CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN - C

Để đối phó với những người phạm tội, luật hình sự tại các quốc gia quy định nhiều hình phạt khác nhau: phạt tiền, giam nhốt trong các nhà tù hay xà lim, lưu đày biệt xứ hoặc trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng thì đem ra xử tử để vĩnh viễn loại trừ người lỗi phạm khỏi thế giới loài người.
Trong khi đó, để đối phó với tội nhân, Thiên Chúa không muốn trừng phạt mà chỉ muốn giúp tội nhân ăn năn hối cải quay về đường lành. Từ ngàn xưa, Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ Ê-dê-kiên: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết nhưng muốn nó ăn năn sám hối mà được sống” (Ê-dê-kiên 18, 23 và 33, 11)
Đối với Thiên Chúa, mỗi một người đều có giá trị rất cao nên cần phải được trân trọng và yêu thương. Dù con người có đắm chìm trong lầm lạc và tội lỗi, Thiên Chúa không bỏ rơi, không hủy diệt họ, nhưng tìm mọi cách đưa họ trở về đàng lành.
Dụ ngôn người đi tìm chiên lạc trong Tin Mừng Luca (Lc 15, 4-7) chứng tỏ cho chúng ta thấy điều đó:
Người chăn chiên tốt hết lòng yêu thương, quý mến từng con trong đàn, bất kể đó là chiên tốt hay chiên xấu, mập hay gầy, già hay non. Và khi phát hiện ra một con chiên lạc đàn, anh ta bôn ba, tất tả kiếm tìm cho bằng được con chiên lạc với bất cứ giá nào. Một khi đã tìm thấy, anh vác chiên lên vai, mừng vui hớn hở trở về, kêu mời bà con làng xóm đến chia mừng với anh.
Qua dụ ngôn trên đây, Chúa Giê-su tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa xem mỗi người chúng ta là báu vật vô giá, nên nếu có bất kỳ ai “lạc mất”, thì Ngài phải tìm về cho bằng được.
Dụ ngôn trên cũng cho thấy cung cách ứng xử rất khoan dung và đầy thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.
Thay vì trừng trị hoặc trừ khử các tội nhân như các tòa án khắp nơi thường làm, Thiên Chúa Ngôi Hai đã rời bỏ ngai trời vinh hiển, vượt qua khoảng cách gần như vô tận giữa trời và đất, hạ mình xuống thế, trở nên người phàm để đi tìm kiếm từng người trong nhóm họ.
Thay vì tống giam các tội nhân vào ngục, bắt họ mang gông cùm xiềng xích, Chúa Giê-su rất tôn trọng và quý mến tội nhân, tìm nhiều cách hoán cải họ; có khi Ngài còn đến ở lại trong nhà người tội lỗi, cùng ăn uống đồng bạn với họ, trở nên bạn bè của họ, nhằm lấy tình bạn mà cảm hóa họ trở về. (Luca 15,2)
Thay vì kết liễu mạng sống của các tội nhân ác nghiệt, bắt họ phải đền nợ máu họ đã gây ra như các tòa án nhân loại thường làm, Chúa Giê-su đã đổ máu châu báu của mình ra để chết thay cho họ, để rửa sạch họ khỏi muôn vàn tội lỗi và cho họ được sống đời đời.
Lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân, ngay cả những tội nhân bầm dập, khốn cùng nhất, đã được Chúa Giê-su khẳng định trong Tin Mừng Mat-thêu: “Cây lau bị giập, Ngài không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Ngài đưa công lý đến toàn thắng.” (Mt 12, 20 và Is 42, 3)
Lạy Chúa Giêsu,
Hôm xưa, Chúa đã rong ruổi tìm kiếm từng con chiên lạc để vác chiên về. Hôm nay, để tiếp tục sự nghiệp đó, Chúa đã dùng bí tích Thánh Tẩy để tháp nhập chúng con vào Thân Mình Chúa, cho chúng con trở thành một chi thể sống động trong Thân Thể Chúa để chúng con đồng hành với Chúa trên hành trình tìm kiếm và đưa về đàn nhiều con chiên lạc trong thôn xóm chúng con.
Xin cho chúng con trở nên đôi chân của Chúa, rảo bước không mệt mỏi trên vạn nẻo đường đời, để tìm kiếm và đưa về những anh em lạc xa đường Chúa.
Xin cho chúng con trở nên đôi vai của Chúa để làm chỗ dựa tinh thần cho những con người lâm cảnh khốn cùng đang cần một chỗ tựa nương. Amen.
Lm. Ignatiô Trần Ngà


