ĐI VÀO MÙA CHAY

Biết căn nguyên của một từ đôi khi rất hữu ích. Theo ngôn ngữ học, trong tiếng Anh cổ, mùa chay có nghĩa là mùa xuân. Theo tiếng La-Tinh, mùa chay có nghĩa là chầm chậm. Như vậy, theo từ nguyên học, mùa chay báo gọi mùa xuân đến và mời gọi chúng ta giảm nhịp sống để nhìn lại cuộc đời mình.
Dù qua cách nghĩ thông thường, mùa chay mang một vài nét cổ truyền nhưng mùa chay chính là thời gian kêu gọi chúng ta chay tịnh, gạt qua những thú vui thông thường và lành mạnh nào đó để chuẩn bị tốt hơn cho đại lễ Phục Sinh.
Một trong những hình ảnh giúp ích cho điều này là ý niệm về Sa Mạc trong Kinh Thánh. Qua Kinh Thánh chúng ta biết rằng, để chuẩn bị cho việc rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đi vào sa mạc bốn mươi đêm ngày để chay tịnh và, theo Phúc Âm thánh Mác-cô, Đức Giêsu còn chịu Xa-tan cám dỗ, sống với thú hoang, và được các thiên thần che chở.
Mùa Chay luôn được hiểu là thời gian chúng ta noi theo Đức Giêsu, một cách ẩn dụ Đức Giêsu trải qua bốn mươi ngày trong sa mạc, không sống bằng thực phẩm thông thường, để có thể đối diện với “Xa-tan,” “thú hoang” và thấy “các thiên thần” hiện đến, che chở khi chúng ta không còn tự lo cho mình được nữa.
“Xa-tan” và “thú hoang” ám chỉ đặc biệt đến các xáo trộn trong tâm hồn mà chúng ta thường hay phủ nhận hoặc đơn giản không dám đối diện – đó là các chứng hoang tưởng, nổi giận, ghen tương, xa lánh mọi người, ảo tưởng, tự kiêu, ham muốn, những tổn thương chưa lành, rắc rối trong đời sống tình dục, không có khả năng cầu nguyện, kém lòng tin, và các che giấu về mặt đạo đức. Thực phẩm thông thường làm sao nhãng cuộc sống, nó che không cho chúng ta đối diện với các xáo trộn sâu kín núp bóng dưới bề mặt cuộc sống.
Mùa chay kêu gọi chúng ta ngưng dùng các thực phẩm này, các thực phẩm ngăn không cho chúng ta đối diện với cô tịch trong tâm hồn. Mùa Chay kêu gọi chúng ta đối diện với bé mọn, yếu mềm, e sợ của mình, và mở lòng để thấy cái xáo trộn của sa mạc, để các thiên thần có dịp nuôi sống chúng ta. Đó là lý tưởng Ki-tô giáo về mùa chay, đối diện với chính những xáo trộn của mình.
Để bổ sung, tôi đề nghị ba hình ảnh đầy tính thần thoại, mỗi hình ảnh giúp giải thích một khía cạnh của mùa chay và việc giữ chay:
Trong mỗi nền văn hóa đều có các câu chuyện cổ, các huyền thoại dạy chúng ta lúc này lúc kia trong đời, phải biết ngồi giữa tro tàn. Chẳng hạn, ai cũng biết chuyện Cô Bé Lọ Lem. Theo nghĩa đen Cinderella có nghĩa là cô bé (puella) ngồi trong tro tàn (cinders). Bài học rất rõ ở đây là: Trước khi trở nên xinh đẹp, trước khi có thể kết hôn với hoàng tử hay công chúa, trước khi đi dự tiệc, trước hết bạn phải nếm trải thời gian ở một mình giữa tro tàn nhem nhuốc, hèn mọn, quay về với với bụi đất và chờ đợi. Mùa chay là mùa dành thời gian ngồi trong tro tàn. Không ngẫu nhiên khi chúng ta bắt đầu Mùa Chay bằng việc xức tro lên trán.
Thứ hai là hình ảnh ngồi dưới sao Thổ, làm đứa con của sao Thổ. Người xưa tin rằng sao Thổ là sao của buồn chán, u sầu. Do đó không ngạc nhiên khi thấy ai đó rơi vào bùa mê của nó, chính xác khi họ cảm thấy buồn và thất vọng. Thật vậy, người xưa tin rằng trong đời, ai cũng phải trải qua một khoảng thời gian nào đó làm đứa con của sao Thổ, nghĩa là, ngồi trong buồn chán, nặng nề, kiên nhẫn chờ đợi để một điều quan trọng nào đó tự biến chuyển trong tâm hồn mình. Thỉnh thoảng những người lớn tuổi hay các vị Thánh cũng tự nguyện đặt mình ngồi dưới sao Thổ, như Đức Giêsu đi vào sa mạc, họ sẽ ngồi trong tình trạng buồn chán, nặng nề, hi vọng rằng, nỗi u sầu này có một ý nghĩa đưa họ đến một chiều sâu nội tâm mới mẻ nào đó. Đó cũng là chức năng của mùa chay.
