CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN - A

Tích xưa kể rằng: Hàn Tín thời Hán Cao Tổ, thuở hàn vi phải đi câu cá đổi gạo mà ăn. Thế mà có những lúc không đủ ăn. Có bà thợ giặt cảm thương đã mời Hàn Tín đến dùng cơm tại nhà. Hàn Tín đi đâu cũng mang thanh gươm kè kè bên mình.
Một hôm, có tên đồ tể Ác Thiểu muốn hạ nhục Hàn Tín, chận đường thách:
Chú thường mang gươm, chả biết để làm gì! Bây giờ tôi không cho chú đi. Chú có gan thì sẵn thanh gươm đó hãy chém tôi đi, bằng không thì phải lòn trôn tôi mà đi.
Hàn Tín chẳng chút do dự, lòn trôn tên hạ tiện đó mà đi, vì tự nhủ: "Giết thằng này thì được rồi, nhưng mà lấy mạng mình đổi mạng nó, thì không đáng tí nào!"
Sau Hàn Tín nhờ có công giúp Hán Cao Tổ dựng nước mà được phong làm Vua Tam Tể. Lúc bấy giờ, Hàn Tín bèn mời bà thợ giặt đến biếu nghìn lạng vàng để tạ ơn. Rồi không những không thèm trả thù tên đồ tể mất dạy xưa, lại phong cho hắn chức Trung Huý. Ác Thiểu rất ngạc nhiên, khúm núm nói: "Lúc trước tôi ngu lậu thô bỉ, đã dại dột xúc phạm đến oai nghiêm ngài, nay tội ấy được tha chết là may, còn dám mong đâu ban chức tước?
Hàn Tín ôn tồn bảo: "Ta chẳng phải là kẻ tiểu nhân hay cố chấp, đem lòng thù hận. Hành động của ngươi ngày xưa tuy quá đáng, nhưng cũng là bài học luyện chí cho ta. Vậy nhà ngươi chớ tị hiềm mà hãy nhận chức ta ban".
Lối báo đền ân oán của Hàn Tín thật là hay. Đối với người ân thì ban thường, song đối với người oán cũng vẫn ban thưởng chớ không trả thù. Thật là một người quân tử.
Là người con của Chúa, Chúa dạy chúng ta hãy làm hoà trước để khỏi xảy ra điều tai hại hơn. Đây là một lời khuyên quan trọng: chẳng những không được làm hại ai hay có ý mưu hại ai, mà còn phải đi trước một bước mà làm hoà. Nói rõ hơn, trước một điều bất công, vô tình hay hữu ý, thiên hạ gây cho ta: như xỉ nhục, xỉ vả, chê cười, nói hành, vu vạ, cáo gian... Tất nhiên lòng tự ái chúng ta bị va chạm, không thể nhịn được, lòng chúng ta như muốn trả đũa ngay. Đó là tính tự nhiên của con người. Nhưng Chúa muốn chúng ta sống khác hơn, sống cao thượng hơn. Chúa muốn chúng ta tha thứ và làm hoà. Tha thứ và làm hoà là điều kiện phải có để đến với Chúa. Không thể đến với Chúa mà lòng còn ngổn ngang những tức giận, ghen tương, đố kỵ. Nhân vô thập toàn, ai cũng có những lầm lỗi, ai ai cũng cần được tha thứ, thế nên cũng cần phải biết tha thứ cho nhau. Người ta vẫn thường nói để sống với Chúa cần có đức tin để mình tin tưởng, phó thác cậy trông vào Chúa giữa những phong ba của dòng đời, và để sống với tha nhân, cần phải có lòng độ lượng, để mình sống bao dung và tha thứ cho người khác. Nếu chúng ta không có lòng độ lượng có lẽ mình sẽ chẳng sống được với ai, và cũng chẳng ai sống được vời mình. Đây cũng là điều mà Chúa mời gọi chúng ta phải công chính hơn những người biệt phái trong tình yêu tha thứ. Không chỉ yêu kẻ yêu mình mà còn yêu cả kẻ ghét mình. Không chỉ quý mến kẻ thi ân cho mình mà còn làm ơn cho kẻ làm hại chính mình. Bởi vì, oán báo oán thì oán chập chùng. Chúa mời gọi chúng ta hãy tha thứ cho kẻ thù, hãy làm hoà cùng kẻ thù và hãy cầu nguyện cho kẻ thù. Chính Chúa đã sống tình yêu đó trên thập tự giá, nơi đó người ta đã tuôn đổ sự tàn ác trên thân thể Ngài, thế mà Ngài vẫn xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm. Tình thương Chúa không dừng lại ở việc tha thứ mà còn thi ân cho mọi người, kẻ lành cũng như người dữ. Kẻ thờ phượng Chúa cũng như kẻ chống đối lại Chúa.
Ước gì mỗi người chúng ta hãy sống tình thương bao dung đó cho anh em của mình. Hãy quên đi những xúc phạm của nhau. Hãy làm hoà để thêm bạn bớt thù. Hãy tha thứ để tìm được sự bình an tâm hồn cho bản thân và cho những người chung quanh. Xin Chúa là Đấng hằng thương xót và tha thứ, xin giúp chúng ta biết tha thứ lỗi lầm của anh em, như Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Amen.