HỌC VIỆN LIÊN DÒNG THÁNH TÔMA - THÁNH LỄ KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2016-2017

Thế là mùa hè đã trôi qua, tiếng ve râm ran giờ đây đã im lặng, những cành hoa phượng đỏ đã bắt đầu đâm chồi xanh mơn mỡn. Những tháng ngày nghỉ ngơi thư giản đã trôi qua. Và biết bao hồng ân Chúa đã ban xuống trên mỗi một chị em học viện chúng con. Hôm nay chúng con đã tề tựu về mái trường thần học Tôma thân yêu để cùng hợp dâng thánh lễ khai giảng năm học mới 2016-2017.
Thánh lễ hôm nay được diễn ra một cách trang nghiêm sốt sắng do cha Vinh Sơn nguyên Bể Trên Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế chủ tế, cùng đồng tế với Ngài có quý Cha giáo sư của trường. Thánh lễ khai giảng năm nay hết sức đặc biệt diễn ra với những dấu ấn sau:
- Năm nay là năm thánh Lòng thương xót.
- Mừng năm thánh 800 năm của Dòng Đaminh.
- Nhằm ngày 3 tháng 9: Lễ thánh Grêgôriô.
Tất cả những sự trùng hợp trên nhằm nhắn gửi mỗi một chị em học viện chúng con những ý hướng sau đây:
1. Hãy biết ký thác năm học mới này cho lòng thương xót của Thiên Chúa.
2. Mừng 800 năm hiện diện của Dòng Đaminh là Dòng giảng thuyết, mỗi người chúng ta ý thức việc nghiên cứu học tập Lời Chúa và những kiến thức về Giáo Hội, để có khả năng phục vụ cho mọi người mà chị em có dịp gặp gỡ.  Vì vậy là sinh viên của trường thần học Tôma, mỗi chị em học viện hãy ý thức: “học hành là khổ chế và việc học tập của chúng ta luôn gặp gỡ Thiên Chúa”.
3. Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Grêgôriô, sau khi học biết về Chúa, chúng ta biết đem hết khả năng của mình để phụng sự Chúa, phục vụ tha nhân và mưu ích cho các linh hồn như gương Ngài đã sống.  Trong cuốn huấn thị Thánh nhân đã viết: “Người ta leo núi không bằng những bước nhảy vọt nhưng bằng những bước chập chững”. “cho phép con người của mình dễ dàng với những niềm vui bề ngoài thì bên trong cũng sẽ dễ dàng đạt được”, đó là những gì nhắn gửi mỗi học viên phải luôn suy tư trong học tập. Chúng ta ý thức rằng việc đào tạo là một tiến trình không có điểm dừng, mang nhiều ý nghiã và không kém phần thử thách, khó khăn. Do vậy luôn đòi hỏi sự nỗ lực của cả thầy và trò, luôn nhiệt huyết tích cực và cùng với ơn Chúa Thánh Thần soi sáng để đào tạo mỗi người trở nên những con người có ích cho Hội Dòng, cho Hội Thánh. Dẫu biết rằng thành công cũng chỉ là thành tựu trong hy sinh mà thôi. Nhưng với ơn sủng Chúa ban mỗi người chúng con sẽ hoàn thành tốt sứ mạng của mình. Nguyện xin Chúa luôn đồng hành và nâng đỡ mỗi chị em chúng con, xin Ngài ban sức mạnh và sự khôn ngoan của Ngài giúp mỗi người chúng con luôn chu toàn những gì Chúa đã khởi sự hôm nay sẽ mang lại kết quả cho ngày mai tươi sáng.
Lạy Chúa Thánh Thần xin Ngài ngự đến trong tâm hồn mỗi người chúng con, giải thoát chúng con khỏi những sợ hãi, khó khăn, nhút nhát. Và mang ơn Chúa Phục Sinh đến thổi vào chúng con ơn khôn ngoan và lòng can đảm, nhiệt thành và sẵn sàng dấn thân để chu toàn sứ mạng Chúa trao phó qua bổn phận học hành và sứ vụ, để Chúa được vinh danh trên khắp mặt địa cầu.

Sr.M.JeanVianey

ĐIỆU CA CỦA NGƯỜI MÙ

Tôi vào đời không có màu sắc. Tôi đi trong biển đêm không giới hạn hoàng hôn hay bình minh. Cuốn lịch của tôi chỉ có một tờ, dài bằng cuộc đời. Tờ lịch mở ra là ngày sinh và bóc đi là ngày chết. Chiều lên hay chiều xuống, rừng thay mùa đổi lá, thửa vườn tôi vẫn không đổi thay. Bốn mùa đời tôi chỉ có vậy, vang vang một cung điệu trầm của bóng tối, ngày lẫn vào đêm.
Tôi vào đời trong không gian không có hình dáng. Mây về ngang trời hay mây đi xa, mùa thu êm ả hay hoa xuân rạo rực trên đồi, không gian tôi vẫn thế. Tôi không biết gần, không biết xa. Chung quanh tôi có khi cận kề mà như xa tít tắp. Có khi xa lắm mà lại như bên cạnh.
Tôi dò dẫm cuộc đời trong bước chân rất chậm. Tôi tìm tôi trong cuộc sống bằng tiếng nói của con tim chứ không thể bằng con mắt.
Bởi tôi mù, tôi không bao giờ biết thế nào là ánh sáng, nên ánh sáng của tôi là một thứ ánh sáng không nắm bắt được bằng ánh mắt của xác thân. Cứ mặt trời lên, mặt trăng về là vũ trụ tuần tự lên xuống theo ánh sáng. Ánh sáng trong trí tuệ mà thôi. Bởi thế, những gì con người nhìn thấy và gọi là ánh sáng thì không phải ánh sáng của tôi. Không so sánh được với ánh sáng thì bóng tối của tôi cũng khác. Do đấy, bóng tối của tôi cũng khác xa bóng tối được xác định bằng nhãn quang của con người. Lương tâm tôi xác định bóng tối cho tôi.
Với thân phận mù lòa, con mắt của tôi không phải là ngôn ngữ định nghĩa về bóng tối và ánh sáng. Tôi đi tìm ánh sáng và bóng tối trong lương tâm và trí tuệ
Từ bóng tối và ánh sáng trong tim tôi, tôi vào đời bằng điệu ca của người mù, điệu ca cũng đến từ con tim nơi tôi suy niệm về bóng tối và ánh sáng đó. Ðây là bài ca:
- Xin thương xót tôi! Xin thương xót tôi!
- Xin thương xót tôi! Xin thương xót tôi!
Tôi là người mù nên bị xếp chung một loại với những người mù khác. Mở Phúc Âm để nhìn lại những bức ảnh của người mù, người ta sẽ thấy bốn trường hợp Phúc Âm nhất lãm ghi lại cũng là bốn lần chúng tôi hát điệp khúc ấy.
Trong Tin Mừng Mátthêu lần thứ nhất:
Khi Ðức Kitô ra khỏi đó thì có hai người mù theo Ngài mà kêu rằng: “Lạy Con vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” (Mt. 9:27)
Trong Tin Mừng Mátthêu lần thứ hai:
Có hai người mù ngồi ở vệ đàng; nghe biết Ðức Kitô đi ngang qua, thì họ kêu rằng: “Lạy con vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” (Mt. 10:29-30)
Trong Tin Mừng Máccô:
Con của Timê là Bartimê, một người mù ăn xin, ngồi ở vệ đàng. Nghe biết là Ðức Yêsu Nazarét đó, thì hắn lên tiếng kêu rằng: “Lạy con vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” (Mc. 10:46-47)
Trong Tin Mừng Luca:
Có người mù nọ đang ngồi ăn xin ở vệ đàng. Nghe có đông người đi ngang qua, hắn dò hỏi cho biết chuyện gì thế. Người ta cho hắn biết là có Yêsu Nazareth ngang qua. Và hắn la lên rằng: “Lạy con vua Ðavit, xin thương xót chúng tôi!” (Lc. 18:35-38)
Những người mù chúng tôi không có bài ca nào khác. Trước chân dung Ðức Kitô, chúng tôi chỉ có điệu ca duy nhất. Chúng tôi chỉ lập đi, lập lại mãi:
- Xin thương xót chúng tôi! Xin thương xót chúng tôi!
Chúng tôi không nhìn thấy khuôn mặt của Ðức Kitô. Bao nhiêu người đã chứng kiến dấu lạ Ngài làm và tin Ngài. Ðối với kẻ mù lòa như chúng tôi, niềm tin của chúng tôi cũng khác lắm. Vì không bao giờ nhìn thấy, bởi đó, chúng tôi kiếm tìm niềm tin dựa vào lòng thương xót. Chúng tôi không thấy dấu lạ. Chúng tôi chỉ tin rằng Ngài có lòng thương xót. Và hễ nghe tin Ngài sắp đi ngang qua là chúng tôi kêu lên:
- Xin thương xót chúng tôi! Xin thương xót chúng tôi!
Ngày ngày ngồi ở vệ đường xin ăn, tôi chỉ biết về Ðức Kitô bằng cách lắng nghe tiếng người qua lại chuyện trò. Một người mù trong nhóm chúng tôi bị kết tội là do tội lỗi của cha mẹ hắn ta, hoặc có thể tội riêng hắn mà phải mù. Ngài bảo rằng không phải tội của ai cả. Nhưng là để quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện (Yn 9:1-41). Ðấy, Ngài lại có lòng thương xót.
Ngồi ở vệ đường, tôi nghe kể về Ðức Kitô đã đến với những kẻ khốn cùng như chúng tôi. Bị trách là tại sao vào thăm nhà những người thu thuế tội lỗi, thì Ngài bảo là người đau yếu mới cần thầy thuốc (Mc. 2:15-17). Gặp kẻ khốn cùng vì câm điếc, mù lòa, tật nguyền là Ngài xót thương họ ngay (Mt. 15:29-31). Bao nhiêu lần Ngài cứu chữa những người còng lưng, bất toại trong ngày Sabat (Mt. 12:9-14). Ngài không bảo chúng tôi về, ngày mai hãy tới vì Ngài phải coi ngày Sabat trọng hơn sự khốn khổ của chúng tôi. Lòng thương xót của Ngài không bao giờ là tình thương được định theo thời khóa biểu.
Ngồi bên vệ đường, tôi suy nghĩ về lòng xót thương. Tôi thấy lòng thương xót nào mà không phải chờ đợi bằng chương trình của những thời khóa biểu thì đấy là lòng thương xót thật. Tôi thấy chỉ vì thương xót chúng tôi mà Ngài mất đi niềm thương xót của các thầy tư tế, các kinh sư.
Cũng như những tháng ngày ngồi bên vệ đường, cũng bằng con tim thôi, tôi thấy lòng thương xót nào mà sẳn sàng chịu thương đau với người mình thương xót thì đấy là lòng thương xót thật. Những ngày thinh lặng bên chợ đời, cũng chỉ bằng con tim, tôi nhìn thấy chân dung Ngài. Làm sao màu sắc có thể vẽ được lòng thương xót? Tôi chỉ vẽ hình ảnh Ngài bằng điệu ca:
- Xin thương xót chúng tôi! Xin thương xót chúng tôi!
Những lời kêu của chúng tôi làm người chung quanh nhàm chán lắm: “Những kẻ đi trước quát bảo hắn im đi” (Lc. 18:39). Ðức Kitô không bao giờ chán nghe điệu ca ấy, không bao giờ từ chối bài ca của người mù chúng tôi. Ngài biết từng bước lần mò trong đời sống của kẻ mù lòa tội nghiệp như thế nào. Ngài không từ chối tiếng gọi của chúng tôi, vì trong điệu ca, chúng tôi đã gọi đúng tên của Ngài.
Tên Ngài là Ðấng hay xót thương. Và niềm tin của chúng tôi là tin Ngài là Ðấng hay thương xót.
******************************
Lạy Chúa, đọc trong Phúc Âm nhất lãm, chúng con đã thấy bốn trường hợp nhắc đến người mù là bốn lần có điệp khúc “xin thương xót chúng tôi.” Hôm nay, lập lại bài ca thương xót trước mỗi lần dâng lễ:
- Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con!
Là chúng con lập lại bài ca của người mù thủa xưa. Nhắc tới ánh sáng người mù đã nhìn thấy là lập lại lòng thương xót của Chúa. Họ đã nhìn thấy một tên gọi đẹp nhất để gọi Chúa: Chúa là Ðấng hay thương xót.
Ngày nào con yêu điệp khúc đó trong đời con là ngày đó con hạnh phúc. Nếu con không biết Chúa là Ðấng thương xót con, con sẽ lạc lõng.
Lạy Chúa, mỗi lần đi lễ, nghe điệp khúc ấy, con muốn Chúa cho con trong niềm tin, cậy, mến nói với Chúa rằng: Con hạnh phúc vì Chúa luôn thương xót con.
Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J


CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN - C

Ai trong chúng ta cũng mong ước được làm môn đệ của Chúa. Ai cũng muốn theo chân Chúa. Nhưng ta có thực sự hiểu làm môn đệ Chúa là như thế nào không? Hôm nay Chúa chỉ cho ta thấy rõ điều đó.
Làm môn đệ là một việc làm nghiêm túc. Đây không phải là một cảm tính bồng bột nhất thời. Nhưng là một việc lâu dài. Chúa Giêsu ví việc làm môn đệ theo Chúa với việc “xây dựng một cây tháp” và việc “chiến đấu với kẻ thù”. Xây dựng cây tháp là một việc làm lớn lao. Chiến đấu với kẻ thù là việc làm nghiêm trọng. Vì thế cần phải ngồi xuống suy tính cho cẩn trọng, chi li. Cũng thế việc làm môn đệ của Chúa là một việc làm nghiêm túc, vừa lớn lao như sự nghiệp cả đời, vừa nghiêm trọng vì ảnh hưởng tới cả định mệnh. Vì thế phải ngồi xuống suy tính cho kỹ lưỡng để có thể theo Chúa đến cùng. Phải suy tính kỹ lưỡng vì làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng.
Làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng. Môn đệ không phải là kẻ hiếu kỳ cưỡi ngựa xem hoa. Môn đệ không phải là kẻ tài tử nay làm mai không. Môn đệ là người đi theo thày suốt đời, sống như thày trong mọi sự. Chính vì thế mà phải coi thày là thần tượng duy nhất, không yêu mến thày. Chính vì thế mà phải từ bỏ tất cả, không chỉ người thân mà từ bỏ cả chính bản thân với những ý nghĩ riêng tư. Để không những đi theo thày, sống như thày mà con ăn nói như thày, suy nghĩ như thày nữa. Kitô hữu là người mang Chúa Kitô trong mình. Muốn có Chúa Kitô trong mình, ta phải loại bỏ tất cả những gì không phải Chúa ra khỏi mình. Điều này chắc chắn không dễ dàng. Nhưng ta an tâm, vì Chúa Giêsu không chỉ đòi hỏi ta. Người đã đòi hỏi chính mình trước. Chúa Giêsu không chỉ đòi ta vác thánh giá. Chính Người đã vác thánh giá trước. Ta sẻ cảm thấy dễ dàng vì chỉ việc làm như Chúa Giêsu.
Làm môn đệ là làm như Chúa Giêsu. Nếu Chúa Giêsu đòi hỏi ta từ bỏ, chính Người đã từ bỏ trước. Người đã từ bỏ trời cao để xuống đất thấp. Người đã từ bỏ địa vị làm Thiên Chúa để xuống thế làm người. Sự từ bỏ được thấy rõ qua việc Chúa tự nguyện sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người và tự nguyện chết thay loài người. Khốc liệt nhất là Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Chúa Cha. Cuộc chiến đấu khốc liệt đã thấy trong vườn Giêtsimani, khi nhìn thấy trước cái chết đau đớn tủi nhục sắp tới, Người run sợ muốn lẩn tránh bỏ cuộc, nên đã tha thiết cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén đắng này”. Nhưng cuối cùng, Chúa đã từ bỏ ý riêng, vâng theo ý Cha, sẵn sàng ra đi chịu chết: “Nhưng đừng theo ý con, xin vâng ý Cha mà thôi”.
Nhờ hoàn toàn từ bỏ ý riêng, vác thánh giá đi đến cùng, Chúa Giêsu đã hoàn thành công việc của Chúa Cha trao phó, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Người môn đệ, khi hoàn toàn từ bỏ chính mình, sẽ nên một với Chúa Kitô, cộng tác vào công cuộc cứu độ của Chúa.
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt.


BỔN MẠNG THÁNG 9


THÁNG 9
NGÀY

LỄ
QUAN THẦY
21.09
Lễ thánh Mattheu, Tđ
* Chị Hồng Thịnh .
29.09
Lễ kính Tổng Lãnh Thiên Thần.

* Dì Trưởng .



 


* Ghi Chú:           

* Từ ngày 20/9 đến  28/9: Làm tuần cửu nhật, Mừng Kính Tổng Lãnh Thiên Thần  Gabriel. Bổn mạng Dì Trưởng.


* Từ ngày 28/9 đến ngày 06/10: Làm Tuần cửu Nhật, Mừng Lễ Mẹ Mân Côi. Bổn Mạng Hội Dòng

 


LỄ GIỖ CHA MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN


NGÀY
LỄ GIỖ

05.09

Giỗ ân nhân và thân nhân Dòng

08.09

Bà cố Catarina- Thân mẫu Dì Trưởng
09.09
Ông cố Giacôbê- Thân phụ Chị Thìn