Cuối cùng một hình ảnh quý giá, lưu truyền trong những thần thoại cổ xưa, hình ảnh các giọt nước mắt nối kết chúng ta lại với dòng chảy cuộc đời, với nguồn mạch sự sống. Nước mắt, như chúng ta biết, là nước muối mặn. Không phải không có ý nghĩa sâu sắc. Đại dương là nước muối mặn và, như chúng ta biết, tất cả sự sống đều bắt nguồn từ đó. Vì vậy, trong ý tưởng nhiệm mầu và nên thơ, nước mắt nối kết chúng ta lại với nguồn mạch sự sống, nước mắt tái sinh, thanh lọc chúng ta trong sự tận hiến cuộc đời, và nước mắt làm tâm hồn sâu đậm, để tâm hồn nếm trải nguồn mạch sự sống. Với sự thật đó, và khi tất cả chúng ta đều trải nghiệm sự thật đó, nước mắt chính là đi vào sa mạc để chay tịnh, là vật dẫn truyền đến chiều sâu mới mẻ của tâm hồn.
Sự cần thiết của mùa chay được trải nghiệm khắp nơi: Nếu không được thăng hoa thì có thể chúng ta sẽ không bao giờ đạt được cái siêu phàm. Để thật sự đi vào đại tiệc trước hết phải có chay tịnh. Để đi vào Phục Sinh một cách đúng đắn trước hết phải có một khoảng thời gian của sa mạc, tro tàn, buồn chán và nước mắt.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

BA MÓN ĂN MÙA CHAY

Không biết từ bao giờ, trong ngôn ngữ nhà đạo, hai quy định về ăn chay và kiêng thịt đã đứng chung với nhau trong một cụm từ và trở thành nét thực hành đạo đức tiêu biểu của các tín hữu Việt Nam trong Mùa Chay. Nhưng chỉ biết đích xác rằng kể từ ngày 16 tháng 6 năm 1934, tại Sàigòn, Đức cha Dumortier đã ra một kinh bổn bằng thơ lục bát hẳn hòi hai mươi hai câu, quy định tên những loại chim, không chỉ được phép ăn trong dịp chay kiêng, mà xem ra còn gợi ý khuyến khích: “Đặt làm một bổn ra đây, Những ngày kiêng thịt, chim này nên ăn. Ai ai cũng phải siêng năng, Đọc cho thuộc lảu kẻo ăn mà lầm”.
Kể cũng vui. Bốn mươi mốt thứ chim nêu ra trong bổn kinh ấy thật đa dạng: con có (con cót); thằng có (thằng cộc, thằng nông, thằng bè, thằng chài); già có (già đây); lão có (lão nhược). Thôi thì đủ cả. Song những thứ chim ấy hiện nay không còn nhiều, có loại đã từ lâu vắng bóng trên cánh đồng Việt Nam, có loại đã trở thành quý hiếm, chỉ xuất hiện trên thực đơn của các nhà hàng quý tộc.
Không sao. Dù chẳng còn chim trên bàn ăn trong những ngày kiêng, nhất là sau dịch cúm gia cầm, tín hữu vẫn cứ bước vào Mùa Chay với Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh “ăn chay kiêng thịt” theo Giáo luật quy định đường hoàng. Để bù lại sự thiếu vắng ấy, xin đề nghị ba món ăn khác, là đặc sản đồng thời cũng là nhu yếu phẩm bổ dưỡng của Mùa Chay.
1. Món thứ nhất: Ăn chay cầu nguyện
Tất nhiên, Mùa Chay phải có “ăn chay”, nhưng ăn chay như thế nào mới là chuyện đáng nói. Ngày xưa, quan niệm về ăn chay thường đặt nặng chữ “ăn” đến nỗi quy định rạch ròi cả giờ giấc lẫn liều lượng như “sáng sơ, trưa no, chiều đói” hoặc tổng quát hơn như “một bữa no, hai bữa đói”, khiến đám trẻ cứ ngẩn tò te thòm thèm ăn vụng, và cánh người lớn xem ra cứ phải kiếm việc gì đó để làm cho qua cơn vật vã. Ngày nay, cách nhìn về ăn chay đã khác, không đặt nặng chữ “ăn” nữa, nhưng nhấn tới chữ “chay” nhiều hơn. Người ta vẫn giữ chay theo quy định từ xưa, nhưng “văn hóa ẩm thực” ấy đã được lồng trong “văn hoá tình thương”. Người ăn chay không giảm bớt khẩu phần để có dư một chút mà bỏ vào quỹ tiết kiệm sinh lời, nhưng đơn giản hóa bữa ăn thường ngày để thực tập đời sống khổ hạnh mà thông phần vào cuộc Thương khó của Chúa Kitô, và để chia sẻ một phần đời sống của mình cho những anh chị em đang gặp phải cảnh túng quẫn cơ hàn.