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

TÌNH YÊU LÀ GÌ?

Chúng ta thường nghe nói là người ta có thể nghĩ ngợi những việc trên trời nhưng lại kém cỏi những việc dưới đất. Đó là điều mà chúng ta không thể qui trách Thiên Chúa được. Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa quan tâm đến trần thế. “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3, 16). Đó là Chúa Giêsu và “Ngài đã trở nên xác thịt và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14).
Tình yêu bằng xương bằng thịt
Chúa kêu gọi chúng ta sống một tình yêu có tính cách trần thế, hữu hình, bằng xương bằng thịt và mang đặc tính thiết thực. Tình yêu đó không bị gò bó trong khuôn khổ luật lệ. Bạn có thể tuân giữ mọi luật lệ mà bạn bắt buộc phải giữ, nhưng rồi bạn cũng sa ngã trong những tội trọng.
Ân ái trong hôn nhân là một thí dụ. Ân ái trong hôn nhân được luật lệ cho phép. Trong thực tế, chính đó là thời gian duy nhất được phép, miễn là người ta không tìm kiếm sự khoái lạc “thái quá”! Tôi thiết tưởng đó là từ ngữ được sử dụng trong những sách thần học luân lý cổ xưa. May mắn thay, quan điểm đó đã được duyệt xét lại.
Trong hôn nhân, ân ái có thể bị cưỡng chế. Như vậy, tuân giữ luật lệ cũng chưa đủ. Tình yêu, chứ không phải luật lệ, mới là trắc nghiệm của hôn nhân. Nói theo ngôn từ của Chúa Giêsu: cứ dấu nầy mà thế gian biết được anh là chồng của em, do bởi tình yêu của em đối với anh; hay ngược lại.
Điều có ý nghĩa nhất mà chúng ta có thể thực thi trong cuộc sống hằng ngày, theo như Chúa Giêsu, là “thực thi tình yêu.” Nhờ có thực hành mới nên trọn hảo. Tuy nhiên, chúng ta phải rất thận trọng trong việc “thực hành như thế nào.”
Đa số trong chúng ta sống với những người mà chúng ta không bao giờ nói với họ là chúng ta yêu thương họ. Chúng ta không bao giờ nắm tay họ. Chúng ta không bao giờ làm cho họ cảm thấy thoải mái với chính họ. Chúng ta không bao giờ khen họ một tiếng. Mark Twain đã nói: “Tôi có thể viết một lời khen tặng trong hai tuần lễ.”
Những bức thư tình
Có lần tôi nói chuyện ở sân trường học với một chị có chồng. Chị là mẹ của hai em học sinh nhỏ tuổi. Trước đó chị rời xa thành phố để thăm viếng mẹ già. Chị nói về chồng của chị như sau: “Khi con mở va-li ra, con thấy một bức thư tình ngắn mà anh đã nhét vào trong đó để cho con đọc mà thôi. Bức thư tình đó làm con sung sướng nhất trong ngày.”
Rồi bằng một cái chớp mắt, chị nói thêm: “Trước khi rời nhà, con cũng để lại cho anh một bức thư tình ngắn, dưới cái gối được quấn lại trong bộ đồ ngủ của anh, cùng với một gói sô-cô-la mà anh ưa thích.”
Tôi thiết nghĩ anh chị đó đã thắng cuộc. Họ đang thực thi tình yêu và đã thành công. Đó là một tình yêu đang mang dấu ấn của một tương giao vợ chồng thắm thiết.
Hẳn bạn đã kết hôn? Lần cuối cùng bạn viết thư tình cho chồng hay vợ đã xảy ra bao lâu rồi? Có phải đó là lần trước khi bạn sắp làm đám cưới? Một tình yêu không mang sắc thái cá nhân và có tính cách thiết thực thì không phải là một tình yêu đậm đà cho lắm.
Nhiều đôi vợ chồng ngày nay gọi nhau bằng “Ba” hay “Mẹ’ hoặc “Ông” hay “Bà”. Họ không gọi nhau bằng chính tên riêng của người đó. Thật là kỳ dị và chói tai biết bao, bởi vì chúng ta thích nghe người khác gọi đích danh chúng ta. Tôi chắc chắn không âm thanh nào đầy xúc động và có tác dụng tâm lý mạnh mẽ cho bằng khi gọi người phối ngẫu bằng chính tên thật của họ.
