Chúa biết việc tôi sao? Giọng người nữ đoan chắc điều đó. Rồi Người an ủi tôi, cho biết là mọi thử thách đã qua, còn khen tôi đã sống đẹp lòng Chúa…Tới đây tôi bừng tỉnh, tôi thấy mặt Đức Mẹ đẹp rạng ngời, ánh mắt tha thiết yêu thương như bao dung khích lệ. Tôi nhận ra ngay là vừa rồi chính Mẹ đã nói chuyện với tôi. Hồn tôi bừng tỉnh nhận ra là Người đã sinh ra tôi, tôi còn có người Mẹ thánh thiêng. Nước mắt tôi tuôn trào. Tôi đã khóc vì vui sướng, mà không thể diễn tả vui sướng chừng nào.

Tôi đã sốt sắng ghi tên vào lớp Dự tòng. Nay tôi đã tin. Tôi nhiệt thành học hỏi đạo Chúa. Thời gian thấm thoát, sau 6 tháng đã tới ngày vui: Ngày lễ mừng Chúa Phục sinh năm 1996, tôi đã được nhận Phép Rửa, chính thức gia nhập đạo Công giáo. Tôi tạ ơn Đức mẹ, cảm ơn các linh mục, và những ai đã giúp tôi nhập đạo Chúa. Tôi hãnh diện là người Công giáo. Nhớ lại câu chuyện “Vết chân trên cát”, rõ ràng là Chúa đã đi bên tôi những ngày đau khổ. Chúa đã không chấp tội tôi mưu nghịch lại đạo Chúa.

Bây giờ tôi say mê đạo lắm, thích đi lễ để nghe giảng dạy. Tôi rất yêu đời, yêu mái ấm gia đình nhỏ bé đang được Chúa che chở. Bây giờ tôi nhìn những người không sống đạo tử tế, tôi thấy tội nghiệp cho họ, mà không thấy khinh ghét như xưa.

(Truyện của chị Ngô T. Ngọc Sương, Fort Worth, Texas)

VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH

 

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM A

 


“Mục Tử nhân lành thí mạng sống vì chiên...” Cái chết của Chúa trên Thập giá, được tái hiện trong thánh lễ hôm nay, một lần nữa giúp chúng ta xác tín vào lòng nhân lành của Mục Tử Giêsu.

Xin cho mỗi chúng ta, không chỉ nhìn ra Chúa là Mục Tử của chúng ta, nhưng còn biết sống xứng đáng là chiên của Chúa, khi biết nghe và đi theo Ngài, để nhờ đó ta được dẫn đến với vương quốc của Con Chiên là chính hạnh phúc nước trời.

Trong cuốn chân dung Thánh GH. Gioan Phaolô II, tác giả Andzé Frossard đã giới thiệu với chúng ta : “Đầy dũng cảm và với sức mạnh siêu nhiên, Đức Thánh Cha xông pha khắp mọi miền của thế giới, không quản ngại nhọc nhằn, không mảy may lo ngại biết bao nguy hiểm, để làm cho mọi người vững tin. Như thế, người thực hiện sứ mạng của người kế vị Phêrô, người thừa tác của Chúa Kitô, người chủ chăn của Giáo Hội... Trong thời buổi đen tối mịt mù này, Thánh GH. Gioan Phaolô II là người cống hiến cho mọi người ánh sáng của Chúa Kitô. Người đã dũng cảm, mạnh mẽ xác nhận các chân lý của đức tin. Trong thời buổi đại khổ nạn, chối bỏ Chúa, người kêu mời, khẩn xin mọi người tiến bước trên con đường tương ái và hoà bình, giữa bối cảnh của thế giới đầy bạo lực, hận thù, hỗn loạn và chiến tranh”.

Bức tranh mà tác giả mô tả về Thánh GH Gioan Phaolô II mang dáng dấp hình ảnh sống động của Đức Kitô Mục Tử nhân hậu, mà thánh Gioan hôm nay đang diễn tả. Nếu như tội lỗi đã làm cho nhân loại băng hoại và tản mác như những chiên lạc đàn, xa nẻo, thì nhờ nước và máu đổ ra trên thập giá, Con Chiên Thiên Chúa đã tẩy rửa, giao hoà và đem chúng ta về sống trong đàn chiên Chúa là Giáo Hội. Hơn nữa, Ngài còn lo lắng và nuôi dưỡng đàn chiên bằng ơn sủng của Bí Tích, cũng như nơi sự quan phòng yêu thương của Ngài. Để chiên khỏi bị lạc bầy và rơi vào tình trạng ốm yếu, đói khát, lang thang tiều tụy, Ngài quan tâm hướng dẫn và hết lòng dạy dỗ. Đáp lại tình thương của Mục Tử nhân lành, chiên phải biết lắng nghe và đi theo tiếng chủ chiên. Thái độ vâng phục đức tin ấy, không làm chúng ta thui chột hay vong thân. Trái lại, nhờ đi trong đường nẻo và ánh sáng Chúa, vâng phục chủ chiên, ta không chỉ tránh được những cạm bẫy nguy hiểm của ma quỉ, mà còn được vui thoả trong đồng cỏ xanh, hạnh phúc nơi dòng suối mát. Lòng yêu thương của Mục Tử còn trải rộng đến vô biên, khi mong ước cho mọi người được gia nhập và sống trong đàn chiên Chúa: “Ta còn những chiên khác chưa thuộc về đàn này, cả chúng nữa Ta cũng phải đưa về, để chúng nên một đàn chiên dưới quyền chăn dắt của một chủ chiên”.

Sứ mạng ấy, Chúa Giêsu không chỉ ôm ấp, thao thức, nhưng Ngài đã chia sẻ cho Giáo Hội qua thánh Phêrô:  “Con hãy chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Ta”. Đáp lại lời mời gọi của Chúa, thánh tông đồ đã mạnh dạn rao giảng và mời gọi : “ Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội và sẽ nhận được ân huệ của Thánh Thần”.

Đón nhận của các thánh tông đồ, cả một đoàn lũ đông đảo gồm 3.000 người đã tin vào Đức Kitô, mục tử tối cao, và sẵn sàng bước đi theo sự chăn dắt của Ngài : “Xưa kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc. Nhưng nay đã quay về với vị mục tử Giêsu, Đấng chăn dắt linh hồn anh em”.

Kính thưa ông bà anh chị em,

Đến với Chúa nhật IV Phục sinh, ngày Chúa nhật lễ Chúa Chiên Lành, chúng ta không chỉ được mời gọi để khám phá ra chân dung của Vị Mục Tử Giêsu, nhưng còn biết đón nhận hạnh phúc khi sống trong đàn chiên của Ngài là Giáo Hội. Cảm nghiệm ấy thôi thúc chúng ta nhìn lại chính mình, để thấy được tương quan cần có giữa ta và Mục Tử Giêsu:

-   “Mục tử nhân lành thí mạng sống vì chiên”. Theo gót Mục Tử Giêsu, biết bao vị mục tử đã sống đời tận hiến, hi sinh phục vụ, cho dù có phải vì thế mà bị thiệt thòi, mất mát và đe doạ ngay cả mạng sống mình. Chúng ta hôm nay có ý thức đến điều này, để cầu nguyện cho có nhiều mục tử tốt lành. Nhất là còn biết chia sẻ trách nhiệm với các vị mục tử bằng tất cả quảng đại nhiệt tình, cũng như giúp các Ngài luôn sống xứng đáng là mục tử như lòng Chúa mong ước không?

-  “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”. Hôm nay, chúng ta có phải là chiên thật của Chúa khi biết lắng nghe Lời Chúa qua vị chủ chiên, hay như những người Do Thái xưa, chối bỏ Lời Thiên Chúa. Sống trong đoàn chiên giáo xứ mà cứ muốn theo ý riêng, bất chấp mọi lời giảng dạy, liều mình vào đường tội lỗi, và chối bỏ không muốn sống trong đàn chiên Giáo Hội không?

-  “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người”. Ngày lễ Chúa chiên lành cũng là ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi tu trì. Chúng ta có ý thức điều đó để tha thiết xin Chúa mở lòng những người trẻ sẵn sàng quảng đại đáp lại tiếng Chúa. Đồng thời cũng biết tích cực góp phần của mình vào việc nuôi dưỡng và phát triển ơn gọi trong giáo xứ qua những đóng góp chia sẻ chưa?

Xin cho phép tôi có đôi lời với anh chị em họ Mathêu Gẫm. Anh chị em thân mến,

Mừng lễ Mathêu Gẫm ngay trong ngày Chúa Nhật 4 Phục sinh, Chúa nhật lễ Chúa chiên lành, ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi, một dịp để chúng ta soi lại mẫu gương của thánh Mathêu Gẫm bổn mạng.

Năm 15 tuổi, Mathêu Gẫm đã từng ao ước dâng mình cho Chúa. Nhưng do không được Chúa kêu gọi, ngài đã trở về thế gian để sống đời người Kitô hữu. Lập gia đình và có bốn con, Ngài đã lo lắng chu toàn bổn phận của người chồng, người cha gia đình công giáo. Bên cạnh đó Ngài còn gắn bó yêu mến Giáo Hội, lo lắng bảo vệ cho các Đấng thừa sai trong công cuộc truyền giáo. Chính vì liên lụy đến việc chở các vị thừa sai từ Singapore về Việt Nam mà Ngài đã bị bắt, bị kết án chém đầu và chôn tại họ đạo Chợ Quán.

Cả cuộc đời, ngài đã luôn gắn bó với chủ chiên, và sống như một con chiên ngoan hiền trong đàn chiên của Chúa. Mẫu gương và đời sống của ngài mời gọi mỗi chúng ta, đặc biệt anh chị em họ Mathêu Gẫm, hãy cổ võ và quảng đại dâng con cái cho Chúa trong đời sống tu trì. Đồng thời, luôn biết là những con chiên ngaon hiền trong đoàn chiên Chúa, bằng cách vâng nghe lời chủ chiên, hiệp nhất gắn bó với anh chị em chung quanh. Nhất là biết hợp tác và rộng rãi chia sẻ, góp phần làm cho đoàn chiên ngày càng lớn mạnh thăng tiến. Có như vậy việc mừng lễ bổn mạng hôm nay mới thực sự tôn vinh Thiên Chúa, ngợi khen thánh Mathêu Gẫm, và đồng thời đem đến cho mỗi chúng ta lòng nhiệt thành hăng say dấn thân phục vụ Chúa và Giáo Hội như thánh Mathêu Gẫm nêu gương. Amen.

 

 

Lòng Thương Xót Của Chúa

 

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

 


Chuyện kể rằng, trong thời kỳ bắt hại đạo có một linh mục đã mạnh dạn can đảm tuyên xưng niềm tin của mình đến chết. Khi bị đánh đập, ngài vẫn không hề run rẩy mà xưng ra rằng tôi tin. Lý hình cho cắt lưỡi, ngài lấy tay chấm máu từ lưỡi ngài mà viết : Tôi tin. Quá tức giận vì không lay chuyển được một niềm tin kiên cường và bất khuất của vị linh mục, lý hình đã cho chém đầu người tôi trung của Chúa.

Vị linh mục anh hùng kia đã không đòi thấy rồi mới tin. Nhưng ngài đã tin để được thấy. Mỗi người đều biết rằng, đã mang thân xác con người – ai cũng sợ roi đòn lao tù, cũng đều ham sống sợ chết. Vây mà vị linh mục trên đã không hề lùi bước trước những lao luỵ, gian đau khổ, ngay cả đến cái chết. Niềm tin trung kiên của ngài, hẳn đã làm cho những người có mặt thấy thế nào là đức tin của người Kitô hữu.

Niềm tin ấy cũng đã từng được các tín hữu đầu tiên trân trọng và thực hành một cách rất sống động và phong phú. Sách Tông Đồ Công Vụ hôm nay sẽ minh hoạ điều đó.

Được lãnh nhận niềm tin nơi các Tông đồ, các tín hữu sơ khai đã không ngừng củng cố và làm cho niềm tin thêm vững mạnh, nhờ vào việc lắng nghe giáo huấn của các Tông đồ. Hơn nữa, họ còn làm cho đức tin ấy ngày càng triển nở, và đâm rễ sâu bởi một đời sống gắn bó với Đức Kitô trong cầu nguyện và hiệp thông bẻ bánh. Như một kết quả hiển nhiên, đức tin của các tín hữu ấy dẫn đến một đời sống hiệp nhất yêu thương, công bình và bác ái để không ai thấy mình còn bị thiếu thốn. Từ đó , họ trở thành một cộng đoàn Kitô hữu đạo đức, vui vẻ, dễ thương, mở đường cho nhiều người qua đó được  trở về cùng Thiên Chúa.

Tuy nhiên, niềm tin mà các Tông đồ đắc thủ để chuyển thông cho các tín hữu, đã phải trải qua rất nhiều những thăng trầm vất vả : Một Thiên Chúa quyền năng thế mà lại tỏ ra quá yếu đuối trước những lời nhục mạ, dể duôi của kẻ thù. Từng thực hiện biết bao phép lạ, kể cả cho người chết sống lại, vậy mà Con Thiên Chúa lại không xuống được khỏi cây thập giá, mà dạy cho kẻ thù của Ngài bài học lễ độ. Vì vậy, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi biết rằng Chúa Giêsu sau khi chịu chết và chôn trong mồ đá thì các Tông đồ, kẻ thì bỏ trốn về quê như hai môn đệ Emmau, số còn lại trốn chui lủi trong phòng kín.

Cảm thông điều đó, nên Chúa Giêsu đã nhiều lần hiện ra cùng các Tông đồ, cho họ xem tay chân và cùng ăn uống với họ, để củng cố niềm tin cho các ông. Ngài cũng không hề khó chịu chấp nhận trước sự cứng cỏi của Tôma : Nếu tôi không thấy các vết thương. Nếu tôi không thọc bàn tay các lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, thì tôi không tin. Hiện ra với Tôma hôm nay, Chúa không chỉ muốn củng cố niềm tin của Tôma mà còn của mỗi chúng ta, những con người vốn quá dòn mỏng và yếu tin. Hơn nữa Ngài muốn chúng ta hiểu rằng, niềm tin không phải là món hàng vay mượn, nhưng còn là niềm xác tín của mỗi cá nhân, của từng người : Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con .

Có được niềm tin và sự xác tín vào Chúa đã là khó, nhưng  còn khó hơn nhiều trong việc giữ và củng cố đức tin của mình. Ý thức điều này nên thánh Phêrô trong thư thứ I hôm nay đã an ủi và khích lệ chúng ta rằng : “Anh em hãy vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin anh em. Anh em hãy hớn hở vui mừng, đầy hãnh diện hiên ngang và chan chứa niềm vui khôn tả, vì đã nắm được thành quả của đức tin anh em là ơn cứu độ”.

Niềm tin và ơn cứu độ của Đức Kitô đã được ban tặng cho nhân loại hơn 2000 năm qua. Vậy mà cây đức tin xem ra vẫn chưa bén rễ sâu nơi lòng giáo xứ và mỗi chúng ta. Trái lại vẫn đang từng ngày bị lung lay và chao đảo bởi một lối sống phù phiếm xa hoa và tội lỗi. Vì thế bài Tin Mừng hôm nay phải là một dịp để khơi lên và làm cho đức tin của chúng ta ngày càng bén rễ và chín muồi :

*  Đức tin có được nhờ nghe . Các tín hữu sơ khai đón nhận đức tin và không ngừng làm cho đức tin triển nở nhờ vào việc siêng năng lắng nghe lời rao giảng của các Tông đồ. Hôm nay, chúng ta có biết chăm lo vun xới cây đức tin của chúng ta, bằng việc học hỏi giáo lý, siêng năng cầu nguyện, tham dự thánh lễ, và lắng nghe lời của Chúa qua các vị chủ chăn ?

*   Đức tin không việc làm là đức tin chết. Niềm tin của các tín hữu sơ khai, đã không hề bị đóng khung,  nhưng luôn được cụ thể, biểu thị cách sống động bởi một đời sống đoàn kết yêu thương, phục vụ quên mình, chuyên chăm cầu nguyện và bẻ bánh. Hôm nay gia đình tôi, bản thân tôi đã có việc làm gì, dấu chỉ nào để biểu hiện đức tin của tôi với Chúa và tha nhân, với đồng loại.

*  Anh em hãy vui mừng, mặc dù còn phải ưu phiền giữa trăm chiều thử thách. Lời của thánh Tông đồ Phêrô có thôi thúc chúng ta mạnh dạn can đảm tuyên xưng đức tin và sống đức tin, để giữa đau khổ luôn vui tươi, giữa khó khăn luôn trông cậy, giữa thử thách luôn kiên trì, giữa thất bại luôn tin tưởng, giữa yếu đuối luôn phó thác, giữa nghi kỵ luôn yêu thương không?

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con. Lời các Tông đồ xưa thưa với Chúa cũng là tâm tình của chúng con trong giờ phút này.

Xin Chúa cho chúng con, một lần như Tôma được xác tín vào Chúa, thì cũng sẵn sàng hiên ngang rao giảng về Chúa, để không phải nhờ thấy mới tin, nhưng nhờ tin mà chúng con sẽ được thấy mọi sự. Amen.