Không phải vô tình mà món “ăn chay kiêng thịt” đã được đưa ra ngay từ đầu Mùa Chay, mà hữu ý cho thấy đây là món ăn cần có cho một bữa tiệc tâm hồn. Người ta ăn chay không nguyên vì giá trị thực tiễn của việc ăn chay, mà vì khởi đi từ việc ăn chay ấy, sẽ nhận ra tiếng gọi đi sâu hơn nữa vào trong đời sống tiết chế, để nhìn lại bản thân mà gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân một cách mới mẻ hơn. Chả thế mà cụm từ “ăn chay kiêng thịt” đã dần dà nhường bước cho những cụm từ “ăn chay hãm mình” hoặc “ăn chay cầu nguyện”, vốn là những kiểu nói diễn tả sinh hoạt tâm linh hơn là những sinh hoạt bên ngoài. Nghe thanh tao hơn và ý nghĩa cũng thanh thoát hơn.
Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ công khai bằng việc ăn chay trong tinh thần chiến đấu và cầu nguyện ấy (Lc 4,1-4). Người vào sa mạc giữa không gian cát đá, chịu đói khát để kiểm nghiệm thân phận yếu đuối loài người. Người cắt đứt với những thói quen thường nhật để rút lui từ cõi tĩnh lặng cầu nguyện. Người trút bỏ mọi nhu cầu ăn uống để chỉ nhận thấy một nhu cầu chính đáng là đói khát sự vô biên. Không bận vướng điều gì bên ngoài, Người chỉ còn một bận tâm duy nhất là chu toàn thánh ý: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4). Như vậy, “ăn chay cầu nguyện” chính là điều kiện để bước sang cuộc sống mới mẻ hơn, không phải là để đổi món ăn cho hợp khẩu vị thời thượng, cũng không phải là để có vóc dáng thon thả theo yêu cầu thẩm mỹ “người mẫu thời trang”, mà là để gặp gỡ Thiên Chúa một cách tròn đầy hơn theo cung cách “người mẫu Tin Mừng”.
2. Món thứ hai: Ăn năn sám hối
Nếu “ăn chay cầu nguyện” được xem là món chính, nặng về đời sống tâm linh, thì “ăn năn sám hối” phải được nhìn như món chuyên trị đời sống luân lý. Ngày xưa các thánh ẩn tu thường kết hợp hai món ăn này để có sản phẩm “ăn chay đánh tội” vừa cầu kỳ, vừa ly kỳ khó có ai theo nổi. Ngày nay cách chế biến có vẻ khéo hơn, nên người ta đã quen với loại thực phẩm tổng hợp mang tên “ăn chay lánh tội”, và vì thế mới dễ dàng đưa vào thực đơn Mùa Chay một món thiết yếu, chính là món “ăn năn sám hối”. “Ăn năn sám hối” cũng là món ăn đấy thôi: món ăn màu tím. Âm thanh có vẻ gợi đến một thức ăn loại củ như “củ năn củ khoai, củ mài củ sắn”, nhưng ý nghĩa lại vượt quá tầm vóc của hoa màu ruộng đất để trở thành lời tuyên xưng vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, “Đấng tìm kiếm và cứu chữa những gì đã bị hư đi” (Lc 19,10).
Không biết chữ nghĩa tự điển giải thích ra sao, nhưng từ góc độ Mùa Chay, “ăn năn sám hối” là một động từ bao gồm hai động tác không thể tách rời của một người chân thành kiểm điểm lại đời sống của mình trước mặt Thiên Chúa. “Ăn năn” là động tác nhìn vào chính mình để nhận ra những tội lụy của một đời xa vắng, đã dẫn tới sa ngã và xa lìa tình thương của Chúa; còn “sám hối” là động tác nhìn lên Thiên Chúa để khám phá nơi Ngài một tình yêu như trái tim người cha, như tấm lòng người mẹ bao dung thương xót, cho ta được tin yêu mà hy vọng đổi đời. “Ăn năn” giục ta nhìn lại quá khứ, “sám hối” dìu ta đến với tương lai. Thiếu một trong hai động tác này, món ăn sẽ kém bổ dưỡng. Chỉ đăm đăm nhìn vào tội mình mà quên đi tình thương Thiên Chúa, sẽ có nguy cơ rơi vào thất vọng. Cũng là hối hận, nhưng xem ra hối lỗi thì ít mà hận mình lại nhiều. Ngược lại, chỉ hơn hớn nhìn lên Thiên Chúa mà chẳng màng chi đến lời nói “không” với tội lỗi mình, sẽ dẫn tới thái độ ỷ lại đeo bám. Tiếng là hối cải, nhưng không biết hối lỗi, làm sao có thể cải thiện đời sống?
Nếu “không thánh nhân nào lại không có quá khứ, cũng như chẳng tội nhân nào mà không có tương lai”, thì ăn năn sám hối đã trở thành địa chỉ hội ngộ đổi đời. Nói theo kiểu đong đưa của thánh Augustinô, ăn năn sám hối là điểm gặp gỡ giữa sự khốn cùng của tội lỗi con người với sự khôn cùng của tình yêu Thiên Chúa, giữa nỗi miseria của nhân loại với lòng misericordia của Thiên Chúa luôn sẵn sàng cứu độ.