Chúng ta có thể gọi người phối ngẫu bằng “cưng” hay “mìmh”, nhưng không có một chút căn bản nào để gọi bằng “Ba” hay “Mẹ”, “Ông” hoặc “Bà”. Nếu quí bạn có thói quen gọi như thế, tôi đề nghị bạn làm như sau:
Trước khi bạn ngủ, bạn hãy quay sang người phối ngẫu nằm bên cạnh và thay vì nói “Ba”, “Mẹ”, “Ông” hay “Bà”… “ngủ ngon!” thì hãy vỗ vào lưng người đó và nói: “Humphrey, ngủ ngon!” hay “Cathy, ngủ ngon!” Bạn chỉ làm như thế khi bạn thực sự ngủ với một người tên là “Humphrey” hay “Cathy”.
Hy vọng bạn hiểu ý tôi muốn nói. Điều nầy xem ra không phải linh thiêng cho lắm nhưng nếu bạn càng suy tư, bạn sẽ thấy thật linh thiêng trong đó. Thiên Chúa là tình yêu và ở đâu có tình yêu thì Thiên Chúa hiện diện nơi đó.
Một chút chú ý
Điều trên đây cũng áp dụng cho trẻ con nữa. Bạn thường nghe người ta nói: “Hết mọi trẻ con đều muốn được chú ý.” Vậy thì một chút chú ý có gì sai lầm trong đó? Chú ý là khởi điểm đưa vào tình yêu. Tình yêu là chú ý đến những nhu cầu và ước muốn của trẻ con.
Các trẻ con cũng phải chú ý đến cha mẹ. Cha mẹ bạn là song thân duy nhất mà bạn có trên đời. Bao lâu bạn lưu tâm tới điều đó thì bạn sẽ thấy cha mẹ bạn là những người tốt nhất trên trần thế. Vậy bạn nên nói với họ: họ là những người tuyệt vời nhất. Ít ra bạn hãy nói với họ mỗi ngày một lần như thế. Điều đó không làm mất mát gì cho bạn nhưng khiến cha mẹ bạn vui sướng khôn tả.
Hãy quan tâm đến những nhu cầu của những người làm chung sở với bạn. Chẳng hạn dịp sinh nhật của một đồng nghiệp! Bạn hãy gởi cho họ một tấm thiệp. Cũng không phải chuyện gì to tát lắm đâu. Điều đó không làm thâm thủng trương mục ngân hàng của bạn. Nhưng, Chúa biết, điều đó mang lại một sự khác biệt lớn lao.
Gỏi một tấm thiệp trong những trường hợp tương tự có thể không phải là một việc linh thiêng cho lắm, nhưng đó là một cử chỉ đơn giản, thanh lịch mà trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã khuyên bảo và thối thúc.
Tình yêu là thực tiễn, chứ không phải trừu tượng
Phúc Âm không kêu mời chúng ta đi vào một ý hướng mang nặng tính chất trí thức để vươn tới một ý niệm thiêng liêng. Phúc Âm mời gọi chúng ta yêu thương trong những cảnh ngộ thường tình xảy ra hằng ngày. Chúng ta được mời gọi yêu thương những người đối diện chúng ta trong cuộc sống thường nhật.
Không phải ai cũng dễ dàng trong việc bộc lộ tình cảm. Đối với nam giới xem ra khó khăn hơn nữ giới. Vậy nếu nam giới bộc lộ tình cảm trở thành một vấn nạn thì nên đánh rơi hình ảnh của một “đại trượng phu” và chấm dứt việc cư xử có tính cách câm nín thờ ơ.
Thoạt đầu, không dễ dàng gì để biểu lộ tình cảm. Có thể bạn xem ra vụng về lúng túng. Nhưng cứ tiếp tục, đừng buông xuôi. Hãy cố thực tập. Thực tập giúp trở nên hoàn hảo, nhất là khi bạn thực tập đúng cách.
Bất cứ ai cũng có thể nói: “Tôi tin tưởng Chúa.” Điều đó thật dễ dàng. Nhưng sống với tình yêu đó mới khó! Trên bình diện nhân sinh, chúng ta yêu nhau một cách hiện thực, hữu hình và có thể đụng chạm được thì chắc chắn chúng ta đang ở một cao tầng, tốt đẹp nhất và cao quí nhất, đồng thời “cùng hòa nhịp với cuộc sống” nữa.
LM Vincent Travers, OP
Hương Vĩnh chuyển ngữ

SỐNG TRỌN KIẾP NGƯỜI

Khi cất tiếng khóc chào đời, chúng ta khởi đầu hành trình dương thế hay bước vào kiếp người. Hành trình cuộc đời của mỗi người dài ngắn khác nhau. Có những hành trình nhẹ nhàng êm ả, nhưng cũng có những hành trình gai góc gian truân. Dù ngắn hay dài, dù nhẹ nhàng hay vất vả, mỗi chúng ta đều phải cố gắng để sống trọn kiếp người.

Cuộc sống này đầy phong ba bão táp. Sống ở đời phải can đảm kiên trung và chấp nhận những thử thách ấy. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Chắng có ai sống trên cõi đời này mà không gặp gian nan. Những vĩ nhân được ca ngợi trong lịch sử, cũng như những vị thánh của Giáo Hội, đều là những người “từ đau khổ lớn lao mà đến”. Họ không nản lòng trước những khó khăn, nhưng bình tâm trước những vu khống, bao dung tha thứ cho những xúc phạm, sống hiền hòa kể cả với địch thù. Có người khi đứng trước khó khăn tưởng chừng như ngõ cụt của cuộc sống, đã tiêu cực tìm đến cái chết như một phương pháp giải thoát, để lại đau khổ cho những người thân. Người ta nói “Thử thách của can đảm không phải là dám chết mà là dám sống và thực hiện ước mơ của mình”. Tự kết liễu cuộc đời được xem như hèn nhát, nhất là trước những thất bại do chính mình gây ra. Nếu sai lỗi mà tìm đến cái chết, thì làm sao còn cơ hội để sửa lại? Những người kiên trì can đảm, vững vàng vươn lên sau vấp ngã, chắc chắn sẽ thành công để tiếp tục bước đi, để sống trọn kiếp người.

Giáo Hội công giáo thường phong thánh cho những tín hữu đã có một đời sống thánh thiện, mẫu mực. Việc phong thánh chỉ được thực hiện cho những người đã chết, vì sự thánh thiện chỉ được chứng minh và xác nhận khi một người đã sống trọn kiếp người nơi dương thế. Luật Giáo Hội cũng quy định, địa phương, nơi người tín hữu đó qua đời mới có quyền thỉnh nguyện xin Toà Thánh tôn phong. Lý do vì chỉ những ai chứng kiến người tín hữu ấy sống đạo đức cho đến hết đời mới chứng minh người ấy có thực sự thánh thiện hay không. Đơn cử trường hợp Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Ngài là người Việt, nhưng trong những năm tháng cuối đời, ngài làm việc tại Rôma. Vì thế Giáo phận Rôma được quyền làm hồ sơ và dâng thỉnh nguyện lên Đức Thánh Cha để ghi nhận sự thánh thiện và phong chân phước cho ngài. Hiện nay, tiến trình phong chân phước đã hoàn thiện ở cấp giáo phận Rôma. Ngài được gọi với danh xưng “Tôi tớ Chúa” và hồ sơ đã được trình lên Đức Thánh Cha cho những bước kế tiếp. Vị Hồng y đáng kính của chúng ta, cũng như biết bao tín hữu khác đang được xét duyệt để tôn phong, đã sống trọn kiếp người.

Ngôn ngữ Việt Nam gọi một người vừa qua đời là “mãn phần”, tức là đã đầy đủ, trọn vẹn thời gian và hoàn thành phận vụ của mình trên dương thế. Tuy vậy, có người mãn phần mà chưa trọn kiếp, nghĩa là những người chết mà còn những dang dở trăm chiều. Có người sống thất đức, suốt đời làm nhưng điều xấu xa, cuối đời không thể nhắm mắt. Người khác ra đi trong lúc còn vương vấn nợ đời. Đó là những món nợ vật chất, nhưng cũng là những món nợ ân nghĩa mà mình nỡ phủi tay theo kiểu “qua sông dìm đò”, “qua cầu rút ván”. Có những người sống vô trách nhiệm với gia đình và những người thân, đến cuối đời trăn trở một mối ân hận khôn nguôi. Họ muốn chuộc lại lầm lỗi nhưng quá muộn, chẳng còn cơ hội nữa. Rất may trong cuộc sống đầy bon chen này, thời nào cũng có những người cố gắng sống nhân hậu. Họ ý thức rằng “gieo nhân nào, gặt quả nấy”. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng họ vẫn cố gắng giữ cái tâm trong sáng, hiếu thảo với cha mẹ ông bà, chân thành với bạn bè lối xóm. Đến khi mãn phần, họ ra đi thanh thản, để lại cho hậu thế tiếng thơm. Đúng như người ta nói: “Hãy sống sao để khi ta sinh ra, ta cất tiếng khóc, mọi người cười, và khi ta ra đi, ta cười mãn nguyện trong lúc mọi người khóc”. Những người trút hơi thở cuối cùng khi đã chu toàn bổn phận với cuộc đời, thanh thản ra đi để lại những kỷ niệm đẹp, nhất là tình thương mến dạt dào nơi những người quen biết, đó là những người đã sống trọn kiếp người.

Cách nay hai ngàn năm, có một người đã đi trọn kiếp người trong sự thánh thiện và trong hy sinh tự hiến, đó là Đức Giêsu Kitô. Người là Con Thiên Chúa nhập thể để cứu độ con người. Thánh Gioan, tác giả của Tin Mừng thứ bốn, đã ghi lại lời Chúa Giêsu khi hấp hối: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30). Người đã hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, khi đón nhận thập giá và chết thảm thương như một người tử tội. Qua cuộc khổ nạn và cái chết của Người, lời Kinh Thánh từ ngàn xưa được ứng nghiệm. Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng trong tâm tình vâng phục Chúa Cha và yêu mến con người. Cái chết của Chúa Giêsu, cũng theo Tin Mừng thánh Gioan, được diễn tả như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo với Chúa Cha: “Người gục đầu trao Thần Linh” (Ga 19,30). Thần Linh là Ngôi Ba Thiên Chúa, xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con. Ngài cũng là Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Tình yêu ấy đã trở thành một ngôi vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Giờ đây, trên thập giá, Chúa Giêsu “trao Thần Linh”, tức là trao sự sống và tình yêu cho Chúa Cha. Đây vừa là một nghĩa cử hiếu thảo, vừa là một cử chỉ của tình yêu mến và vâng phục hoàn toàn. Trên thập giá, Đức Giêsu là mẫu mực cho mọi con người, là lời mời gọi hãy sống vì người khác, hãy cho đi mà không cần tính toán, hãy yêu thương mà không mong đáp đền. Vị Ngôn sứ thành Nagiarét đã sống trọn kiếp người

“Sống ở đời, Trời gọi ai, nấy dạ”. Câu nói bình dân này diễn tả huyền nhiệm của sự chết. Chẳng ai biết thời điểm của sự chết. Cũng chẳng ai biết sẽ chết trong hoàn cảnh nào. Dù trẻ hay già, dù sang hay hèn, Ông Trời gọi ai thì người ấy đi, chẳng ai đi thay được, cũng không ai nấn ná khất lần. Khi biết rằng cái chết là bất chợt, mỗi chúng ta hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Đó cũng là lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng (x. Mt 24,42-51). Dù không biết đó là lúc nào, nhưng chắc chắn giờ chết sẽ đến. Nếu giờ ấy là thời điểm kinh hoàng đối với những ai chủ quan sống trong đam mê hận thù, thì lại là giây phút hân hoan hội ngộ đối với những ai cố gắng sống trọn kiếp người.

Nghĩ về cuộc sống tương lai, mỗi chúng ta được mời gọi sống tốt hiện tại, vì tương lai là kết quả của những gì chúng ta đang cố gắng thực hiện ngày hôm nay. Tác giả của những câu chuyện ngụ ngôn người Pháp, ông La Fontaine, đã viết: “Hãy sống vô tư nhưng không khinh suất; vui tươi nhưng không ầm ĩ; can đảm nhưng không liều lĩnh; tin tưởng và vui vẻ cam chịu nhưng không theo thuyết định mệnh”. Cuộc sống hằng ngày đầy gian nan phức tạp, nhưng cũng là cơ hội để chúng ta rèn luyện bản thân và từng bước trưởng thành. Người tín hữu tin rằng, môi trường sống hằng ngày cũng là nơi họ được Chúa sai đến để làm chứng cho Ngài. Hiền hòa nhân hậu, bác ái khiêm nhường, bao dung tha thứ... những đức tính căn bản giúp này vừa giúp chúng ta phản ánh sự thánh thiện và lòng nhân từ của Thiên Chúa, vừa giúp cho chúng ta sống trọn kiếp người.


Gm Giuse Vũ Văn Thiên

NHÀM CHÁN! LỖI CỦA CHÍNH CHÚNG TA

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove, đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ.  Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh luôn dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó. Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

Nhưng không lâu sau khi trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân. Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa. Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạnh giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó.  Ngày nay, khi có trong tay những thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao? Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng.  Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta. Tại sao lại không? Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa. Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó. Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng. Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác. Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng. Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày. Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó. Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lỳ, và thông lệ. Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình.  Enstein đã nói thế đấy.

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.] Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững. Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị. Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị. Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự. Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.
 phanxicovn

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN - A

Đối với người Do Thái, Lề luật có tầm quan trọng số một. Thái độ trước lề luật chính là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá một con người. Đức Giêsu cũng được các đồng bào Người đánh giá và chấp nhận dựa trên tiên chuẩn này; vì thế mà Người lên tiếng tuyên bố: “Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” lề luật.
Không ai có quyền bãi bỏ luật lệ, trừ chính vị ra luật hay nhà lập luật. Trong Ít-ra-en, chỉ mình Đức Chúa Gia-vê có quyền này; ngay cả Môsê cũng không, vì ông chỉ là người truyền đạt cho dầu luật có mang tên ông. Luật này cũng không cần được ai kiện toàn vì nó đã hoàn hảo; có chăng chỉ là giải thích và đó là bổn phận dành riêng cho các luật sĩ. Hiểu như thế thì lời công bố của Đức Giêsu có thể bị coi là lộng ngôn, vì không ai có quyền bãi bỏ cũng như không ai được phép ‘kiện toàn’ - sửa chữa bộ luật Môsê đã truyền lại.
Thông thường thì người ta sẽ coi như phá luật những kẻ không cặn kẽ tuân giữ lề luật. Rõ ràng nhóm Biệt Phái và luật sĩ đã nhận xét Đức Giêsu là như thế, do đó đã liệt Người vào hạng tội lỗi, vì cho rằng Người có thái độ coi thường, bất tuân luật thánh, cụ thể trong việc giữ ngày Sa-bát và các nghi thức tẩy rửa.
Về phần Đức Giêsu, Người luôn khảng định việc căn kẽ giữ luật là cần thiết “một chấm một phết trong lề luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành”. Các môn đệ hiểu rõ điều đó cho nên sau này, kể cả khi Đức Giêsu đã về trời, họ vẫn tuân giữ căn kẽ mọi lề luật Môsê. Các tông đồ còn muốn mọi tín hữu (nhất là các người gốc Do Thái giáo) phải tiếp tục giữ trọn luật pháp theo lời Chúa dạy: “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời”. Tuy nhiên, sứ mạng đích thực của Đức Giêsu không nhằm kêu gọi dân chúng giữ luật. Điều này đã được các Pharisêu, các luật sĩ và Gioan Tiền hô làm bằng nhiều cách. Người khảng định: “Thầy đến… để kiện toàn luật Môsê!” Và không chỉ Người, mà bất cứ kẻ nào tin vào Người cũng phải kiện toàn lề luật như thế: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vài Nước Trời”. Tác giả Matthêu thẳng thắn muốn các tín hữu gốc Do Thái (đối tượng chính của sách Tin Mừng ông viết) phải hiểu rằng: Đức Giêsu và các lời Người dạy tuy không chống lại nhưng cao trọng hơn luật Môsê rất nhiều, “Luật xưa dạy rằng…. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…” Thế thì ta phải hiểu điều các khảng định này theo ý nghĩa nào?
Trước hết ở đây ta không được hiểu Đức Giêsu tự giới thiệu mình là một nhà lập pháp mới (legislator novus), theo nghĩa giao ước mới thì đòi phải tuân giữ luật mới, cũng như giao ước cũ phải tuân giữ luật cũ của Môsê. Không! Giêsu không phải là người làm luật, nhưng là người làm cho mọi luật được nên trọn. Không có Người, luật lệ cho dầu có thể là rất tốt, rất hoàn chỉnh, vẫn chưa có thể được coi là trọn; và duy nhất chỉ một mình Người mới làm được điều đó. Ai tin vào Đức Giêsu, đặc biệt qua biến cố tử nạn và phục sinh của Người, đều có khả năng kiện toàn, hay làm cho nên trọn bất kỳ luật lệ nào họ nắm giữ (dầu là luật dân sự bất toàn hay luật tôn giáo thánh thiện). Lòng thương xót, từ ái cứu độ của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu mạc khải, mới là nền tảng duy nhất để canh tân và kiện toàn mọi thứ luật lệ. Chỉ cần nhìn vào các trường hợp được nêu trong bài Tin Mừng: không giết người, không ngoại tình, ly dị, thề gian dối… ta mới thấy chỉ Tin Mừng tình yêu Thiên Chúa mới có thể kiện toàn và làm cho chúng được nên trọn tới thế. Sự nên trọn này chắc chắn không hệ tại ở luật pháp hoàn hảo hơn hay kém, nhưng hệ tại ở thái độ bình an và tự do ta có khi nắm giữ các lề luật đó, trong tư thế của một người con được Chúa Cha yêu thương. Không tin tuyệt đối vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô Giêsu, ta sẽ không bao giờ có được thái độ này, và đương nhiên sẽ thấy khó có thể chấp nhận các đòi hỏi của luật pháp, kể cả những lề luật hoàn thiện và cao đẹp nhất.
Phaolô biết rõ hơn ai hết sự cao đẹp của luật Môsê, nhưng cũng chính vì thế mà ông càng xác tín hơn ai hết về giới hạn của nó so với Tin Mừng. Trong chương 3 thư gởi giáo đoàn Ga-lát ông lấy hình ảnh người giám hộ để chỉ luật Môsê rất thánh thiện (và bất cứ luật lệ nào khác, kể cả luật Hội Thánh), và hình ảnh con cái tự do để chỉ sự ‘kiện toàn - nên trọn’ của niềm tin vào Đức Kitô Giêsu. Tôi thiết nghĩ ông quả đã nắm bắt rõ vấn đề: “Khi đức tin đến, thì chúng ta không còn ở dưới quyền giám hộ nữa… vì tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa…” (Gl 3,25-26)
Ôi, niềm tin Kitô hữu vào tình yêu Thiên Chúa nhân ái thứ tha có khả năng nâng chúng ta lên cao biết mấy, vượt xa sự kiểm tỏa của luật pháp, cũng như mọi lo lắng sợ hãi của thưởng phạt nghiêm minh!
Trong tư cách là công dân Việt Nam, là Kitô hữu, là tu sĩ - linh mục... con phải khoác lên mình biết bao nhiêu thứ luật lệ. Con thâm tín một điều rằng không một luật lệ nào trong số đó tự nó có thể cứu thoát được con. Lạy Chúa từ nhân! Xin cho con được như Phaolô xác tín rằng: chỉ có niềm tin vào Chúa cứu độ và từ nhân mới giúp con làm cho các luật trên được nên trọn, đồng thời biến con thành con cái tự do đích thực của Cha trên trời. A-men

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty