Con Người Trở Nên Vĩ Đại Nhờ Cầu Nguyện

 

CON NGƯỜI TRỞ NÊN VĨ ĐẠI NHỜ CẦU NGUYỆN

 


Pascal là một nhà bác học nổi tiếng và cũng là một nhà triết gia lỗi lạc, ông đã có một câu nói thời danh để đời như sau: “Con người chỉ vĩ đại khi họ cầu nguyện.

 Thật vậy, con người là loài thụ tạo cao quý nhất mà Thiên Chúa dựng nên.  Con người có giá trị trổi vượt trên các loài thụ tạo khác.  Tuy nhiên, con người chỉ có thể trở nên vĩ đại nhờ có một mối tương quan mật thiết với Đấng là chủ tể của mình ngang qua đời sống cầu nguyện.  Bởi vì cầu nguyện là chiếc cầu nối liền giữa Thiên Chúa và con người.  Cầu nguyện làm cho con người tìm ra được nguồn cội, cùng đích của cuộc đời.  Cầu nguyện cũng giúp cho con người biết mình phải làm gì và khước từ điều gì.

 Hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu ngay từ sáng sớm, người lánh sang một nơi thanh vắng để cầu nguyện sau một ngày làm việc mệt nhọc với sứ vụ và tiếp tục với hành trình rao giảng Tin Mừng mới.  Điều này cho thấy: cầu nguyện là việc vô cùng cao quý và quan trọng trong hành trình loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu cũng như người môn đệ.

 1.    Cầu nguyện không ngừng 

Đã có lần, Đức Giêsu nghe các môn đệ của mình kể về thành tích mà các ông đạt được sau những ngày vất vả vì sứ vụ.  Các ông trở về trong hân hoan và khoe với Ngài về thành tích đạt được: thành công trong việc chữa lành bệnh tật, nhiều người nghe lời các ông giảng và ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục (x. Mc 6, 30-31).

 Tuy nhiên, Đức Giêsu đã không khen ngợi các ông, Ngài cũng chẳng đề nghị các ông tiếp tục thi hành.  Và hoàn toàn không mở tiệc linh đình để tuyên dương kết quả!  Nhưng Ngài nói với các ông: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6, 31).  Nghỉ ngơi ở đây có nghĩa là trở về với Thiên Chúa và với bản thân trong sự thinh lặng nội tâm sâu xa.

 Còn khi dạy các Tông đồ cầu nguyện, Ngài nói: “Phải cầu nguyện luôn mãi không ngừng nghỉ” (Lc 18,1); chỗ khác Ngài truyền lệnh: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 14,38).  Hơn nữa, khi nói về giới hạn của con người và tầm quan trọng của cầu nguyện, Ngài mặc khải: “Không có Thầy, chúng con không thể làm được gì” (Ga 15,5).  Hay để khơi lên niềm tín thác vào Thiên Chúa là Đấng xót thương, Đức Giêsu khẳng định: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7).

 Như vậy, đời sống cầu nguyện là nền tảng để xây dựng đời sống Tông đồ nơi người môn đệ.  Cầu nguyện chính là hồn sống, là thước đo để biết được người Tông đồ thi hành sứ vụ vì ai, cho ai và mục đích gì!  Cầu nguyện còn để xác định rõ: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.  Nói cách khác, đời sống cầu nguyện được ví cá cần nước, cây cần ánh sáng, con người cần hơi thở.

 2.    Mẫu gương cầu nguyện nơi Đức Giêsu

Khi thấy được tầm quan trọng không thể thiếu của đời sống cầu nguyện, nên Đức Giêsu không chỉ dạy các môn đệ cầu nguyện, nhưng chính Ngài đã làm gương về đời sống cầu nguyện.

 Thật vậy, Ngài luôn luôn cầu nguyện trước, trong và sau khi làm bất cứ việc gì.  Ngài cầu nguyện trong sa mạc; nơi hội đường; trên triền núi; ngoài bãi biển….

 Hôm nay, thánh Máccô một lần nữa cho ta thấy Đức Giêsu coi trọng và ưu tiên hàng đầu trong việc cầu nguyện, tác giả viết: “Sáng sớm lúc trời còn tối, Người đã dậy đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc l,35).

 Khung cảnh “sáng sớm” cho chúng ta thấy một đêm dài đã kết thúc và một ngày mới khởi đầu.  Thái độ cầu nguyện ngay từ khi trời còn tối báo cho chúng ta biết, Đức Giêsu chắc chắn tạ ơn, chúc tụng quyền năng của Thiên Chúa qua những việc Ngài đã làm trong ngày hôm trước như: thăm viếng, chữa bệnh, trừ quỷ….  Mặt khác, trải qua một đêm có lẽ nhiều thao thức, trăn trở và lựa chọn để làm trong ngày mới, nên ngay từ sáng sớm, Ngài đã xin ý của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện, để mọi việc được diễn ra trong thánh ý của Người.  Chính vì điều này mà mọi hoạt động của Đức Giêsu đều quy hướng về Thiên Chúa và mang lại vinh quang cho Người.

 Như vậy, giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa có một sự gắn kết mật thiết đến độ không thể tách rời đến nỗi đã có lần Đức Giêsu tuyên bố: “Ta và Cha ta là một”; hay “lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34).

 3.    Cầu nguyện là nền tảng cho mọi hoạt động

Ngày nay, chúng ta thấy có rất nhiều sự rạn nứt qua các mối tương quan như: rất nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, thiếu sự chung thủy.  Nạn phá thai diễn ra như cơm bữa.  Lương tâm, chân lý không còn được lưu tâm hay bị lệch lạc.  Con cái vô cảm, bất hiếu và hỗn xược với đấng sinh thành.  Anh chị em trong gia đình loại trừ nhau.  Hàng xóm láng giềng không còn chuyện “tối lửa tắt đèn có nhau!  Thầy cô giáo và học trò ít quan tâm đến chuyện: “Tiên học lễ, Hậu Học văn”; vì thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò!  Bạn bè với nhau không còn tính trung thực, mà thay vào đó là lợi dụng nhau, thanh toán nhau bằng nắm đấm, song sắt, lưỡi lê….

 Nguyên nhân lớn nhất đó là thiếu hay coi thường hoặc không có đời sống cầu nguyện.  Bởi vì, không cầu nguyện, con người sẽ không nhận ra Thiên Chúa là ai cũng như không biết coi trọng nhân phẩm của mình và của nhau.  Không có đời sống cầu nguyện, người ta cũng không tìm ra lý tưởng và không thể trả lời được về mục đích của sự hiện hữu nơi mình trên trần gian. Đàng khác, khi đời sống cầu nguyện bị sao nhãng, người ta cũng chẳng cần quan tâm đến sự thật và lòng trung thành, từ đó, họ có thể làm bất cứ điều gì mà không sợ áy náy!  Họ sẵn sàng “dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt”; hay cả phương tiện và mục đích đều xấu, nhưng lương tâm đã bị trai lỳ, vô cảm nên họ vẫn sẵn sàng làm cho kỳ được để thỏa mãn điều mong muốn một cách bất nhân.

Hơn nữa, nhiều người có cầu nguyện, nhưng sự hời hợt, qua lần chiếu lệ đã làm cho họ chẳng khác gì như hạt giống gieo nơi vệ đường, trên bụi gai và nơi đá sỏi.  Hãy nhớ lại câu chuyện Tổ Tông sa ngã chỉ vì hiểu có một nửa sự thật!

Chính vì thiếu đời sống cầu nguyện sâu xa như thế, nên việc sống đạo của chúng ta bị nhàm chán, hờ hững và hình thức bên ngoài, khiến cho những công việc chúng ta làm bị phản tác dụng khi nó quy chiếu về bản thân mình chứ không hướng về Chúa.

Muốn khắc phục tình trạng trên, chúng ta cần chuẩn bị tinh thần thật minh mẫn, sốt sắng, vui tươi như thể mình đang chuẩn bị đi gặp “người yêu.  Phải thực sự có kinh nghiệm cá vị về Thiên Chúa.  Mặt khác, chúng ta phải tin tưởng chắc chắn rằng, chúng ta đang ở bên Chúa, Chúa đang ở bên ta, vì thế, cần có thái độ của đức tin để phó thác, thái độ khiêm tốn để lắng nghe.  Bởi vì: “Cầu nguyện là hô hấp của tâm hồn.

Chỉ có thế, chúng ta mới có thể xóa đi cái “tôi” ích kỷ, hư ảo, kiêu ngạo, để thay vào đó là sự khiêm tốn, hiền lành và khiêm nhường như Chúa .  Như vậy, nhờ đời sống cầu nguyện, chúng ta mới nhận ra: “Con người vĩ đại nhờ cầu nguyện.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đặt mình bên cạnh Chúa, được sống với Chúa, được nhìn ngắm Chúa, được lắng nghe tiếng Chúa, được gặp gỡ Chúa, và được chìm sâu trong Chúa, Đấng cứu độ chúng con ngang qua đời sống cầu nguyện.  Amen.

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Suy niệm Chúa nhật IV Thường niên B

 

DIỆT TRỪ SỰ DỮ

 


Độc giả hôm nay cũng như những người chứng kiến sự kiện mà thánh Mác-cô thuật lại đều ngỡ ngàng và thú vị ở chi tiết: chính thần ô uế công khai tuyên xưng thân thế và sứ mạng của Đức Giêsu.  Theo khái niệm của Kinh Thánh, thần ô uế vừa tượng trưng cho ma quỷ Satan, vừa là lực lượng đối lập với những gì là thiện hảo, ngay lành và thậm chí còn đối lập với chính sự thánh thiện của Thiên Chúa.  Thần ô uế đã tuyên xưng: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”  Bằng một mệnh lệnh, Chúa Giêsu đã bắt nó phải buông tha người bị nó ám.  Thánh Mác-cô hay diễn tả uy quyền của Chúa bằng cách ra lệnh cho các thế lực thiên nhiên hay ma quỷ, như trong Mc 4,39 Chúa đe gió và biển: “Im đi, câm đi”; Chúa ra lệnh cho người bại tay (x. Mc 3,5).  Chắc hẳn lời tuyên xưng của thần ô uế đã giúp nhiều người tin vào Chúa Giêsu, nhận ra Người là Đấng đến trần gian để xua đuổi thế lực của tối tăm, diệt trừ sự dữ và xây dựng một vương quốc thánh thiện, nhằm thánh hóa con người.

 

Thánh Mác-cô cho chúng ta một chi tiết đặc biệt nữa: Hội đường là nơi thánh thiêng của người Do Thái cũng giống như nhà thờ của các Kitô hữu ngày nay.  Vào mỗi ngày Sa-bát, mọi người đều tập trung ở đó để đọc và nghe Lời Chúa.  Chính Chúa Giêsu, khi trở về thăm quê hương Nagiarét, đã vào hội đường và đọc Kinh Thánh trước mặt cộng đoàn (x Lc 4,16-28).  Vậy mà, dưới ngòi bút tường thuật của thánh Mác-cô, nơi ấy cũng có thần ô uế ám ảnh.  Chính nơi thờ phượng thiêng liêng của người Do Thái cũng có sự hiện diện của Satan.  Với những chi tiết này, Thánh Mác-cô có ngầm ý khẳng định với chúng ta rằng, Chúa Giêsu đến để canh tân phụng vụ Do Thái đã trở nên lỗi thời và còn nhiều khiếm khuyết.  Sau này, chính Chúa Giêsu tuyên bố Người là Đền thờ đích thực.  Nền phụng vụ mới mà Chúa Giêsu đề nghị, đó chính là thờ phượng Chúa trong tinh thần và chân lý.  Sự hiện diện của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi đền thờ hay hội đường, tình yêu thương của Chúa không phân biệt sắc tộc hay ngôn ngữ, nhưng ở đâu có tình yêu thương thì ở đó có Đức Chúa Trời.  Theo giáo huấn của Chúa Giêsu, lời ca tụng tôn vinh Chúa phải xuất phát từ tấm lòng chân thành và phải đi đôi với thiện chí để nên trọn lành.

 

Sứ mạng của Đấng Thiên sai là đẩy lui quyền lực của bóng tối đang bao phủ nhân loại.  Chúa Giêsu đã đến trần gian để giải phóng con người khỏi ách kìm kẹp của ma quỷ, là quyền lực của tối tăm.  Người là ánh sáng trần gian đã bừng lên trong tăm tối để dẫn đưa con người về chính lộ.  Những người Do Thái chuyên tâm đọc Sách Thánh sẽ dễ dàng nhận ra Chúa Giêsu chính là vị ngôn sứ mà Cựu ước đã loan báo.  Sách Đệ Nhị Luật ghi lại những lời giáo huấn của ông Môisen, vị thủ lãnh đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Aicập.  Trong những lời trăng trối cuối đời, ông Môisen đã nói đến một vị ngôn sứ Chúa sẽ gửi đến.  Vị này cũng đầy quyền uy để lãnh đạo dân như ông Môisen, và còn hơn cả Môisen nữa.  Sứ mạng của vị Ngôn sứ này là đem Lời Chúa làm lương thực nuôi dân chúng (Bài đọc I).  Chúa Giêsu chính là vị Ngôn sứ muôn dân mong đợi.  Ngài đến để thanh tẩy con người khỏi mọi tội lỗi, để thiết lập một nền phụng vụ đích thực, không còn những uế tạp trần tục, nhưng có khả năng thánh hóa con người.  Những người có mặt hôm đó tại hội đường, từ tâm trạng sững sờ đến trầm trồ thán phục: “Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền.  Ông ấy ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh.”

 

Hơn hai ngàn năm đã qua, Giáo Hội không ngừng loan báo Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và giải phóng con người.  Giáo Hội cũng đang tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, nhằm đem ơn cứu độ đến cho mọi dân tộc.  Loan báo Đức Giêsu cũng là sứ mạng của mỗi Kitô hữu.  Đó chính là nhiệm vụ chúng ta đã lãnh nhận khi được chịu phép Thanh tẩy.  Tuy vậy, trước khi nói đến loan truyền Tin Mừng cho người khác, mỗi chúng ta phải sống Tin Mừng trong cuộc sống cụ thể hằng ngày.  Trong con người của chúng ta, đang hiện hữu vừa ánh sáng vừa bóng tối, vừa hình ảnh của Thiên Chúa nhưng cũng vừa hình ảnh của Satan.  Chính vì thế mà chúng ta phải thanh tẩy bản thân mỗi ngày.  Ơn gọi nên thánh không phải là những điều quá sức con người, mà đó là những điều rất bình dị trong cuộc sống.  Thánh Phaolô đã cụ thể hóa đời sống Kitô hữu bằng cách khuyên mỗi người trong gia đình và trong cộng đoàn hãy chuyên tâm thực thi bổn phận của mình đối với Chúa và đối với tha nhân.  Người lập gia đình thì chăm lo việc gia đình.  Người tu hành thì chăm lo việc Chúa.  Những công việc đời thường, nếu được chu toàn với thiện ý và với tâm tình Đức tin, thì cũng góp phần làm cho chúng ta nên hoàn thiện (Bài đọc II).

 

Là Kitô hữu, chúng ta được tham dự vào chức ngôn sứ của Chúa Giêsu.  Mục đích của chức năng này là rao giảng Lời Chúa.  Được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu nhờ bí tích Thanh Tẩy, người Kitô hữu cũng đang cùng với Chúa Giêsu để diệt trừ sự dữ, đẩy lui quyền lực của tối tăm và làm cho ánh sáng cứu độ bừng lên nơi mọi nẻo đường của cuộc sống.  Những người dân thành Caphanaum chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu làm đã đồn ra khắp vùng.  Mỗi chúng ta khi cảm nghiệm những điều lạ lùng Chúa làm cho mình, hãy nỗ lực cố gắng để nói về Chúa cho mọi người xung quanh, để kể lại những kỳ công của Người.

 

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 

Suy niệm Chúa nhật III Thường Niên B

 


Đoạn Tin Mừng kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên là Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan: “Các anh hãy đi theo tôi”. Nghe tiếng Chúa kêu gọi, các ông đáp lại ngay và sẵn sàng từ bỏ mọi sự, kể cả những gì thiết thân nhất trong đời sống như nghề nghiệp và phương tiện sinh sống cùng với những mối liên hệ ruột thịt tự nhiên. Các ông đi theo Ngài một cách tin tưởng mà không hỏi xem Ngài sẽ dẫn các ông đi đâu và tương lai sẽ thế nào.

Bốn tông đồ đầu tiên nói riêng và tất cả các tông đồ nói chung, đã thực thi mệnh lệnh “Hãy đi theo tôi” của Chúa Giêsu một cách trọn vẹn. Các ông đã đi theo Chúa, sống bên Chúa, chứng kiến mọi việc Chúa làm, ghi nhớ những lời Chúa giảng dạy. Và khi Chúa về trời, các ông hăng say rao giảng về Chúa và giáo huấn của Chúa cho đến chết.

Nếu Chúa Giêsu đã quan tâm kêu gọi những người cộng sự trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng, thì điều đó có nghĩa là Ngài không muốn làm việc một mình mà muốn nước trời là công trình có sự đóng góp của mọi người. Lời kêu gọi “Hãy đi theo tôi” hôm qua vang lên bên tai các tông đồ thì hôm nay vẫn còn vang lên trong nhịp sống Giáo hội và gửi đến chúng ta. Vấn đề là chúng ta có quan tâm lắng nghe và đáp ứng không?

Như các tông đồ xưa kia được kêu gọi là để cộng tác với Chúa Giêsu việc cứu độ nhân thế: “Tôi sẽ cho các anh trở thành kẻ đi chài lưới người”, thì người Kitô hữu cũng thế, được kêu gọi theo Chúa, không phải chỉ lo cứu linh hồn mình, nghĩa là không phải chỉ là người giữ đạo, đọc kinh, đi lễ, nhưng còn để làm  tông đồ cho Chúa nữa. Dù ở bậc sống nào, dù ở bất cứ chỗ nào, dù vào hay không vào đoàn thể nào, chúng ta cũng phải là những tông đồ của Chúa. Làm tông đồ trước tiên là bằng chính đời sống tốt đẹp, và đó là cái lưới Chúa dùng chúng ta để đi chài lưới con người.

Câu truyện sau đây là một thí dụ điển hình: Một hôm, thánh Clêmentê lững thững đi vào một quán ăn. Ngài giơ tay ra chào mọi người và nói: “Xin quí ông rộng lượng bố thí cho các em cô nhi một miếng ăn”. Tức thì các thực khách cười rộ lên. Một người tên là Wilszek ngổ ngáo nói: “Một miếng ăn cho các em hả, được lắm”. Nói xong, anh ta nâng cốc bia lên uống, rồi phùng miệng phun thật mạnh vào mặt cha Clêmentê. Ngài điềm tĩnh lấy khăn mùi xoa ra lau mặt, rồi lại giơ hai tay ra và nói: “Thưa các ông, đó là phần của tôi. Còn phần của các em cô nhi đâu chưa thấy”. Wilszek khựng lại, anh ấp úng nói. “Tôi… tôi sẽ gởi tặng các em một món quà”. Quả thực, sau đó anh tự động đi lạc quyên các bạn bè xa gần và đến trao cho thánh Clêmentê một món tiền lớn; và anh còn làm nhiều lần như thế.

Gương sáng đời sống tốt đẹp có sức mạnh như thế đó. Ước gì, từ đời sống hòa thuận yêu thương trong gia đình, đến mối quan hệ tốt đẹp với mọi người trong xóm ngõ, cuộc sống tốt trong nghề nghiệp và bổn phận sẽ là lời chứng: Chúng ta là môn đệ Chúa Kitô.

 

Thấy - Gọi - Bỏ - Theo

 

THẤY - GỌI - BỎ - THEO

 


Sau khi chịu phép rửa của Gioan ở sông Giođan, Đức Giêsu biết đã đến lúc mình phải rời bỏ gia đình ở Nadarét, phải chia tay với người mẹ thân yêu, phải từ giã nghề nghiệp mà mình đã theo đuổi mấy chục năm trời.  Sau khi nhận Thánh Thần từ trên xuống, Đức Giêsu biết đã đến lúc mình phải lên đường dấn thân cho sứ mạng do Cha ủy thác.

 

Vùng Galilê là vùng Ngài bắt đầu rao giảng Tin Mừng về Nước Trời (c.14).  Ngài mời người ta sám hối và tin vào Tin Mừng mà Ngài rao giảng (c.15).  Nhưng Đức Giêsu không nghĩ rằng mình có thể tự mình làm mọi sự.  Ngài cần người cộng tác, dù nước Israel chỉ là một nước bé nhỏ.

 

Đức Giêsu đi tìm môn đệ, và Ngài bắt gặp các anh đánh cá nơi hồ Galilê.  Có hai đôi anh em ruột đã lọt vào mắt của Ngài.  Ngài THẤY Phêrô và Anrê đang quăng lưới bắt cá.  “Hãy theo tôi.  Tôi sẽ làm các anh thành những kẻ lưới con người” (c. 17).

 

Đây là một mệnh lệnh nhưng cũng là một lời mời thân thương.  Ngài GỌI họ đi theo Ngài, theo chính con người của Ngài, chứ không phải theo một lý tưởng hay một chủ nghĩa nào đó, dù là cao đẹp.  Theo Ngài sẽ dẫn đến một thay đổi lớn nơi họ: từ lưới cá đến lưới con người.  Bây giờ con người là mối bận tâm của họ, không phải là cá như xưa nữa.

 

Đức Giêsu cũng thấy cặp anh em ruột thứ hai là Giacôbê và Gioan.  Họ đang vá lưới trong khoang thuyền với người cha.  Khung cảnh cha con thật êm đềm, tưởng như chẳng gì có thể làm xáo trộn.  Tiếng gọi của Thầy Giêsu vang lên, gây cuộc chia ly. 

 

Bốn anh đánh cá đầu tiên này đã BỎ để đáp lại tiếng gọi của Thầy Giêsu.  Họ đã bỏ chài lưới, bỏ nghề đánh cá, bỏ những thú vui của sông nước.  Hơn nữa họ còn bỏ gia đình, bỏ vợ, bỏ cha, để gắn bó với Thầy Giêsu.  Họ bỏ một giá trị để sống cho một Giá Trị lớn hơn, bỏ một tình yêu để sống cho một Tình Yêu lớn hơn.

 

Đức Giêsu đã có kinh nghiệm về sự đau đớn khi phải từ bỏ như vậy.  Nhưng bỏ chính là để THEO (c. 18.20).  Theo một Đấng sống không chỗ tựa đầu, và bước vào cuộc phiêu lưu bấp bênh.  Hôm nay Đức Giêsu vẫn cần những con người dám sống cho người khác, dám bỏ lại những điều rất quý giá và thân thương, dám bỏ lại cuộc sống ổn định và ấm êm, tiện nghi và dễ chịu.  Xin cho chúng ta nghe được tiếng gọi thì thầm của Ngài và vui sướng đáp lại.

 

****************************

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.  Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

 

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.  Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.  Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.  Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường,hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

 

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

 


 

Suy niệm Chúa Nhật II Thường Niên B

 


Là người đạo gốc, chúng ta vốn thường xuyên đọc kinh xem lễ, nhưng rồi một ngày nào đó chúng ta băn khoăn tự hỏi: Liệu chúng ta đã thực sự gặp gỡ Chúa hay chưa? Vậy thế nào là gặp gỡ Chúa? Kinh Thánh đã kể lại biết bao nhiêu sự gặp gỡ.

Trong Cựu ước, chúng ta thấy Samuel đã gặp gỡ Chúa ngay từ buổi thiếu thời khi cậu ngủ trong đền thờ, từ đó cậu bước theo tiếng gọi của Chúa trong suốt cuộc đời.

Trong Tân ước, phải kể đến trước tiên là các môn đệ. Các ông đã gặp Chúa Giêsu, được Ngài gọi và đi theo Ngài. Nhất là khi đã cảm nghiệm được mầu nhiệm Phục Sinh, các ông mạnh dạn rao giảng Tin Mừng, mặc bao gian truân nguy hiểm trên con đường thực hiện sứ vụ.

Tiếp đến là những người phụ nữ. Chẳng hạn như người đàn bà ngoại tình đã được Chúa che chở bình an trước những kẻ cực đoan định ném đá chị. Hay như Madalena, ngay từ buổi gặp gỡ Chúa đã đoạn tuyệt với cuộc đời tội lỗi để sống xứng đáng với ơn tha thứ chị đã nhận lãnh.

Đặc biệt nhất là thánh Phaolô. Kể từ khi bị ngã ngựa trên đường đi Đamas, ông đã bừng tỉnh. Từ một kẻ say sưa bắt bớ các tín hữu, ông đã trở thành một tông đồ nhiệt thành và xác tín: “Đức Kitô sống trong tôi… và không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa”. Ông đã cảm nhận mình là chi thể của Đức Kitô, là đền thờ của Thiên Chúa, và trong suốt cuộc đời còn lại ông đã trung thành với ơn gọi của mình, là đem Tin Mừng đến cho dân ngoại.

Trong lịch sử Giáo Hội, sự gặp gỡ làm thay đổi cuộc đời đã được thể hiện qua hình ảnh của thánh Augustinô, thánh Ignatiô và nhiều vị thánh khác. Từ một cuộc sống sa ngã trác táng, họ đã trở nên những con người thánh thiện, nhiệt thành với sự nghiệp Nước Chúa.

Trong cuốn sách mang tựa đề: “Những người trở lại trong thế kỷ 20” ghi lại hơn ba mươi khuôn mặt từ giám mục, linh mục, tu sĩ đến giáo dân và cả những người ngoài Kitô giáo đã có những cuộc đổi đời kỳ diệu. Tác giả trình bày kinh nghiệm gặp gỡ Chúa một cách độc đáo, riêng biệt của từng người. Và từ đó cuộc đời của họ đã biến đổi một cách sâu sắc.

Dù trở lại cách nào đi chăng nữa, thì qua những lần gặp gỡ, họ đều cảm nhận được Chúa Giêsu một cách rất cụ thể. Họ cũng cảm nhận được tình thương cao cả của Chúa đối với con người. Và mỗi người đều đáp lại lời mời gọi của Chúa chính đời sống của mình.

Chúng ta gọi tên những cuộc gặp gỡ này là: những cuộc gặp biến đổi. Xin cho chúng ta được như Gia kêu ngày xưa, gặp Chúa và được đổi mới cuộc đời. Cũng như các tông đồ, gặp Chúa là bỏ mọi sự để đi theo, và đem cả cuộc đời để làm chứng. Chúng ta hãy thử nhìn vào đời sống của mình, xem chúng ta đã thực sự gặp Chúa hay chưa? Ước gì qua các giờ phụng vụ của cộng đoàn giáo xứ, qua các giờ kinh nguyện chung, hay qua các việc làm bác ái, những lần thăm viếng yêu thương người khác là chúng ta gặp Chúa. Và mỗi cuộc gặp gỡ đều đem đến cho chúng ta những biến đổi.