Trong thực tế mục vụ Mùa Chay, món “ăn năn sám hối” được gặp thấy nơi tòa Giải Tội vốn là Bí tích của lòng thương xót, để nghe vẳng bên tai lời dịu dàng của Chúa Giêsu dành cho ông Giakêu năm nào: “Hôm nay Ta muốn ở lại nhà ông” (Lc 19,5); và “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ” (Lc 19,9).
3. Món thứ ba: Ăn ngay ở lành
Hai món “ăn chay cầu nguyện” và “ăn năn sám hối” chỉ có thể phát huy tác dụng khi được phối hợp chặt chẽ với món “ăn ngay ở lành”, vốn là thực phẩm đời thường của bất cứ ai, nhưng lại là món ăn đạo giáo chẳng sai chút nào. Thực ra, trong “ăn năn sám hối” đã hàm chứa quyết định “dốc lòng chừa cải”, nhưng chính khi thực thi đổi đời bằng việc ăn ngay ở lành trước mặt Thiên Chúa và trước mắt loài người, tín hữu mới đi đến cùng trong những thực hành đạo đức Mùa Chay, Mùa Chay có xức tro trên đầu tỏ lòng sám hối và cũng có xức dầu thơm xây dựng nếp sống mới giữa cộng đoàn. Đây không phải là thứ “tùy chọn” theo kiểu chọn thêm tính năng nơi các điện thoại di động hay gia giảm phụ tùng cho các đời xe, có thì sang hơn mà không có cũng chẳng kém cạnh gì. Ngược lại, “ăn ngay ở lành” phải được xem như món ăn chính “nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” (x. Đỗ Trung Quân, Quê Hương).
Trong thường nghiệm, người ta sống không bằng những gì mình ăn vào, mà bằng những gì mình tiêu hóa được; trong cuộc sống đức tin, người ta cũng chỉ minh chứng được sức khỏe tâm hồn khi thực hiện những nét đổi đời cụ thể như canh tân đời sống, hay đổi tính hạnh, định hướng lại cách cư xử cho mới đẹp hơn, tốt lành hơn, sáng trong hơn, thánh đức hơn… Có mấy lần người Giuđêa đến nhận phép Rửa, Gioan Tẩy Giả đã khuyên họ rất rõ rằng: “Hãy làm việc lành cho xứng với lòng sám hối” (Mt 3,8). Thiết nghĩ đó cũng chính là định hướng cho món ăn thứ ba ở đây.
Về mặt xã hội, “ăn ngay ở lành” là phẩm chất của một cuộc sống ngay thẳng, chẳng những không xâm phạm gì đến quyền lợi của bất cứ ai, vì biết trọng lẽ công bình; mà còn hiền lành trong cách cư xử, sẵn sàng thực thi bác ái liên đới với mọi kẻ xung quanh. Vì thế, ăn chay cũng đồng nghĩa với ăn ngay ở lành, nếu không, thà “ăn mặn nói ngay” còn hơn! Về mặt tôn giáo, “ăn ngay ở lành” còn là một chứng tá đức tin của những con người biết lấy đời sống trong sáng ngay lành của mình để chứng minh cho những người khác về sự hiện diện của một Thiên Chúa tốt lành đã thương kêu gọi mọi người đến với tình thương cứu độ. Ăn ngay ở lành, theo nghĩa này, đã bỏ xa quy định “ăn chay kiêng thịt” để trình làng cả một biến tấu “kiêng ăn” kể ra không xiết: kiêng ăn gian ăn tham, ăn quỵt ăn bẩn, ăn trộm ăn cắp…
Với món “ăn ngay ở lành”, đạo không còn bị đóng khung trong khuôn viên nhà thờ nữa, mà đã thực sự mở ra với đời cho thênh thang sánh bước về nguồn cứu độ. Cùng trong ý tưởng ấy, có lạc quan lắm không khi nghĩ rằng: một người nếu thiện tâm ăn ngay ở lành mong ơn cứu độ, sẽ có những điều thuận lợi để gặp được chính Chúa đúng thời đúng lúc, như cụ Simêon (Lc 2,25-32)?
Tóm lại, Mùa Chay mà chỉ nói chuyện ăn uống thì coi chừng bị quở “chước mốc, ma quỷ cám dỗ”, nhưng đề cập tới ba món đặc sản Phúc Âm quả cũng rất nên. Của đáng tội, chỉ tại ngôn ngữ Việt Nam phong phú quá không thể không móc nối ghi nhận. Song nói đi cũng cần nói lại. Ba kiểu nói đều có chữ “ăn” thật đấy, nhưng không ăn bằng miệng mà ăn bằng lòng! Ba món ăn nhưng chỉ một tấm lòng chân thành của người tín hữu tìm về trong Mùa Chay trước tấm lòng yêu thương ngàn đời của Thiên Chúa, để quyết tâm xây dựng một cuộc sống mới. Cuộc sống ấy dù không khác với cuộc sống này nhưng theo một tinh thần khác, tinh thần của Phúc Âm.
Khi ăn khẩu vị sẽ đến. Cầu chúc mọi người khi nhấm nháp những món ăn trên sẽ cảm nghiệm được khẩu vị thánh đức. Và lòng hẹn lòng:
Ăn chay cầu nguyện đêm ngày,
Ăn năn sám hối giải bày tâm can,
Ăn ngay hợp với ở lành.
Mùa Chay ba món thực hành từ nay.
ĐGM Vũ Duy Thống (trích trong cuốn “Từng Bước Một Thôi”)


KHI CÔ ĐƠN BẠN GỌI TÊN AI?

Khi cô đơn bạn sẽ gọi tên ai? Và bạn có sẵn sàng chạy đến khi ai đó gọi tên bạn trong nỗi cô đơn của riêng mình?

Thức giấc, bên ngoài cửa sổ bàng bạc một màu xám ảm đạm. Uể oải và chán chường, bạn nhận thấy có gì đó đang xâm chiếm lòng mình, tựa như mây mù đang phủ kín khoảng trời ngoài sân. Cảm giác này quen lắm. Nó ghé thăm bạn thường xuyên. Mơ hồ nhưng rất thật. Nhẹ êm mà cũng cồn cào. Và bạn tạm gọi cảm giác ấy là nỗi cô đơn.
Cô đơn, một cách gọi thi vị của nỗi buồn, niềm đau, hay cơn sầu khổ thoáng ẩn thoáng hiện trong đời. Cô đơn sẽ đến bất chợt, dù sớm tinh mơ, chiều hoàng hôn hay đêm khuya vắng. Cô đơn cũng không trừ ai, từ cậu nhóc, cô nàng, đến cô dì, chú bác và ông bà lớn tuổi. Cô đơn là “một mình”, là tình trạng trống vắng khi không còn ai bên cạnh. Đó cũng là cảm giác lạc lõng, bơ vơ dù quanh mình có bao người vây lấy. Bạn sẽ làm gì khi ấy? Đi lang thang, tìm quên bằng những thứ ồn ào, hay đơn giản ngủ vùi và khóc? Đơn giản thôi, xin bạn hãy gọi tên một người.
“Em ơi!”, “Anh ơi!” – hãy gọi tên tình nhân của mình. Người ta vẫn thường ví đôi uyên ương như hai mảnh ghép trái tim, thế nên tim bạn sẽ lại đập những nhịp thường hằng khi có được mảnh ghép còn lại. Cũng có thể gọi tên một người bạn tâm giao hay một đồng môn tri kỷ. Triết gia Aristotles đã ví von thật thấm thía: “Tình bạn là một tâm hồn cư ngụ nơi hai thân xác.” Thế nên, gọi tên người thân hữu cũng là lúc bạn gọi chính tâm hồn mình. Cả tên cha, tên mẹ, tên anh chị em, tên con, tên cháu cũng có thể là những chọn lựa lý tưởng để gọi lên trong nỗi cô đơn. Mối dây ràng buộc máu mủ vẫn luôn có một sức mạnh an ủi vô lường.
Gọi tên là gọi về sự hiện diện của người yêu dấu. Nếu nỗi cô đơn đào khoét trong lòng ta một hố sâu, thì sự hiện diện của người ta thương có cơ may lấp đầy hố thẳm u uất ấy. Dù không phải lúc nào tiếng gọi đó cũng mang người ta thương đến bên mình một cách hữu hình, nhưng ít ra hình ảnh của họ cũng có giá trị gần như tương đương, tựa như chút ánh sáng lóe lên đẩy bóng tối xa dần.
Gọi tên ai đó trong nỗi cô đơn nói lên rằng ta cần họ biết bao, đặc biệt khi ta cảm thấy không còn ai ở lại. Thiên hạ vẫn thường nói với nhau về mối tương giao, về tình liên đới, và cứ sự thường người ta sẽ đẩy trách nhiệm cho kẻ khác. Tôi thường chờ người khác tìm đến mình thay vì khiêm tốn thú nhận tôi cần một ai đó và hạ mình cầu cạnh để có được sự hiện diện của họ. Nếu ai cũng đợi và chờ thì lấy ai chủ động và bắt đầu đặt gạch xây nên tình liên đới?
Cô đơn không xấu, nó là phản ứng của nội tâm, là diễn biến bình thường của tâm trạng. Cô đơn sẽ mang lại ích lợi khi tạo cho ta môi trường để nhìn vào lòng mình, để khám phá đường đi nước bước của nội tâm, để nghe rõ hơn nhịp đập thôi thúc của trái tim, mời gọi yêu thương và cho đi nhiều hơn nữa.
Chỉ đáng sợ khi bạn si mê nỗi cô đơn và cứ hoài ở lì trong đó. Bạn không còn làm chủ chính bạn nơi cuộc đời riêng. Bạn bị nỗi cô đơn bắt bớ. Bạn trở thành tù nhân của những tâm tư u uất sầu buồn.
Và một khi tiếng kêu tha thiết gọi tên người ta thương chẳng còn tác dụng, xin hãy thống thiết gọi tên Người Yêu Dấu. Người Việt vẫn thường kêu lên cách vô thức: “Trời ơi!” để nài xin Đấng Thiên Linh nào đó cứu giúp trong mỗi biến cố lớn nhỏ. Người Công Giáo lại khẩn thiết van nài: “Chúa ơi!” Con bạn và tôi thì sao? “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con!” – xin cứ lặp lại lời này thật nhiều để Người Yêu Dấu biết rằng bạn cần Ngài. Chắc rằng Ngài sẽ đến, đến ngay thôi, để cùng ở với bạn trong nỗi cô đơn, để mang lấy nỗi cô đơn của bạn vào chính Ngài.
Khi cô đơn bạn sẽ gọi tên ai? Và bạn có sẵn sàng chạy đến khi ai đó gọi tên bạn trong nỗi cô đơn của riêng mình?


Jos. Nguyễn Minh Vương, S.J.

LẠC TRÔI

Đâu đó trong cuộc đời lạc trôi này, tiếng gọi của Thiên Chúa vẫn cứ vang vọng mãi, để cho ta biết mình đang ở đâu và cũng để ta biết rằng Chúa yêu thương ta nhiều lắm!

Ngay sau khi làm điều không được phép, hai con người đầu tiên đã không dám đối mặt với Thiên Chúa. Họ tìm cách trốn tránh, núp trong lùm cây, lén lút như nô lệ, xấu hổ khi nhìn vào chính bản thân mình. Chỉ trước đó thôi, cứ mỗi chiều, Thiên Chúa cùng đi dạo với con người qua luồng gió nhẹ. Thân tình biết mấy! Thong dong tự tại biết mấy! Thiên Đường quả thực là đây! Ấy vậy mà, chỉ sau một phút không kiềm chế được bản thân, nhất thời nghe theo lời xúi giục của kẻ xấu, A-đam đã đánh mất đi nguồn hạnh phúc của mình. Tư cách làm chủ không còn nữa. Từ đỉnh cao vinh quanh, con người bị dìm xuống tận sâu cùng khổ.
“A-đam, ngươi đâu rồi?” Thiên Chúa cất tiếng gọi A-đam. Thiên Chúa đi tìm con người, vì không thấy con người đâu. Có chút gì đó trống vắng. Ngài gọi A-đam trong nỗi buồn man mác, như người cha đang mong ngóng đứa con đã đi lạc nơi đâu. Câu hỏi của Thiên Chúa sao thật thống thiết, chất chứa biết bao tâm tư. Phải chăng Ngài không biết A-đam ở đâu, hay Ngài gọi để A-đam tự chất vấn bản thân mình? A-đam, con người đầu tiên, là đại diện của toàn thể nhân loại, vốn dĩ có mối tương quan thắm thiết với Chúa, vậy mà giờ đây, sau cái lần phạm tội, đã đánh mất đi hạnh phúc của mình, chẳng còn biết mình là ai, ở đâu giữa dòng đời: một cuộc sống lạc trôi.
Lạc. Chẳng phải là hoan lạc, nhưng là lạc lõng, vì thấy mình như thể chơ vơ giữa dòng đời bất tận. Từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi, mình gặp biết bao con người, có biết bao mối tương quan, cả hời hợt lẫn nặng sâu, nhưng rốt cuộc, ta nhận ra rằng cũng chỉ một mình lê bước độc hành mà thôi. Cuộc đời như chuyến xe, kẻ lên người xuống; hay như chuyến tàu, kẻ ở người đi; gặp nhau phút chốc rồi lại chia tay. Ta như mất hút giữa vũ trụ rộng lớn này. Con người như thấy mình bị lạc đường. Trăm vạn lối nẻo vừa gập ghềnh, vừa quanh co, đôi chân ta dường như ít khi nào hướng về công lý, về chính đạo. Ta sống mà chẳng biết cùng đích đời mình, chẳng thấy điểm đến ở đâu. Đường ta đi cứ lệch lạc méo mó. Muốn tìm hạnh phúc mà chẳng biết tìm nơi đâu. Ta lạc đường nên càng cố đi, càng thấy mình sai, càng gặp nhiều bất trắc, nhưng không đủ sức để quay đầu lại. Đường chính lộ sao cứ càng mãi xa.
Trôi. Trôi như cánh bèo theo con sóng xô đẩy vô tình, như chiếc lá nằm im cho gió thổi. Là bởi vì ta không đủ bản lĩnh để làm chủ chính mình, vì ta quá nhu nhược, đánh mất bản thân nơi những phù phiếm xa hoa, vì ta quá yếu hèn, không dám đứng dậy để dành quyền sống. Ta cứ để đời mình trôi qua cách buồn tẻ, và ta miễn cưỡng chấp nhận nó với một thái độ bị động như cái đã rồi. Rốt cuộc, bị dòng đời xô đẩy, ta chẳng biết mình đang ở đâu, nằm chỗ nào. Sống không lý tưởng, không mục tiêu, không nỗ lực cố gắng. Chỉ sống phần xác mà chẳng có linh hồn. Sống mà như đã chết từ lâu. Sống trong nỗi buồn phiền nhức nhối, lây lất như cọng cỏ yếu ớt trước ngọn gió đông, chỉ chờ đến lúc bị gãy đôi, cho người ta dẫm lên cho vỡ vụn.
Cuộc sống con người quả thực là một cuộc sống lạc trôi. Đó là một chuyến tha hương tìm về cội nguồn nguyên thuỷ nhưng tìm hoài tìm mãi chẳng thấy lối đi. Ra khỏi vườn Địa Đàng, chốn Thiên Đàng hạnh phúc, con người cứ loay hoay mãi với vận mệnh đời mình. Sống nay chết mai, xoay vần theo lịch sử. Có rồi mất, đến rồi đi… chẳng có gì nằm trong bàn tay con người mà còn đó mãi. Con người dần trở nên quá phức tạp, đến mình còn chẳng thể hiểu được mình. Sự xấu do con người gieo vãi cứ ngày càng lan rộng như bệnh dịch hoành hành khắp nơi. Thế giới xinh tươi muôn màu tuyệt đẹp đang bị tàn phá đến nặng nề. Người với người đối xử với nhau như loài cỏ rác. Ai cũng hết sức vun vén, chăm lo cho bản thân mình, mặc kệ người khác ra sao thì ra. Hoà bình, công lý bị chà đạp. Quyền lực bị lạm dụng. Dân nghèo bị áp bức. Chiến tranh liên miên xảy ra. Con người bị làm mồi cho loài thú dữ… Chẳng hiểu nỗi, con người đang mang thế giới này về đâu.
“Con người, ngươi đâu rồi?” Thiên Chúa dường như đang chất vấn từng con người một. Tôi đang ở đâu vậy. Tôi đã bị lạc trôi tới phương trời nào rồi. Tôi có còn là tôi nữa không, hay đã biến thành một loài gì đó hạ đẳng hơn mình. Tôi đang sống trong tình trạng gì vậy. Tôi đang làm gì vậy. Tôi có còn lưu giữ hình ảnh đẹp mà Thiên Chúa đã tặng ban khi Ngài tạo dựng nên tôi hay không… Hàng loạt câu hỏi không ngừng vang lên từ tiếng vang não lòng của Chúa. Tôi thấy mình như thể lạc mất Ngài, đang càng ngày càng rời xa Ngài, đang tìm cách trốn tránh Ngài, đang cố sức giấu mình trong những tàn cây, để Ngài không nhìn thấy tôi. Tôi yêu chuộng bóng tối hơn ánh sáng, thích sự nhơ nhuốc hơn sự sạch trong, yêu con đường quanh co dối trá hơn chính lộ ngàn đời. Nhìn lại tất cả những gì sai phạm tôi đã làm, phải thú nhận ra, tôi cũng chẳng biết là mình đang ở đâu nữa.
Nhưng khi ta cứ ngỡ là mình đang loay hoay không định hướng giữa đại dương mênh mông chẳng biết đi về đâu thì chính Thiên Chúa đã hiện diện ngay bên cạnh. Ngài đi tìm ta. Ngài cất tiếng gọi tên ta. Ngài biết ta chẳng dám đối diện với Ngài nên chủ động ngỏ lời trước. Ngài biết ta đang lạc trôi giữa dòng đời bão tố và không thể tự mình trở về nên đã đích thân đến để đón ta. Điều duy nhất mà ta cần làm là lấy hết can đảm để trả lời câu hỏi của Ngài như một dấu chỉ của lòng sám hối, ăn năn, một sự nhận biết thân phận yếu đuối của mình và thừa nhận quyền năng cứu độ của Thiên Chúa tình yêu.
Đâu đó trong cuộc đời lạc trôi này, tiếng gọi của Thiên Chúa vẫn cứ vang vọng mãi, để cho ta biết mình đang ở đâu và cũng để ta biết rằng Chúa yêu thương ta nhiều lắm!


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY - A

Có nhiều người thắc mắc: Ăn chay là gì? Phải chăng là để dằn vặt thân xác, hành khổ con người cho Chúa vui lòng? Hỏi như vậy là chưa hiểu đạo, chưa hiểu hết ý nghĩa của việc ăn chay. Chúa đâu phải quá độc ác, bệnh hoạn, vui lòng khi thấy con người chịu khốn khổ. Ăn chay một phần để hy sinh đền tội, nhưng mục đích chính của việc ăn chay là để thao luyện tâm hồn chống lại quỷ dữ.
Ngày nay người ta quên sự có mặt của ma quỷ. Nhưng ma quỷ vẫn có đó và và vẫn tích cực hoạt động nhằm phá huỷ thế giới, tiêu diệt con người. Ma quỷ rất tinh ma xảo quyệt nên người ta khó nhận ra âm mưu, dấu vết của chúng.
Nhìn vào ba cuộc ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu, ta thấy ma quỷ rất tinh khôn. Nó có kế hoạch, có chiến thuật, tấn công nhiều đợt, nhiều bước.
Thoạt tiên ma quỷ tấn công vào những bản năng sơ đẳng nhất nơi con người: bản năng sinh tồn, bản năng thống trị, bản năng đối nghịch. Những bản năng ấy gắn liền với những nhu cầu căn bản, chính đáng của con người.
Kéo chú ý của người ta vào những nhu cầu rồi, ma quỷ tiến bước thứ hai, đó là phóng đại những nhu cầu đó lên, làm cho người ta lầm tưởng rằng, đó là những nhu cầu cấp bách, phải thoả mãn ngay tức khắc.
Khi ta đã hoàn toàn mê mẩn vì cái bẫy nhu cầu, ma quỷ mới đẩy ta đến bước thứ ba, đó là tìm thoả mãn những nhu cầu theo ý riêng mình. Cách giải quyết đó ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa. Mục đích sau cùng của ma quỷ là xúi giục ta phản loạn, không sống tâm tình người con hiếu thảo với Chúa, chống lại Chúa và sau cùng lìa xa Thiên Chúa.
Ông bà nguyên tổ đã rơi vào bẫy của ma quỷ nên đã không sống tâm tình của người con hiếu thảo, muốn lìa bỏ cha mình, muốn ngang bằng cha mình, muốn chống lại cha mình.
Chúa Giêsu, trái lại, đã sáng suốt vạch trần âm mưu của ma quỷ và kiên quyết sống tâm tình của người con hiếu thảo.
Khi ma quỷ phóng đại nhu cầu, muốn cho Chúa Giêsu tưởng rằng con người chỉ là vật chất, chỉ sống nhờ bánh vật chất, vật chất là tất cả đời sống. Chúa Giêsu đã sáng suốt chỉ cho ta thấy vật chất không phải là tất cả, bánh vật chất của trần gian là cần, nhưng bánh tinh thần của trời cao còn cần hơn.
Khi ma quỷ thúc giục Chúa Giêsu hãy thoả mãn tức khắc nhu cầu của mình, Chúa Giêsu đã biết kiên nhẫn chờ đợi. Khi ma quỷ khích Chúa Giêsu dùng quyền năng riêng của mình để thoả mãn nhu cầu, Chúa Giêsu đã từ chối. Người muốn vâng phục Đức Chúa Cha, tin tưởng phó thác vận mệnh trong tay Chúa Cha, để mặc Chúa Cha quyết định.
Tuy đã thắng trong cuộc đọ sức đầu tiên, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục bị ma quỷ cám dỗ trong suốt cuộc đời. Cơn dỗ khi thì đến từ những người tin theo Chúa, muốn tôn Chúa làm vua để được ăn no nê bánh vật chất, khi thì đến từ những người chống đối đòi xin phép lạ từ trời xuống. Có lúc ma quỷ mượn chính những người thân tín như Phêrô để ngăn cản Chúa Giêsu thực hành ý Chúa Cha. Có lúc ma quỷ dùng cái chết ghê sợ để uy hiếp tinh thần, mong Chúa Giêsu lùi bước để tìm ý riêng mình. Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi cơn cám dỗ vì Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha. Dù khi phải chiến đấu trong mồ hôi pha máu, Người vẫn nói: “Lạy Cha, xin đừng theo ý Con, xin vâng theo ý Cha mà thôi”.
Ma quỷ vẫn đang tiếp tục tạo nên những cơn cám dỗ. Và nhiều khi chúng ta đã mắc bẫy ma quỷ. Ta mắc bẫy ma quỷ khi mải mê đuổi theo những nhu cầu tiêu thụ quá đáng. Ta rơi vào âm mưu ma quỷ khi ta muốn có tất cả và có tức khắc. Ta hoàn toàn nằm trong vòng tay ma quỷ khi ta dùng mọi phương tiện để thoả mãn những nhu cầu, bất chấp ý Thiên Chúa.
Thay vì tuân phục ý Chúa, tôi luôn luôn bắt Chúa làm theo ý tôi. Thay vì vâng lời Chúa, tôi luôn luôn muốn sai bảo Chúa.
Mùa Chay này, Chúa kêu gọi tôi trở về với Chúa. Muốn trở về với Chúa, tôi phải chiến đấu chống lại ma quỷ. Muốn đủ sức chống lại ma quỷ, tôi phải luyện tập bỏ ý riêng mình và tìm vâng phục ý Chúa.
Hãy đặt ra cho mình một chương trình sống Mùa Chay bằng tăng cường hy sinh, cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái.
Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót đang chờ đón tôi trở về, và sẽ ban sức mạnh để tôi đủ sức chống lại mọi chước cám dỗ, nếu tôi biết sống trọn tình con thảo, tin cậy phó thác vào Người.
Lạy Thiên Chúa là Cha của con, xin đón nhận tâm hồn khiêm nhường sám hối của con.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt