KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

 

NỐI BƯỚC CÁC THỪA SAI



        Trong tông huấn Ecclesia in Asia, Đức Cố Gioan Hoàng Gioan Phao-lô II đã kêu gọi:“Thiên niên kỷ thứ nhất truyền giáo cho Châu Âu. Thiên niên kỷ thứ hai truyền giáo cho Châu Mỹ. Thiên niên kỷ thứ ba phải truyền giáo cho Á Châu”.

Cách riêng với Giáo Hội việt Nam năm 2003 mừng 470 năm Tin Mừng được rao giảng trên quê hương đất nước chúng ta, các Đức Giám mục Việt Nam đã hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha, công bố thư mục vụ mang tựa đề “SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG CỦA HỘI THÁNH VIỆT NAM HÔM NAY” đã khẳng định: “Đầu thiên niên kỷ mới, sứ mạng loan báo Tin mừng được đặc biệt trao vào tay chúng ta. Chúng ta hãy tiếp bước các vị thừa sai đầy nhiệt tình tông đồ, hãy phát huy truyền thống kiên cường của các bậc tiền nhân anh hùng tử đạo. Ta hãy đáp lại kỳ vọng của Hội thánh đem Tin mừng cho anh em trên lục địa mênh mông này. Và đặc biệt đem Tin mừng cho anh chị em sống ngay trên quê hương Việt nam” (Thư chung 2003)

Hơn nữa, Giáo hội Việt Nam ngày nay là con cháu của 117 vị thánh Tử Đạo và của hàng chục ngàn người Việt Nam đã chết vì đạo. Nhưng gần 5 thế kỷ trôi qua, Giáo hội Việt Nam xem ra vẫn còn bé nhỏ giữa lòng dân tộc Việt nam. Theo thống kê năm 2006 thì Giáo hội việt nam có 26 Giáo Phận, gồm khoảng 7 triệu giáo dân, trên tổng số hơn 80 triệu người Việt Nam, chiếm tỉ lệ 6,62%.

Là người con của dân tộc Việt Nam, là dòng máu các anh hùng Tử đạo Việt Nam chúng ta cần phải có bổn phận loan báo Tin mừng cho chính quê hương, dân tộc của mình. Đạo làm người dạy chúng ta phải “thương người như thể thương thân”, thì đạo làm con Chúa đòi hỏi chúng ta chia sẻ tất cả những gì mình có cho tha nhân, cho đồng loại. Các thánh Tông Đồ, các vị Thừa Sai đã đem niềm vui lớn nhất là Tin mừng Chúa Giê-su được công bố cho toàn thế giới. Các Ngài đã không quản ngại hy sinh tính mạng để đổi lấy niềm vui ơn cứu độ được trao ban tới muôn triệu tâm hồn. “Từng đoàn người vượt suối băng rừng. Từng đoàn người ra khơi giữa biển rộng sóng lớn. Biết bao người bỏ mạng nơi rừng sâu núi thẳm. Biết bao người bỏ xác ngoài biển khơi. Nhưng lớp này nằm xuống, lớp khác đứng lên nối tiếp nhau đem Tin mừng đến tận cùng thế giới” (Thư chung 2003)

Nhờ các vị thừa sai tràn đầy nhiệt huyết, quê hương Việt Nam đã được đón nhận Tin mừng. Nhờ đời sống đức tin anh dũng của các bậc tiền nhân mà thế hệ chúng ta được thừa hưởng một gia tài đức tin vô cùng quý giá. Gia sản này chúng ta không có quyền lưu giữ cho riêng  mình, nhưng phải có bỗn phận chia sẻ cho con người thời đại hôm nay. Chúa Giê-su sau khi phục sinh, Ngài đã uỷ thác cho Hội Thánh nhiệm vụ loan báo tin mừng khi Ngài nói: “Anh em hãy đi tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin mừng” (Mc 16,15). Lệnh truyền này đã trở thành sứ mạng chính yếu của Hội Thánh Chúa Ky-tô. Hội thánh hiện hữu là để loan báo Tin mừng và làm cho những ai thành tâm đón nhận Tin mừng trở nên môn đệ Chúa Ky-tô, đồng thời quy tụ cho Thiên Chúa mọi con cái tản mác khắp nơi về một mối (Ga 10,52). Thế nên, là người công dân của Nước Trời, chúng ta phản có bỗn phận chu toàn sứ vụ đó cho anh chị em chung quanh chúng ta, cụ thề là cho chình đồng bào và dân tộc Việt Nam.

Vậy, truyền giáo là gì?

Theo công đồng Vat II: “Việc truyền giáo là tất cả những công tác đặc biệt qua đó các nhà rao giảng Phúc âm được Giáo hội sai đi khắp thế gian, thi hành nhiệm vụ rao giảng Phúc âm và vun trồng Giáo hội nơi các dân tộc cũng như giữa những nhóm người chưa tin vào Chúa” (TG 6c)

Trước đó, cha Pierre Charles cũng cho rằng: “mục tiêu truyền giáo không phải là cứu rỗi các linh hồn”, hoặc “làm cho dân ngoại trở về với Chúa”  . . .; song là “mở rộng biên cương Giáo hội hữu hình, nhằm hoàn tất tiến trình lớn lên, hầu bao phủ toàn thế giới với lời cầu nguyện và việc phụng tự, tức là để mang cho Đấng Cứu Thế toàn bộ gia sản của Ngài”.

 Như vậy, việc truyền giáo là “đưa Thiên Chúa đến với con người và đưa con người trở về với Thiên Chúa”. Đó chính là mục tiêu chính của việc truyền giáo và cũng là sứ mạng cấp bách của Giáo hội Chúa Kitô. Vì Giáo hội được hình thành để tiếp nối sứ mạng của Chúa Giê-su, Đấng sang lập Giáo hội. Khi hoàn tất sứ mạng của mình ở trần gian, Chúa Giê-su đã sai phái các tông đồ tiếp tục sứ mạng đó cho đến tận cùng trái đất. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sia anh em” (Ga 20, 21”. “Anh em hãy làm chứng cho Thầy khởi đầu từ Giê-ru-sa-lem đến tận cùng trái đất” (Lc 24, 47)

Vì vậy, là người công giáo chúng ta phải có bổn phận mang Tin mừng của Chúa đến cho anh em minh. Hãy tiếp nối sứ mạng của Chúa Ky-tô đưa muôn người đang còn tản mác khắp nơi về với Chúa. Hãy tiếp nối truyền thống của các Thừa sai Việt Nam mang Tin mừng đến cho những anh em nghèo đói, đến những phận người bị bỏ rơi . . … Hãy tiếp nối tinh thần quả cảm hy sinh, kiên cường của các tiền nhân mà mạnh dạn làm chứng cho Chúa, cho dù có bị thua thiệt trước mặt người đời, cho dù có bị hiểu lầm, ngược đãi . . . nhưng cùng chịu chết với Đức Ky-tô là một mối lợi mà không có một gia sản nào trên trần gian có thể sánh bằng.

Nguyện xin Chúa Giê-su là người thợ lành nghề được sai đến trần gian để gặt lúa của Người, xin giúp chúng con biết dấn thân quảng đại vào cánh đồng truyền giáo Việt Nam hôm nay. Amen

LM. Jos Tạ Duy Tuyền

Bổn mạng của Chị Em và Lễ Giỗ Tháng 10



Dụ Ngôn TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI

 

CHÚA NHẬT XXVIII  NĂM A



Chuyện kể rằng : Có một người nông dân nọ gia đình rất nghèo khổ. Để thay đổi số phận hẩm hiu, anh ta quyết định lên đường, thực hiện một chuyến làm ăn xa. Bẵng đi thời gian dài, bây giờ anh ta đã trở thành một người giàu có. Anh liền có ý định trở về quê cũ, gặp lại người thân. Mặc lại bộ quần áo nông dân hôm nào, anh trở về quê nhà và được mọi người đón tiếp một cách tẻ nhạt. Vui mừng sau nhiều năm xa cách, anh liền làm một bữa tiệc, mời mọi người thân quen đến dự. Vì nghĩ rằng anh cũng vẫn chỉ là một nông dân khố rách áo ôm, nên mọi người đều xa tránh và chẳng ai muốn đến dự vì sợ bị thiệt thòi chăng. Cuối cùng chỉ có một đứa cháu có mặt trong bữa tiệc đó. Sau bữa tiệc, anh ta không những tặng quà mà còn cho đứa cháu một khoản tiền lớn, mà anh ta dự định sẽ giúp cho những người đến dự tiệc. Câu chuyện vỡ lở và bấy giờ mọi người tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta cho rằng những người dân làng kia, không biết bén nhậy mà nắm bắt cơ may người khác mang tới. Ấy vậy mà trong đời sống siêu nhiên, chúng ta đã nhiều lần đánh mất cái hạnh phúc mà đáng lý mà chúng ta phải tìm mọi cách để nắm lấy.

Lời Chúa hôm nay đang thuật lại cho chúng ta câu chuyện về một bữa tiệc cưới. Người đứng ra mời không phải là một người vô danh tiểu tốt, hay là một anh công nhân nào đó, nhưng là kẻ đầu của một nước : một vị vua. Khách được mời gồm mọi người, bất luận già trẻ, sang hèn, tốt xấu... Tiệc cưới này cũng không đơn giản như bao bữa tiệc của đám dân lao động nghèo khổ cơ cực, nhưng là tiệc cưới của hoàng tử : một bữa tiệc không thể chê vào đâu như Isaia hôm nay tiên báo : “ Ngày ấy Chúa các đạo binh sẽ thiết đãi tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc, đầy thịt rựơu. Thịt thì béo, rượu thì ngon”. Bài đáp ca Thánh Vịnh 22 còn diễn tả rõ nét hơn về bữa tiệc ấy: “ Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương. Đầu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa”.

Còn hạnh phúc nào hơn, sung sướng nào bằng khi biết rằng, chính chúng ta đang là khách được mời dự tiệc ấy. Vậy mà rất nhiều người đã không đáp trả lời mời gọi đầy yêu thương và nhân hậu của Đức Vua. Họ đã khéo léo từ chối vì những công việc riêng. Kẻ thì thăm trại, người đi buôn bán, người khác còn manh tâm giết cả đầy tớ của Vua...

Chưa thoả lòng rộng rãi, Ngài còn sai mời một lần nữa mọi người từ các ngả đường bất luận tốt xấu vào dự tiệc. Kẻ được mời thì đông nhưng không phải ai cũng xứng đáng. Một số đã thiếu sự chuẩn bị, thiếu tâm tình thích hợp khi ăn mặc luộm thuộm, không mang lấy áo cưới. Chỉ một số nhỏ thôi, là được chọn vì đã biết đáp lời mời gọi, mang theo áo cưới để dự tiệc vui với hoàng tử.

Từ sau khi con người quay lưng, chối từ tình thương Thiên Chúa nơi vườn địa đàng, Thiên Chúa đã không ngừng gọi mời con người hãy đến với Ngài để được hưởng hạnh phúc. Ngài đã sai đến cùng họ các vị tiên tri. Thế nhưng tất cả đều đã bị dân tộc Do Thái từ chối. Sau cùng Thiên Chúa đã sai Con Ngài là Đức Giêsu đến với nhân loại, để kêu gọi chúng ta đến chung hưởng tiệc cưới nước trời : “ Hãy ăn năn sám hối vì nước trời đã gần đến”.

Qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa để vào dự tiệc cưới. Tuy nhiên, điều ấy đâu đã bảo đảm cho ta một chỗ ngồi trong tiệc cưới của Con Thiên Chúa. Số phận của những kẻ không mặc áo cưới bị loại ra ngoài đã là một bài học cho chúng ta. Trước ánh sáng Lời Chúa chúng ta hãy cùng nhau kiểm điểm :

-   Mỗi ngày, mỗi tuần, Chúa đều mời gọi ta tham dự bàn tiệc Thánh Thể qua các thánh lễ chiều, các giờ chầu Thánh Thể. Chúng ta đã mau mắn đến với Chúa hay đã viện lý do : làm vườn, tăng ca, đi làm xa, trời mưa, nhà ở xa, mệt nhọc vất vả để coi thường và từ chối. Thái độ đến với Chúa bằng tâm tình con thảo hay gò bó ép buộc, đi trễ về sớm, lo ra chia trí, ra ngoài nghe điện thoại khi dự lễ như một ít người vẫn làm không ?

-   Khi tham dự Bàn tiệc Thánh Thể, tiệc của chính Con Thiên Chúa, chúng ta đã biết chuẩn bị xứng đáng với chiếc áo tâm hồn tinh tuyền, hay vẫn còn ngổn ngang những giận hờn, ghen ghét, đam mê dục vọng, mải mê giầu sang phú quí, xác trong nhà thờ mà lòng trí mãi tận đâu đâu không ?

-   Chúng ta đã đối xử ra sao với những người thay mặt Chúa, đại diện của Chúa, được Chúa sai đến với chúng ta để mời gọi chúng ta vào dự tiệc hạnh phúc : Bỏ ngoài tai lời nhắc nhở, khinh thường, tìm cách xa lánh, kéo bè kó cánh để nói xấu bôi nhọ, và chưa thực hành những điều các ngài mời gọi?

-  Ngày Chúa gọi chúng ta dự tiệc cưới với Ngài là ngày chết của mỗi người. Chúng ta đã biết gìn giữ, bảo vệ và trang điểm cho chiếc áo trắng Rửa Tội, hay đã làm cho hoen ố bởi những sự say sưa, bài bạc, trộm cắp, gian dâm, và những việc làm bất chính?

Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít. Lời mời gọi của Chúa phải là tiếng chuông nhắc nhở cho mỗi người chúng ta. Không thể ỷ nại vào lòng nhân lành rộng rãi của Chúa, nhưng phải nỗ lực để bước vào tiệc cưới, với chiếc áo cưới tinh tuyền thánh thiện. Muốn thế chúng ta phải tích cực hoán cải đời sống, thực hành theo Giáo huấn Phúc Âm, cùng mặc lấy tâm tình và cách sống của Chúa Kitô.

Thật hạnh phúc khi Thiên Chúa đến gặp chúng ta, và thấy chúng ta sẵn sàng trong phòng cưới với chiếc áo cưới lộng lẫy, xinh đẹp, đã được điểm trang, gìn giữ tinh tuyền thánh thiện, như lời khuyên của thánh Tông đồ Phaolô : “ Thưa anh chị em, anh chị em hãy suy nghĩ đến những gì là chân thật, là thanh sạch, là công chính, là đáng yêu, là đáng trọng và tất cả những gì là nhân đức, là đáng khen ngợi. Như vậy, Thiên Chúa là Đấng ban bình an sẽ ở với anh chị em”. Amen.

 

 

CHUỖI HẠT MÂN CÔI

 

SIÊNG NĂNG LẦN HẠT MÂN CÔI


Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi. Đây là một dịp để chúng ta suy niệm về Đức Mẹ và về việc đạo đức rất phổ thông là việc lần chuỗi dâng kính Đức Mẹ.

Theo các nhà nghiên cứu, kinh Mân Côi không xuất hiện thình lình, nhưng Thánh Thần đã cho xuất hiện dần dần theo dòng lịch sử.

Từ giữa thế kỷ III, những đan sĩ nơi sa mạc đó có thói quen kêu cầu Đức Mẹ trong mỗi lần cầu nguyện, và suy niệm các mầu nhiệm trong đời Mẹ: Truyền Tin, Đi Viếng…

Đến thời Trung Cổ, tại Tây phương, người thanh niên, nhất là các thiếu nữ, có thói quen đội những tràng hoa trên đầu. Dần dần người ta biến thành các chuỗi hoa, đội lên đầu Đức Mẹ để tỏ lòng tôn kính.

 Trong khi ở tu viện, các Tu sĩ mỗi ngày đọc nhiều kinh dâng kính Đức Me, như lập thành một tràng chuỗi. Vì trước đó Hội Thánh chỉ dùng 150 thánh vịnh làm kinh nguyện chính thức. Cho tới thế kỷ XII, khi bà thánh Birgitta được ơn Chúa soi sáng mới đặt ra chuỗi 150 Kinh Kính Mừng để thay thế cho 150 Thánh vịnh. Các mầu nhiệm Mân Côi lúc này được gọi là cuốn sách Phúc âm rút gọn của người bình dân, bởi vì sau này người ta thêm 15 mầu nhiệm vào kinh Mân côi. Cứ 10 kinh Kính mừng lại suy gẫm một mầu nhiệm mùa Vui, Thương hoặc Mừng. Gần đây Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lập ra việc suy niệm thêm 5 sự sáng về những biến cố của cuộc đời Chúa Giêsu.

Việc đạo đức ấy đã được Đức Mẹ chấp nhận, khi Người hiện ra với Thánh Đaminh vào thế kỷ XIII. Thời ấy, bè rối Albigeois đã lan tràn nhiều nơi và phá hoại Giáo Hội rất nhiều. Ngài và các anh em đã làm hết sức mà không sao cải hóa được những người theo bè rối ấy. Ngài cầu nguyện với Đức Mẹ và Đức Mẹ đã hiện ra dạy dùng tràng chuỗi Mân Côi làm khí giới thần diệu để chinh phục bè rối ấy. Thánh Đaminh đã thành công nhờ tràng hạt Mân Côi.

Lễ Đức Mẹ Mân Côi mà chúng ta mừng hôm nay còn liên hệ đến một biến cố trong lịch sử Giáo Hội. Ngày 7-10-1571, người Hồi Giáo mang đại quân hướng về La Mã và thề hứa sẽ biến đền thờ Thánh Phêrô thành một chuồng ngựa. Đạo binh Công giáo đã ra nghênh chiến trong khi ở hậu phương giáo dân lần chuỗi Mân Côi cầu xin với Đức Mẹ. Người Công giáo đã chiến thắng tại vịnh Lepant, chặn được sức tiến vũ bão của Hồi giáo. Để tạ ơn Đức Mẹ, Đức Giáo Hoàng Piô V đã thiết lập lễ kính Đức Mẹ Mân Côi ngày 07 tháng 10 để ghi nhớ chiến thắng này.

Lần chuỗi không phải là việc đọc kinh một cách máy móc các kinh thường quen, mà là miệng đọc mà lòng suy gẫm các mầu nhiệm căn bản của Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Mầu nhiệm VUI để sống với Đức Mẹ cuộc đời thơ ấu của Chúa; mầu nhiệm THƯƠNG để theo Chúa trên đường tử nạn; mầu nhiệm SÁNG để sống những biến cố cuộc đời dương thế của Chúa, mầu nhiệm MỪNG để cùng Đức Mẹ sống qua những ngày cuối cùng của Chúa.

Vì thế mà cha Lacordaire đã gọi tràng chuỗi Mân Côi là một cuốn Phúc Âm tóm lược.

Vậy chúng ta hãy siêng năng lần hạt, vì chính Đức Mẹ cũng khuyến khích việc ấy trong những lần hiện ra ở Rue du Bac, Paris, ở Lộ Đức và Fatima.

Tại Rue du Bac ở Paris, Đức Mẹ nói cùng thánh nữ Catherine Labouret: con hãy quan tâm đến việc lần chuỗi để tôn kính Mẹ.

Chẳng bao lâu sau, năm 1858, tại Lộ Đức, Đức Mẹ Vô Nhiễm hiện ra với cô bé Bernadette: Mẹ đang lần hạt như nêu gương cho mọi con cái mình. Trước tấm gương đầy tình mẫu tử ấy, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã viết 12 thông điệp liên tiếp để ca ngợi Chuỗi Mân Côi. Trong 18 lần hiện ra, bao giờ Đức Mẹ cũng lần hạt và khuyên lần hạt. Mỗi lần ra hang đá, Bernadetta đến quì tại một chỗ nhất định. Cô nhìn lên hang đá, rút tràng chuỗi ra. Thế là trên bộng đá rực lên một bầu ánh sáng và trong bầu ánh sáng ấy, Đức Mẹ hiện ra cầm trong tay một tràng chuỗi bạc, Bernadetta nói: Đức Mẹ cũng lần hạt nhưng tất nhiên không đọc kinh Kính Mừng mà chỉ cúi đầu, và Ngài đọc kinh Sáng Danh.

Cách riêng, tại Fatima trong 6 lần hiện ra, Đức Mẹ đã khuyến khích lần hạt. Đức Mẹ dạy em Lucia, Phanxicô, và Giacinta phải lần hạt mới được về Thiên đàng. Mẹ cũng ban ba mệnh lệnh và một trong ba mệnh lệnh ấy là phải siêng năng lần hạt. Cuối cùng, ngày 13/10/1917, Đức Mẹ mạc khải tên mình: Mẹ là Đức Bà Mân Côi. Rồi Mẹ nói tiếp: Mẹ mong mọi người tiếp tục lần hạt mỗi ngày…

Vậy khi mừng lễ Thánh mẫu Mân Côi, Giáo hội muốn nhắc lại sức mạnh cứu rỗi vô song của Kinh Mân Côi và kêu gọi mọi người hãy năng lần hạt Mân Côi như phương thế hữu hiệu để cải thiện đời sống và xây dựng Nước Trời.


Dụ Ngôn "hai người con"

 

CHÚA NHẬT XXVI NĂM A

 

Cách đây ít lâu, vào một buổi sáng sau thánh lễ, có vị gia trưởng đến gặp tôi. Qua câu chuyện trao đổi, tôi đọc được những nỗi day dứt trăn trở, những thở dài ngao ngán khi thấy đứa con trai của anh, càng lớn càng tỏ ra bướng bỉnh và không biết vâng lời ông bà cha mẹ.

Cái tâm trạng của người cha gia đình kia, cũng đã từng là cảm nghiệm của Thiên Chúa nơi gia đình nhân loại. Như người cha nọ, tình thương của Thiên Chúa đã từng bị coi thường, chối từ. Dẫu có gặp sự phản bội bất trung, thì Thiên Chúa vẫn ngừng yêu thương con người mà Ngài tạo dựng.

Thật vậy, để tạo dựng con người, Thiên Chúa chỉ dùng một lời quyền năng. Nhưng giờ đây để cứu vớt họ, Thiên Chúa lại chuẩn bị bằng cả một chương trình, một kế hoạch. Nơi dân tộc Israel, Thiên Chúa đã từng bước để thực hiện ý định cứu độ ấy. Ngày từng ngày, Ngài sai đến với họ các tiên tri, để cảnh tỉnh và mời gọi họ trở về: “Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ được sống chứ không phải chết ”.

Để làm sáng tỏ ý định cứu độ, Ngài còn sai Con một từ trời đến, vẫy gọi con người trở về, được minh họa qua câu chuyện của người cha và hai đứa con. Như bất cứ người cha nào, niềm mơ ước của ông nào đâu chỉ đặt vào miếng cơm manh áo cho con cái, mà còn nghĩ đến tương lai, sự nghiệp, và một gia sản để lại cho các con. Người cha trong dụ ngôn hôm nay khi sai các con của mình đi làm vườn nho, ông đã từng bước chuẩn bị cho họ đảm nhận một vinh dự lớn lao là làm chủ, là thừa hưởng một gia tài mà ông đã cả một đời vất vả gầy dựng. Nhưng ngoài những gì ông chờ đợi mong mỏi, người con cả bảo mình sẽ không đi, sau hối hận lại đi làm. Người con thứ, niềm hi vọng còn lại đã mau mắn nói lời xin vâng, nhưng rồi lại mau chóng nuốt lời để bỏ đi và làm theo ý riêng của mình.

Không cần lý giải nhiều, chúng ta cũng hiểu rằng : Người con thứ hai kia chính là dân tộc Do Thái, là những người biệt phái và luật sĩ. Họ đã thấy bao việc lạ lùng của Chúa làm, nghe bao giáo huấn của Chúa dạy, vậy mà họ vẫn giả điếc làm ngơ. Thái độ của họ chỉ vờ vĩnh, qua lần chiếu lệ, nặng hình thức khi giữ những luật lệ Chúa. Họ còn giữ vẻ đạo mạo bên ngoài để che đậy tâm địa xấu xa. Vì vậy, Chúa đã vạch trần thái độ của họ khi nói : “Đâu phải những kẻ kêu lạy Chúa lạy Chúa mà được vào nước trời” !

Trái ngược với họ là đám người bị khinh miệt vì tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm. Quá khứ của họ gắn liền với tai tiếng và xấu xa : thâm lạm, lừa đảo, trộm cắp dâm dật. Như người con cả, họ đã từng thưa không với Chúa. Nhưng sau, họ đã suy nghĩ lại, đã hối hận và trở về. Thái độ thành tâm của họ đã được Chúa đón nhận : “ Ta bảo thật các ngươi, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ngươi”.

Thật là an ủi biết bao khi chúng ta biết rằng, Thiên Chúa luôn tỏ ra khoan dung nhân từ đối với người tội lỗi. Theo lời mời gọi thánh Phaolô, chúng ta hãy cởi bỏ con người cũ của mình, để mặc lấy những tâm tình, cảm nghĩ của chính Đức Kitô, Người Con một yêu dấu của Thiên Chúa Cha, Đấng đã vì yêu mà vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Cách sống và hành động của Ngài, phải giúp chúng ta soi lại thái độ, và mối quan hệ phụ tử giữa chúng ta với Thiên Chúa.

 

* “Ta đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất”. Lời Chúa xưa vẫn còn là một cổ vũ, động viên khi chúng ta biết rằng, đã từng có một Matthêu thu thuế được làm tông đồ, một Maria Madalena được trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Hôm nay, chúng ta có nhìn ra lời mời gọi đầy yêu thương của Chúa, để từ bỏ quá khứ tội lỗi, và những lời thưa không với Chúa bấy lâu nay, để quay về, hối cải, quyết tâm làm theo ý Chúa như người con thứ nhất hôm nay không?

 

* “Không phải những kẻ thưa lạy Chúa lạy Chúa...” Cũng vậy, đâu phải cứ thuộc kinh, đi lễ nhiều, thông thạo về giáo lý mà được vào Nước Chúa. Trái lại, phải sống đạo, đào sâu Lời Chúa, và như Đức Kitô, không ngừng ra sức thực hiện, diễn tả ý muốn của Thiên Chúa qua nỗ lực hoán cải đời sống, thăng tiến bản thân, góp phần xây dựng một thế giới huynh đệ và yêu thương.

 

* “Con ơi hãy đi làm vườn nho cho cha”. Lời Chúa không chỉ giới hạn, thu hẹp nơi đời sống đức tin ở nhà thờ, mà còn được mở rộng trong cuộc sống gia đình, trong mối quan hệ với người chung quanh. Chúng ta có thái độ, suy nghĩ nào khi được mời gọi để cùng cha mẹ, bề trên, anh chị em, góp sức lao động của mình để kiến tạo một cuộc sống đầm ấm, đầy đủ cho gia đình, mở ra một thế giới công bằng yêu thương. Thái độ chọn lựa của chúng ta ra sao, mau mắn vâng lời, tích cực thực hiện, hay càm ràm kêu trách và tìm cách trốn tránh.

 

“Xin chỉ cho con đường đi của Chúa”. Lời thánh vịnh hôm nay đã được Chúa đáp lại, khi sai Con Một Ngài đến dạy chúng ta về đường lối của Ngài. Chính nơi Đức Kitô mà chúng ta có dịp khám phá ra ý định, đường lối nhân hậu, dung thứ của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta noi gương Ngài, từng ngày biết học cách lắng nghe và nhận ra ý Chúa. Nhất là không ngừng ra sức thực hiện, vì đây là con đường duy nhất, dẫn chúng ta đến với hạnh phúc nước trời. Amen.