Phục Sinh Vĩnh Cửu

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY ( Năm A )


 
 Mối bận tâm của chúng ta trong Mùa Chay, không chỉ là tìm về với Thiên Chúa bằng cách dứt mình ra khỏi tội, mà còn được mời gọi để sống cuộc sống mới, cuộc sống của những người được Chúa Giêsu giải thoát và được Thần Khí Chúa tác sinh.

Tin Mừng các Chúa nhật Mùa Chay bao giờ cũng khởi đầu bằng cơn cám dỗ của Đức Kitô trong địa. Ngay sau đó là cuộc biến hình tràn ngập ánh quang vinh hiển, để kẻ tin định hướng ngay từ đầu : Mùa Chay là mùa sám hối, nhưng không chỉ có nghĩa là ăn năn mà còn hàm chứa một lời mời gọi đổi mới; không chỉ nhìn về quá khứ  để xót xa nhưng còn là băng mình về tương lai để hi vọng. Được như thế là vì chính Thiên Chúa là Đấng không ngừng mở rộng cánh cửa cho con người đi về phía trước, và không gì có thể ngăn cản hành vi cứu thoát của Người.

Ý nghĩa ấy được làm nổi bật trong Chúa nhật V Mùa Chay hôm nay, khi Thiên Chúa qua Đức Kitô mở ra cho con người một tương lai ở mức độ tận cùng, tương lai của ơn Phục Sinh giải thoát.

Bài đọc I hôm nay với những lời lẽ đầy an ủi, vang vọng bên tai Ezêkiel vừa là lời minh giải, vừa là lời hiện thực hoá những hình tượng mà tác giả đã một lần nhìn thấy trong thị kiến về cánh đồng xương khô. Cả một cánh đồng la liệt những bộ xương khô đét. Hình ảnh ấy đưa ta về với thực tế của một dân tộc đang đắm chìm trong cảnh lưu đày, như thể bị chôn vùi trong nấm mồ sự chết. Tất cả đã úa tàn và khô héo: Khô héo xác thân, khô héo tâm hồn, khô héo niềm vui, khô héo cả đến ước mơ và hi vọng. Ay thế mà với Lời Thiên Chúa, những bộ xương kia đã bắt đầu chuyển động, từ từ xích lại gần nhau. Đã xuất hiện những đường gân nối kết, đã hồng lên cái ấm áp của thịt da. Và khi Thần Khí được ban xuống, cả một cánh đồng xương khô đã biến thành một đạo quân hùng mạnh.

Nếu hình ảnh những bộ xương khô đưa ta về với thực tế bi thương của dân Chúa, thì hình ảnh đạo quân hùng mạnh mở ra cho ta một tương lai bất ngờ và cũng vô cùng tươi sáng : Này Ta sắp mở cửa mồ cho các ngươi. Có bị lưu đày mới hiểu thế nào là quê hương. Có sống trong tăm tối mới biết thế nào là ánh sáng. Có chìm trong thất vọng mới thấm được niềm vui của bình an. Để rồi qua tương lai rực sáng đó, dân nhận ra Người là Đức Chúa, Đức Chúa của sự sống, của ơn cứu sống và là Đức Chúa mãi tín trung.

Thực tại Phục Sinh vĩnh cửu được thoáng mở kia, đã trở thành lời xác quyết ngay trong câu chuyện của Tin Mừng Gioan về việc Lazarô chết chôn trong mồ 4 ngày được sống lại. Nếu người Do Thái thời đó tin rằng khi một người chết, linh hồn còn ở trong thân xác 3 ngày rồi mới ra khỏi thì ở đây, Lazarô đã chôn được 4 ngày, nghĩa là đã chết hoàn toàn rồi. Đó chính là cái cùng, cái tận của sự sống con người. Nhưng chính Lazarô ấy, theo tiếng gọi của Đức Kitô đã bước ra khỏi mồ, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn liệm. Vấn đề ở đây không chỉ là Lazarô đã chết nay sống lại, tiếp tục cuộc sống trần thế như cũ, để rồi sớm muộn sẽ lại chết thêm một lần nữa, nhưng là việc quyền năng Phục Sinh và được kết tụ nơi một con người cụ thể đang hiện diện trước mặt mọi người với lời khẳng định : Ta là sự phục sinh và là sự sống. Đỉnh cao của bài Tin Mừng ở đó. Còn vang vọng bên tai ta lời Chúa hỏi Ezêkiel : Đám xương này có hồi sinh không? Ezêkiel thưa lại: Lạy Đức Chúa Giavê, chỉ một mình Ngài biết. Nghĩa là ơn Phục Sinh nằm trong bàn tay một mình Thiên Chúa Hằng Sống. Và hôm nay có một người réo gọi Lazarô ra khỏi nấm mồ của sự chết và lớn tiếng nói rằng: Ta là phục sinh và là sự sống. Điều đó có nghĩa gì nếu không phải là lời bộc lộ quyền phép của Người. Cũng chính vì thế mà ta mới hiểu tại sao Người lại nói: “Căn bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa”.

Đồng thời qua đó, chúng ta lại còn được mời gọi để tin tưởng rằng: phục sinh và sự sống đang đi tới và gần kề với mỗi người chúng ta. Vậy mà Matta và Maria vẫn giam mình trong bi lụy và than tiếc: Giá Thầy ở đây thì em con không chết. Ngay cả đến bạn bè thân hữu, láng giềng khi thấy Maria ra đi vẫn không thể nghĩ đó là những bước đi chào mừng sự sống, mà chỉ có thể là bước đi của nước mắt bên mộ người thân yêu.

Hoá ra không chỉ có Lazarô bị giam hãm trong nấm mồ sự chết, mà còn có cả chúng ta, là những kẻ vẫn thường xuyên bị giam cầm trong những nấm mồ dưới muôn hình vạn trạng : những nấm mồ của tuyệt vọng, của chán nản, buông xuôi, ích kỷ, dục vọng, an phận, của những mưu mô tối tăm và tội lỗi. Vì thế tất cả chúng ta cần được giải thoát, được cứu sống.

Những ai sẽ cứu ta thoát khỏi thân xác chết cằn và khô héo này? Chỉ có Đức Kitô và trong Thần Khí của Thiên Chúa : Thần Khí tái sinh, Thần Khí thánh hoá. Thần Khí đã đem Đức Kitô từ cõi chết vào cõi sống mới có thể giải thoát chúng ta. Đó là Thần Khí của sự thật, của tự do mà hoa trái của nó là lòng kính sợ Thiên Chúa, chu toàn mọi lề luật, cùng với một tâm hồn quảng đại bao dung, tha thứ, hoà đồng chia sẻ với mọi anh chị em chung quanh.

Một khi được giải thoát, chữa lành, chúng ta còn có nhiệm vụ là đưa ra khỏi mồ những người đang bị giam hãm trong tuyệt vọng, làm xanh lại những tâm hồn héo úa, khô khan, và làm tươi mát những quả tim đã hơn một lần bị rách nát.

Lạy Chúa Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, xin hãy đến và làm cho chúng con những gì Ngài làm cho Lazarô, vì chúng con tin rằng : Ngài chính là sự phục sinh và là sự sống của chúng con. Amen.

  

NGƯỜI NỮ TU ĐAMINH ANATASIE: TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ "KHÔN NGOAN"

 

NGƯỜI NỮ TU ĐA MINH ANATASSIE 

TRUYỀN GIÁO VỚI SỰ KHÔN NGOAN


 

Ý NGHĨA CỦA TRUYỀN GIÁO

Truyền giáo là đem Tin Mừng yêu thương của Chúa Giê-su đến cho mọi người bằng lời nói và đời sống. Đây là bổn phận và cũng là niềm vui của mỗi Kitô hữu nói chung và là sứ vụ của mỗi một tu sĩ chúng ta nói riêng, đặc biệt đây là sứ mạng của mỗi một chị em chúng ta - những người con của Cha thánh Đaminh và mẹ Anatassie. Và truyền giáo thì cần sự khôn ngoan như Chúa Giê-su dạy: “Hãy khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.”Sự khôn ngoan của tu sĩ Đa Minh không phải là khôn ngoan thế gian, nhưng là:

1.    Khôn ngoan từ Lời Chúa
Cầu nguyện – học hỏi – suy niệm để hiểu Lời Chúa, nhờ đó rao giảng đúng chân lý và phù hợp hoàn cảnh.

2.    Khôn ngoan trong đối thoại
Dòng Đa Minh nổi bật nhờ
đối thoại thánh thiện: lắng nghe, tôn trọng, dùng lý trí và đức ái để giải thích đức tin, không tranh thắng bằng lời nói.

3.    Khôn ngoan trong phân định
Biết chọn thời điểm, phương pháp và cách tiếp cận nhẹ nhàng, giúp người nghe dễ mở lòng đón nhận Tin Mừng.

I.               Nguồn gốc truyền giáo với sự  khôn ngoan — đời sống cầu nguyện và chiêm niệm

Truyền giáo không chỉ là lời rao giảng, nhưng trước hết là một ngọn lửa phát xuất từ trái tim thuộc về Thiên Chúa. Người tông đồ chỉ thực sự khôn ngoan và hiệu quả khi biết đặt nền tảng nơi đời sống cầu nguyện. Như Chúa Giêsu đã dạy:“Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15,5). Chính trong cầu nguyện, người môn đệ gặp gỡ Chúa, lắng nghe Thánh Thần và nhận ra đường lối để đem Tin Mừng đến cho người khác.Người truyền giáo không thể khôn ngoan nếu không để lời Chúa thấm vào tâm hồn mình. Đời sống cầu nguyện không phải là một bổn phận thêm vào cho người truyền giáo, nhưng là nền tảng, là nguồn gốc, là nhựa sống của mọi lời chứng.

Thánh Đa Minh không bao giờ rao giảng nếu trước đó không quỳ gối trước Thánh Giá và Lời Chúa.Ngài cầu nguyện suốt đêm cho những người tội lỗi, những người lạc xa Chúa.Ngài thường nói:“Tôi không thể rao giảng nếu không khóc cho họ trước.”

·        Còn mẹ Anastasiecủa chúng ta thì không chỉ hoạt động bên ngoài, nhưng bắt đầu từ đời sống nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm sâu sắc. Điều đó giúp mẹ có một tâm hồn bình an, nhạy bén trước nhu cầu của tha nhân.

·        Từ sự chiêm niệm, mẹ hiểu rõ sứ mạng — lan toả đức tin và yêu thương — không chỉ bằng lời, mà bằng cả đời sống.

Hiến pháp số 29C: đời sống tin mừng, đời sống tông đồ và đời sống huynh đệ bắt nguồn từ đời sống cầu nguyện.

Nói cách khác: khôn ngoan ở đây bắt nguồn từ “gặp gỡ Thiên Chúa” — rồi từ đó để truyền giáo bằng bác ái và tình thương.

II.            Truyền giáo bằng đời sống bác ái, giáo dục, phục vụ  trước khi bằng lời nói

Như Thánh Đa Minh dạy anh em:

“Anh em hãy nói với Thiên Chúa về con người trước khi nói với con người về Thiên Chúa.”

·        Người Đa Minh không chỉ là “người nói”, nhưng là “người sống chân lý”.

o   Sống nghèo khó, hiền hòa, trung thực.

o   Khiêm tốn và nhiệt thành trong phục vụ.
→ Đời sống là “bài giảng không lời”.

Còn mẹ Anastasie minh họa rằng: đời sống — hơn lời nói — chính là truyền giáo hiệu quả. Một vài nét nổi bật:

·        Mẹ mở trường học, dạy chữ, giáo dục trẻ em, đặc biệt trẻ nghèo — giúp họ được học hành, được biết đến Tin Mừng trong bối cảnh yêu thương và giáo dục.

·        Mẹ săn sóc người bệnh, người nghèo — thăm viếng, chăm sóc, an ủi — thể hiện lòng bác ái Kitô một cách cụ thể, thiết thực.

·        Vì vậy, nhiều người không cần nghe giảng, nhưng nhìn vào đời sống, thấy tình yêu, lòng khiêm nhường, phục vụ — từ đó Tin Mừng được lan truyền cách tự nhiên, kín đáo nhưng mạnh mẽ.

Về bác ái và nâng đỡ nhau (tinh thần cốt lõi cho việc truyền giáo) thì mẹ nói: 

“Điều tôi khuyên chị em trên hết là lòng bác ái, sự hỗ trợ lẫn nhau.
Chị này hãy là cây gậy cho chị kia – gậy của sức mạnh và lời khuyên hữu ích;
chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”
(Nguồn: Cộng đoàn Đa Minh Monteils Việt Nam – bản thuật lại lời Mẹ)

Thế nên:– Truyền giáo phải bắt đầu từ bác ái.
– Khôn ngoan là
biết nâng đỡ, củng cố, chia sẻ chứ không phê phán, làm tổn thương.
– Người truyền giáo trước hết phải “làm gậy và làm muối” – nghĩa là “vững mạnh” và “khôn ngoan”.

Về tinh thần phục vụ và hy sinh mẹ dạy:

(Theo hồ sơ dòng, khi Mẹ nói với các chị em trước khi lập cộng đoàn mới)

“Chúng ta được sai đi để phục vụ, không phải để được phục vụ.”

Như vậy :Truyền giáo không phải “nói cho người khác nghe”, mà trước hết là phục vụ họ trong tình yêu – đó chính là khôn ngoan Tin Mừng.

. Về kiên nhẫn trong sứ vụ thì mẹ khuyên:

(Theo ghi chép đời sống thiêng liêng của Mẹ trong cộng đoàn Pháp)

“Hãy kiên nhẫn: ân sủng cần thời gian để chạm đến tâm hồn.”

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng: khôn ngoan là không hấp tấp, không đòi kết quả ngay; hãy để Chúa làm phần của Ngài.

Nếu muốn truyền giáo khôn ngoan — hãy để đời sống của chúng ta là bài giảng sống động. Hành động yêu thương, phục vụ, chia sẻ… thường nói hiệu quả hơn lời

III. Khôn ngoan trong cách tiếp cận con người: tôn trọng, yêu thương, khiêm nhường

·        Mẹ Anastasie không dùng phương pháp áp đặt; Mẹ sống với sự khiêm nhường, tình thương — đó là cách dễ mở lòng người khác.

·        Bằng việc phục vụ và giáo dục, mẹ tạo dựng lòng tin, sự kính trọng — từ đó Tin Mừng trở nên hấp dẫn hơn, dễ đón nhận hơn.

·        Cách làm của mẹ  cho thấy: truyền giáo không chỉ là giảng đạo, mà là sống đức tin trong yêu thương và phục vụ — đó là khôn ngoan thật sự.

Về sống đơn sơ – khiêm nhường mẹ khuyên:

“Chị em hãy sống đơn sơ và khiêm nhường: đó là con đường mở lòng người khác.”
(Tóm lược từ linh đạo Mẹ – được cộng đoàn ghi lại)

Không có sự khiêm nhường và dịu dàng, việc truyền giáo dễ trở thành áp đặt. Khôn ngoan là biết đi vào lòng người cách nhẹ nhàng

Bài học cho chúng ta hôm nay

·        Khi truyền giáo — hoặc chia sẻ đức tin — nên bắt đầu từ nội tâm: cầu nguyện, chiêm niệm, giữ đức tin sống động.

·        Hãy truyền giáo bằng hành động yêu thương, phục vụ, giáo dục — chứ không chỉ bằng lời nói.

·        Luôn tôn trọng, yêu thương người khác; kiên nhẫn, khiêm nhường, mềm mỏng — để Tin Mừng dễ được đón nhận.

·        Ưu tiên giúp người — đặc biệt những người nghèo, yếu đuối, bị bỏ rơi — như cách Mère Marie-Anastasie sống: vì bác ái là ngôn ngữ dễ hiểu nhất.

IV. TRUYỀN GIÁO BẰNG  SỰ VÂNG PHỤC- BẰNG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN- BẰNG SỰ KHÔNG NGOAN CỦA TÌNH YÊU

Đối với Mẹ, một sứ vụ chỉ sinh hoa trái khi người tông đồ biết để Thiên Chúa hướng dẫn, biết hiệp nhất với chị em, và biết khôn ngoan trong cách chạm đến con người.

Vâng phục – là nền tảng của người tông đồ khôn ngoan

Đối với Mẹ Anastasie, vâng phục không phải là tuân theo một cách thụ động, nhưng là đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa và để Người dẫn đường.

Trong những ghi chép truyền thống của cộng đoàn Monteils, Mẹ thường nhắc:

“Con không thể dẫn ai đến Chúa nếu chính con không bước đi dưới sự hướng dẫn của Người.”

Sự vâng phục làm cho người tông đồ trở nên khôn ngoan, bởi người ấy không hành động tùy hứng, mà để Thánh Thần hướng dẫn từng lời nói và công việc.

Cộng đoàn – nơi rèn luyện sự khôn ngoan truyền giáo

Trong linh đạo của Mẹ Anastasie, cộng đoàn không chỉ là nơi sống chung, mà là nguồn sức mạnh của sứ vụ.

Truyền thống dòng ghi lại lời Mẹ dạy các chị em trẻ:

“Chị này hãy là cây gậy cho chị kia; chị này hãy là muối cho chị kia – muối của sự khôn ngoan.”

Một cộng đoàn hiệp nhất là bài giảng âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất.
Người ngoài nhìn vào sẽ nhận ra Tin Mừng qua cách chị em yêu thương nhau.

Đây chính là con đường khôn ngoan mà Mẹ Anastasie để lại:
 trước khi đi truyền giáo bên ngoài, hãy để cộng đoàn rao giảng cho chính mình;
 trước khi dạy người khác, hãy để vâng phục uốn nắn trái tim mình.

Chỉ khi đó, lời rao giảng mới có sức mạnh.

Xin cho mỗi người chúng ta mang lấy tinh thần ấy để trở nên người Đa Minh của thời đại hôm nay:
hiền lành, khôn ngoan, vâng phục, và biết xây dựng cộng đoàn yêu thương như Mẹ Anastasie đã dạy.

 

Thầy là Ánh Sáng thế gian

 

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

               


“Hãy chỗi dậy hỡi ai ngủ mê...”.

Theo tiếng chuông Chúa gọi mời, chúng ta hãy chỗi dậy để đến cùng Chúa. Tuy nhiên, chúng ta còn phải như anh mù, sẵn sàng để ánh sáng Chúa soi dẫn, chấp nhận một cuộc tẩy rửa tâm can, để nhờ đó, chúng ta sẽ có ánh sáng Chúa soi chiếu và đạt đến niềm vui cứu độ đích thực.

Ai trong chúng ta dù khôn khéo và sắc xảo đến mấy lại không một lần mua phải hàng giả, đồ dỏm. Sự lầm lẫn về đồ vật gây ra thiệt hại một phần, thì sự lầm lẫn về người còn đem đến những hậu quả lớn gấp bội. Trong bài báo công an mới đây, có một người do nhìn lầm mà đã dùng cây đánh chết một người khác. Dĩ nhiên hậu quả đâu chỉ đối với bản thân mình, mà còn đối với nạn nhân và gia đình của người anh em vô tội. Đây chẳng phải là yếu điểm của riêng ai nhưng là của mọi người. Chẳng phải hôm nay, Samuel vị tiên tri của Thiên Chúa được sai đến nhà Giêsê để tìm vị quân vương nối nghiệp vua Saolê, đã xét đoán theo diện mạo, và dáng bên ngoài đó sao? Chính Thiên Chúa đã lên tiếng để cảnh tỉnh Samuel : Người phàm chỉ nhìn thấy ngoài mặt, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng. Câu chuyện Samuel hẳn muốn khẳng định với chúng ta rằng : Cái nhìn của Thiên Chúa khác với cái nhìn của con người và khi ai để cho ánh sáng Chúa soi chiếu, hướng dẫn, họ sẽ làm nên những điều kỳ diệu, lớn lao. Chân lý này không chỉ đúng cho trường hợp Ngài chọn gọi Đavít, nhưng còn đặc biệt là với Đức Kitô Đấng được xức dầu và sai đi thực hiện sứ mạng của Đấng Cứu Thế “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi ... . Dưới cái nhìn của nhân loại, Đức Giêsu chỉ là con của bác thợ mộc Giuse- người thành Nagiarét không hơn không kém. Thế nhưng chính qua Ngài, mà Thiên Chúa đang làm nên những điều kỳ diệu : Phép lạ chữa cho người mù từ lúc mới sinh hôm nay là một bằng chứng. Việc Ngài nhổ nước miếng xuống đất trộn với bùn xức vào mắt anh mù, cùng bảo anh đi rửa tại hồ Silôê xem ra là những việc quá quê mùa, ấu trĩ, và có khi còn phản lại vệ sinh khoa học. Ay vậy mà Tin Mừng lại ghi : Sau khi được rửa, anh ta đã được sạch. Vậy thì điều quan trọng không phải là nên làm hay không  nên làm- mà là có tin hay không tin, có chấp nhận hay không chấp nhận những đề nghị của Chúa. Nói cách khác, là có dám để ánh sáng Chúa chiếu soi, biến đổi, thánh hoá, tác động, dẫn dắt đời mình hay không?

Người mù hôm nay, ý thức nỗi bất hạnh lớn lao của kiếp mù loà. Nên đã sẵn sàng để đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Vì thế, Chúa đâu chỉ giải thoát anh khỏi sự mù loà phần xác, mà còn mở mắt đức tin để anh nhìn ra Chúa là một tiên tri, một Đấng Thánh và là Con của Thiên Chúa. Thái độ sấp mình xuống thờ lạy của anh, thay cho mọi lời anh nói. Vì giờ đây cần gì phải nói nữa khi mà anh thấy được mọi sự.

Điều trở thành niềm hi vọng cho anh mù, lại là cớ vấp phạm, sự bất hạnh cho người Do- thái, biệt phái, vì anh biết mình mù nên anh được sáng- còn người không biết mình mù thì cũng chẳng bao giờ cần được soi sáng. Đây chính là điều khiến cho thánh Phaolô luôn lo âu trăn trở, đặc biệt với các tín hữu của ngài ở Ephêsô. Trong Bài đọc II hôm nay, ngài ân cần nhắc với họ : Xưa kia anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ nhờ biết kết hiệp với Chúa, anh em lại là sự sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cáo sự sáng : mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Đây cũng chính là lời mời gọi dành cho từng người chúng ta trong Mùa Chay Thánh này.

Có đau mới biết thương người bệnh. Là một trong những Tông đồ đã được Chúa yêu thương cứu vớt khỏi chốn tối tăm lầm lạc, nên thánh Phaolô rất mong cho chúng ta cũng được sống trong hạnh phúc của sự sáng như Ngài. Vì thế ngài khuyên nhủ : Hãy chỗi dậy, hỡi những ai ngủ mê vì Đức Kitô đang chiếu giãi ánh sáng của Ngài trên chúng ta. Một cách chân thật khiêm tốn, chúng ta hãy nhận biết sự tăm tối của tâm hồn để trở về cùng Chúa :

Chúa Kitô hôm nay đang tiếp tục sứ mạng cứu thế của Ngài nhờ Thần Khí đã trao ban cho Giáo Hội. Chúng ta có nhìn ra sự tăm tối bởi thiếu học hỏi giáo lý, bởi những hành vi ám muội, gian ác, say sưa, để quay về cùng Chúa và được Chúa yêu thương chữa lành không?

Muốn đẩy lùi bóng tối, cần thắp lên nhiều ngọn đèn sáng, Làm thế nào để có thể phá tan những băng giá của đêm tăm tối nhân loại, nếu mỗi Kitô hữu không cố gắng thắp sáng ngọn nến đức tin qua đời sống lương thiện, ngay thẳng, nhất là qua lối sống vị tha cảm thông, nhịn nhục và bác ái. Ngọn đèn đời kitô còn đủ sáng để khơi lên hi vọng và sức sống cho nhân loại tăm tối hôm nay không?

Làm sao anh mù có thể gặp Chúa, rồi đi đến Chúa Silôê rửa để cuối cùng được sáng, nếu như  đã không có những người quảng đại dẫn đường chỉ lối cho anh ta? Hôm nay có biết bao người mắc bệnh mù loà mà không biết, và cũng không có khả năng đến với Chúa. Chúng ta có nhìn ra nỗi bất hạnh ở nơi những người chung quanh, cùng khu xóm, bạn bè và ngay trong gia đình, để biết dẫn họ đến với Chúa, với Bí tích Giải Tội mà được Chúa yêu thương chữa lành không?

Lạy Chúa Giêsu, qua việc mở mắt cho người mù hôm nay, Chúa không chỉ chứng tỏ quyền năng Thiên Chúa nhưng còn cho chúng con thấy rằng : Chúa chính là Đấng Cứu Thế, là đường, là sự thật và là sự sống. Xin Chúa cho chúng con, biết nhìn ra sự tăm tối, mù loà bất hạnh của tâm hồn, để như thánh Phaolô biết chỗi dậy dứt mình khỏi tội, cùng bước đi theo ánh sáng của Chúa, dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội, để nhờ bước đi theo Chúa là đường, là sự thật, chúng con sẽ đạt đến sự sống bất diệt là chính Chúa. Amen.

 

 

Mạch nước SỰ SỐNG

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY



             “Xin cho tôi nước đó, để tôi khỏi còn khát”. Tâm tư của chị phụ nữ Samaria đã được Chúa nhận lời khi Ngài tỏ cho chị biết Ngài chính là Đấng Cứu Thế, Đấng đến để giải thoát chị khỏi mọi đói khát của nghèo khổ bất hạnh vì xiềng xích của ma qủy, của tội lỗi, của gian tà bất chính.

Trong thánh lễ hôm nay, Con Thiên Chúa Đấng Cứu Thế cũng đang đến với chúng ta. Ngài đang tái hiện hi tế thập giá qua thánh lễ và lấp đầy tâm hồn chúng ta bằng Mình và Máu Thánh Ngài. Xin cho chúng ta biết thanh tẩy tâm hồn nên trong sạch thánh thiện để xứng đáng đón nhận hồng phúc của Chúa.

Trong cuốn kiến thức ngày nay số mới nhất, có thuật lại câu chuyện về “sức mạnh tình yêu”. Chàng là một người khổng lồ cao 1m88, còn nàng chỉ là một cô bé lùn cao 1m19. Có thể mọi người sẽ xem Reg và Odette là một đôi uyên ương thật ngộ nghĩnh. Song bất chấp chênh lệch về chiều cao, họ vẫn hạnh phúc bên nhau. Câu chuyện của họ bắt đầu từ một buổi hẹn tình cờ, đặc biệt từ lời mời đầy ngụ ý của chàng Reg điển trai: Nếu cô không có chỗ ngồi, cô có thể ngồi vào lòng tôi đây. Nàng choáng ngợp trước hạnh phúc, bắt đầu qua lại khắng khít với chàng. Kể từ phút đó, chẳng có sức mạnh nào tách họ ra được nữa. Thế là cũng chấm dứt luôn cái số phận nghiệt ngã, lang thang, nghèo khổ của một cô gái duyên dáng vai hề trong một gánh xiếc nhỏ. Cô đã được giải thoát, được mang lấy một số phận, một cuộc sống, một mái ấm gia đình và một tình yêu hạnh phúc.

Điều tưởng chỉ có trên phim, trên tiểu thuyết lại là một sự thật. Và sự thật đó đã từng đúng với dân tộc Israel. Chẳng phải trong tình thương, Thiên Chúa đã nhìn đến số phận lang thang, lưu đày, cay đắng của Israel bên Ai-cập, để giải thoát họ đó sao? Và chẳng phải vì tình yêu mà Ngài chấp nhận xoá đi mọi ngăn cách, mọi hận thù, để gần gũi với họ, lo lắng săn sóc cho họ đó sao? Và qua Môisen, Người tôi trung, Thiên Chúa tiếp tục có mặt để làm cho họ được sung sướng no thoả nước nguồn giữa nơi hoang mạc nóng cháy.

Tình yêu ấy như dòng chảy của một con sông, chảy hoài chảy mãi để đến hôm nay, ngang qua Môisen mới là Đức Kitô, Thiên Chúa đã chính thức định cư và cắm lều ở trần gian. Ngài đến để làm mới lại giao ước Sinai, một bản giao kết đã nhiều lần bị con người phản bội. Đi bước trước, Ngài chấp nhận đến với con người, dù biết rằng con người vẫn tìm cách chối từ Ngài như một kẻ xa lạ thù ghét : Ong là người Do Thái, mà lại xin nước uống tôi là người xứ Samari sao? Dòng sông yêu thương đã bị con người ngăn đập nay cần phải được phá đổ và khơi dòng, để con người có thể gặp được mạch suối yêu thương từ nơi Thiên Chúa: “ Đã đến lúc người ta sẽ thờ phượng Chúa không phải ở Giêrusalem hay trên núi này, nhưng là trong tinh thần và chân lý”. Từng bước, mọi hiểu lầm sẽ được tháo gỡ, mọi trăn trở được giải toa, và thành trì cuối cùng cũng được phá tan để con người cảm nhận ra được chỉ mình Thiên Chúa là Đấng Mêsia, Đấng Cứu Thế mà nhân loại mong mỏi đợi chờ:  “Bà nói tôi không có chồng là đúng, vì bà đã 5 đời chồng. Và người đàn ông đang chung sống với bà đây không phải là chồng bà”. Việc bóc trần, phơi bày tất cả sự thật giúp bà thấy sự nghèo nàn, đói rách, bất hạnh của mình, để đặt trọn niềm tin nơi Chúa: “ Người này đúng là Đấng Mêsia, Đấng Kitô của Thiên Chúa”.

Niềm tin đã giải thoát người đàn bà xứ Samari, đã làm cho bà no thoả trong dòng suối cứu độ yêu thương của Thiên Chúa. Đó cũng chính là xác tín mà Phaolô muốn khẳng định với chúng ta qua thư gửi cho Rôma hôm nay : “ Thiên Chúa đã chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân thì theo kỳ hạn, Ngài đã chết vì chúng ta”. Con Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận bất hạnh của chúng ta , nâng chúng ta lên trên thập giá và cho chúng ta được hạnh phúc nơi nhà của Thiên Chúa. Chúng ta sẽ làm gì để đáp trả :

*  Cuộc gặp gỡ giữa Con Thiên Chúa và người phụ nữ Samari hôm nay, đang mở ra cho chúng ta một niềm vui mừng, hi vọng, phấn khởi : “Vì Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian” . Chúng ta có nhận ra ý định yêu thương để ngay trong những ngày của mùa chay thánh này, biết quay về cùng Chúa, là Đấng cứu độ, theo mẫu gương người thiếu phụ Samaria hôm nay không?

*  Đã đến lúc con người thờ  phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Lối giữ  đạo đóng khung theo mùa, gói gọn trong nhà thờ, qua một vài lễ nghi tập tục : Đọc kinh, xưng tội, dự lễ… chưa đủ. Phải đi sâu hơn vào tâm tình, phải thể hiện bằng hành động trong cuộc sống. Đó là những nỗ lực cố gắng không ngừng để tôn thờ và làm vinh danh Chúa, qua việc tránh xa tội lỗi và trung thành đi trong đường lối, cũng như giữ các giới răn Chúa. Chúng ta có ý thức và thực hiện điều đó chưa?

*  Bà nói tôi không có chồng cũng phải. Gặp gỡ Đức Kitô là không ngừng khám phá ra con người thật dòn mỏng yếu đuối, tội lỗi, không phải để mặc cảm chán nản, nhưng để vươn lên thoát ra khỏi ràng buộc đó, mà sống đời sống mới : công bình hơn, ngay thẳng hơn, trong sạch hơn, khoan dung hơn, thánh thiện hơn. Đó có phải là quyết tâm của tôi với Chúa hôm nay không?

Ai đến với Ta sẽ không hề khát. Từ lòng họ sẽ vọt lên một dòng nước đem đến sự sống đời đời. Để luôn no thoả trong sự yêu thương của Chúa, chúng ta có chấp nhận như người phụ nữ Samaria, phá bỏ mọi ước lệ, ranh giới, tường rào của mặc cảm, của hiểu lầm nghi kị, ghen ghét, để hội nhập và cảm thông, gần gũi với anh em như Chúa đã làm cho chúng ta không?

Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu thoát. Xin Chúa cho con biết nhìn ra cuộc thăm viếng của Chúa hôm nay để nhờ đã vượt lên trên mọi mặc cảm, ràng buộc, thoát ra khỏi mọi xiềng xích tội lỗi, chúng con sẽ đón nhận được hạnh phúc trường sinh từ nơi chính Đức Kitô Cứu Thế. Amen.

  

Bổn Mạng và Lễ Giỗ tháng 3