Giu-Đa, Thật Sự Người Là Ai?

 

GIU-ĐA, THẬT SỰ NGƯỜI LÀ AI?


 
Xưa kia, cái khung cảnh và căn phòng được Ðức Giêsu và các Tông đồ chọn làm nơi ăn bữa tối cuối cùng, thật sự là một nơi của bữa tiệc biệt ly, của sự tang tóc buồn sầu: Bên ngoài màn trời đầy u ám, tối đen và lạnh giá!  Nhưng hôm nay trong ngôi thánh đường này, nơi chúng ta đang cùng nhau cử hành bữa Tiệc Ly, lại sáng rực và ấm cúng.  Tuy nhiên, một sự cô quạnh băng giá nào đó đang len lỏi vào trong tâm hồn chúng ta mà sự thô bạo nặng nề của nó đã từng đè lên trái tim cũng như đôi vai của Chúa.  Ðó là khi xuất hiện tên tuổi của một người mà trong các kinh nguyện phụng vụ chúng ta đọc khi cử hành việc tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa, cũng như trong bài Tin Mừng.  Một tên gọi mà mỗi lần nghe nhắc đến lại gây ra một cảm giác khinh rẽ và tiêu cực: Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ phản bội!  Thật bất hạnh cho Giu-đa!

Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi nghe tôi đề cập đến người môn đệ bất hạnh này, người mà trong một lúc nào đó đã không còn có thể giữ lòng trung thành với Sư Phụ mình được nữa.  Dĩ nhiên không một ai có thể biết được rõ ràng những gì đã diễn biến trong nội tâm và ý nghĩ của Giu-Ða khi ông ta có toan tính như thế.  Và chúng ta cũng không muốn đi tìm một lời cắt nghĩa hay một giải đáp về vấn đề đó!  Nhưng trong buổi chiều hôm nay, tôi có ý nghĩ muốn xin anh chị em một chút thông cảm cho “người anh em Giu-đa” của chúng ta.  Trước hết, khi chúng ta gọi Giu-đa là người anh em của chúng ta, chúng ta đã dùng chính ngôn từ của Chúa.  Đúng vậy, buổi tối trong vườn Cây Dầu, khi Giu-đa hôn phản bội Thầy mình, thì Ðức Giêsu đã nói với Giu-đa những lời đầy ân tình mà chúng ta không thể quên được: “Bạn ơi, bạn dùng nụ hôn để phản bội Con Người sao?”


“Bạn ơi!”  Tiếng này nói lên một sự âu yếm và tha thiết của tình yêu, của lòng thương xót và quảng đại của Chúa.  Tiếng đó cũng làm cho anh chị em hiểu được tại sao bây giờ và ở đây tôi lại gọi Giu-đa theo như ngôn ngữ của Chúa là người anh em.  Chúng ta đã biết rằng trong Bữa Tiệc Ly Ðức Giêsu đã nói: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ, nhưng là bạn hữu.”  Các Tông đồ đã trở thành những người bạn thân thiết của Chúa, dù họ tốt hay xấu, quảng đại hay nhỏ nhoi, trung thành hay phản bội, v.v… tất cả họ luôn luôn là những người bạn của Chúa.


Chúng ta có thể phản bội lại tình bạn của Ðức Kitô.  Nhưng Người thì không bao giờ phản bội chúng ta, là những người bạn của Người.  Kinh thánh đã từng nói: “Dù cho cha mẹ con có bỏ rơi con đi nữa, thì Thiên Chúa cũng không hề bỏ rơi con” (Tv 27,10).  Cả khi chúng ta không xứng đáng với sự trung thành của Chúa, cả khi chúng ta phủ nhận Người, chối từ Người, thì trước mắt và trong trái tim Chúa chúng ta vẫn luôn luôn là những bạn hữu của người.  Bởi thế, Giu-đa vẫn là người bạn của Chúa cả ngay trong lúc ông ta phản bội Người bằng một nụ hôn!


Tôi đã tự hỏi: Làm sao một vị Tông đồ của Chúa lại có thể kết thúc như một kẻ phản bội?

Có ai hiểu được những bí ẩn của sự ác không?  Có ai có thể nói cho chúng ta hay là làm thế nào mà chúng ta đã trở thành độc ác?  Chúng ta đừng quên rằng mỗi người trong chúng ta vào một lúc nào đó đã khám phá thấy rằng sự ác từng đồn trú, từng nằm vùng trong trái tim và trong ý nghĩ của ta.  Chúng ta đã nhìn thấy sự ác đó triển nở, lớn phồng lên mỗi ngày.  Chúng ta không hề biết được tại sao chúng ta lại trao phó mình cho sự ác.  Và một lúc nào đó sự dữ sẽ nổ tung lên.  Từ đâu phát sinh ra sự ác?  Ai đã sản xuất ra sự ác?  Ai đã cướp mất niềm tin của chúng ta?  Ai đã cướp mất khả năng của chúng ta để tin tưởng vào sự thiện và để yêu mến sự thiện?


Nhưng hiện tượng “Sự ác trong chúng ta” không còn là một điều bí ẩn nữa, cũng như sự phản bội của Giu-đa không còn là một bí ẩn nữa.  Mọi người đều biết điều đó.  Bất cứ lúc nào một vị Tông đồ cũng có thể trở thành kẻ phản bội được.  Bất cứ lúc nào một Kitô hữu cũng có thể trở thành kẻ chối đạo.  Bất cứ lúc nào một tín hữu dù đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy cũng có thể bội hứa với Ðức Tin của mình.  Bất cứ lúc nào một người đã được ghi dấu trên mình nhân danh Thiên Chúa ba Ngôi, cũng có thể xúc phạm đến Thánh Danh đó.  Vậy đâu là nguyên nhân của những thay đổi mang tính cách phản bội như thế?

Sự cám dỗ đã được bắt đầu với tiền bạc, với những ngón tay biết đếm tiền.  Ðó là một cái vòng luẩn quẩn đáng buồn của loài người, xưa kia cung như ngày nay, mà một khi đã rơi vào trong đó người ta rất khó lòng thoát ra được.  Bởi lẽ tiền bạc trong túi những người đó đã trở nên quá toàn năng và độc đoán.  “Các ông cho tôi bao nhiêu, nếu tôi nộp Người cho các ông?  Và họ đã chỉ trả cho y 30 đồng bạc” (x. Mt 26,14-16).

Chỉ cần 30 đồng bạc thôi cũng đã vừa giá cho Giu-đa để bán đổi người bạn, vị Sư Phụ của mình, Ðấng đã kén chọn ông ta trong muôn một và đã đặt làm Tông Ðồ; Ðấng ban cho chúng ta được làm con cái Thiên Chúa, đã cho chúng ta có được nhân phẩm, sự tự do và những sự cao cả của những kẻ làm con Thiên Chúa.  Vâng, tiền bạc, địa vị, danh dự, v.v… tất cả đều phát xuất từ Thiên Chúa, đều là ân huệ Thiên Chúa ban, nhưng chúng lại được nhiều người trọng vọng và được đánh giá cao hơn cả niềm tin của họ, hơn cả lòng trông cậy phó thác của họ vào Thiên Chúa.


Tuy nhiên, khi Giu-đa nghe lọt tai tiếng gào thét của đám đông:
Ðóng đinh nó vào thập giá!  Ðóng đinh nó vào thập giá! Khi Giu-đa nhìn thấy Thầy mình bị hành hạ và bị lãnh án tử trong dinh Phi-la-tô, bấy giờ tâm hồn ông ta bắt đầu xúc động, lòng một kẻ phản bội bắt đầu đâm ra quá xúc động và ông ta đã ném trả lại 30 đồng bạc giá máu của Ðấng vô tội xuống đất.  Những đồng bạc đó giờ đây đối với ông ta không còn giá trị gì nữa.  Ông ta vô cùng hối hận.  Nhưng tiếc thay, mọi sự đã quá muộn!


Tội nghiệp cho Giu-đa!
 Thật tội nghiệp cho người anh em Giu-đa!  Bởi vì cái tội nặng nhất không phải là hành động phản bội và bán đổi Ðức Kitô của ông ta, nhưng là sự thất vọng, sự nghi ngờ lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa nơi ông ta!  Vì chính Phêrô cũng đã chối Chúa và tất cả các Tông đồ cũng đều đã bỏ Chúa, nhưng tất cả đã ăn năn hối cải trở về với Thầy mình và Ðức Kitô đã tha thứ cho tất cả họ và đồng thời đã tiếp nhận họ với tất cả sự tin tưởng.


Sau cùng, tôi lại muốn nhắc qua đến
Giu-đa trong chính con người tôi, và cả đến Giu-đa có lẽ ở nơi các bạn nữa, đồng thời xin các bạn hãy cho tôi được cầu xin Ðức Giêsu ban cho tôi ơn phục sinh: Ðược gọi chính tôi làbạn trong chiều nay, sớm mai và trong đêm thứ bảy, đêm Phục Sinh.  Bởi vì tiếng đó là ngôn ngữ của Phục Sinh!  Tiếng đó được nói ra cho Giu-đa khốn khổ cũng như cho chính tôi, và cũng rất có thể cho một Giu-đa khốn khổ trong các bạn.  Bởi vì đó là cả một niêm vui mừng trọng đại, khi Ðức Giêsu không muốn để chúng ta rơi vào cảnh bối rối lo âu sợ hãi, nhưng đã tha thứ cho chúng ta hết mọi tội lỗi.  Chúng ta luôn nhớ rằng, hôm nay cũng như trong lúc chúng ta yếu đuối sa ngã, chúng ta luôn luôn là những người bạn của Chúa, như Giu-đa là người bạn muôn đời của Chúa!

LM Nguyễn Hữu Thy

Giuse, Người Hùng Của Thinh Lặng

GIUSE, NGƯỜI HÙNG CỦA THINH LẶNG



Nói đến Giuse là nói đến con người của Mùa chay.  Điều đó có nghĩa rằng Ngài yêu thích sự thinh lặng nội tâm.  Ngài thinh lặng đến nỗi mà trong Kinh thánh, không hề nghe được một câu nói nào thốt ra từ chính môi miệng của ngài.  Cho nên lễ thánh cả Giuse được Giáo hội mừng vào Mùa chay thánh cũng là dễ hiểu thôi.


Vì thế, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ca ngợi nhân đức thinh lặng của thánh Giuse như thế này:

 

"Một sự thinh lặng cho thấy được một cách đặc biệt con người nội tâm của thánh Giuse.  Các sách Tin mừng chỉ nói đến những gì "thánh Giuse làm," nhưng cũng giúp chúng ta khám phá được "trong những hành động" luôn luôn thấm nhuần sự thinh lặng của Người có một bầu khí chiêm niệm sâu xa.  Hằng ngày thánh Giuse tiếp xúc với "mầu nhiệm được giấu kín từ bao thế hệ," mầu nhiệm đã "cư ngụ" dưới mái gia đình của thánh Giuse."


Ai đã từng một lần hành hương đến Nazaret, quê hương của Thánh gia, thì sẽ nhận thấy ngòai đường phố, trong cửa hiệu buôn bán, thậm chí ngay ở quầy tiếp tân của khách sạn, tuyệt nhiên không có lấy một bóng người phụ nữ.
 Sở dĩ như thế là vì đây là một xã hội của đàn ông, đàn bà không có quyền ăn nói, thậm chí không có quyền xuất hiện.  Và trong một nếp sống như thế, lẽ ra Giuse có quyền và có bổn phận phải nói, nhưng ngài đã chọn thinh lặng.


Tin mừng cho chúng ta thấy rằng, cuộc đời của thánh Giuse là một cuộc đời gắn liền với gia đình thánh.
 Một cuộc đời có nhiều sóng gió, gian nan và thử thách.  Thế nhưng người ta vẫn gặp thấy một Giuse hoàn toàn lặng thầm, thinh lặng để lắng nghe tiếng Chúa, rồi suy niệm, nhận ra ý Chúa và mau mắn thi hành.

Giuse, người thinh lặng lắng nghe


Có thể nói được rằng, Giuse thinh lặng là để lắng nghe tiếng Chúa.
 Trước biến cố Maria có thai, Giuse đau khổ lắm.  Nhưng trong thinh lặng, Giuse vẫn rất mực yêu thương Maria và tin tưởng rằng Maria trong sạch tinh tuyền.  Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định: "Đào vi thượng sách."  Giuse không còn chọn lựa nào khác" vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo" (Mt 1,19).  Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết "Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần" (Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse "Đừng sợ đón Maria về nhà mình"(Mt 1,20).  Nhận ra thánh ý Thiên Chúa "Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về"(Mt 1,24).  Như vậy, trong thinh lặng, Giuse đã lắng nghe thánh ý của Chúa và mau mắn thi hành.


Rồi cuộc sống đang bình yên tại Bêlem, thì chính lúc đó, Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc chạy sang Aicập sống kiếp lưu đày.
 Trước mắt là gian truân vất vả, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục "Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập ngay giữa đêm khuya" (Mt 2,14).


Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng, thì một lần nữa, Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để lên đường.
 Thật mau mắn trước Thánh ý Chúa, "Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel" (Mt 2,21).


Trước thánh ý của Thiên Chúa, Giuse thinh lặng lắng nghe, vâng phục và chu toàn giống như Đức Maria.
 Trong thinh lặng, Giuse đã âm thầm đi sâu vào đời sống nội tâm.  Ngài hiểu tiếng gọi đó là một tình thương đặc biệt.  Ngài trả lời như một giao ước, một gắn bó tín trung bền vững.  Chúa gọi và chỉ dẫn ở từng chặng đường, Ngài nghe và vâng theo, rồi mau mắn thi hành.  Cho dù gặp khó khăn trắc trở, ngài vẫn luôn vững tin ở Đấng đã gọi mình.

 

Thinh lặng đồng hành với Thánh Gia


Sau khi mang Hài Nhi Giêsu và Mẹ Người trở về từ Aicập, Giuse đã cùng sống và đồng hành với Thánh Gia tại Nazaret.
 Cùng với Đức Maria, Giuse dâng con trẻ Giêsu trong đền thánh.  Trong khi đó, cụ già Simeon đã cất lên bài thánh ca chúc tụng, còn Giuse vẫn thinh lặng lắng nghe và suy gẫm những lời tiên tri về con trẻ Giêsu.


Khi Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cùng với gia đình đi hành hương đền thánh Jerusalem.
 Nhưng con trẻ Giêsu bị thất lạc.  Sau khi tìm thấy con trong đền thờ, Đức Maria đã nói: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy?  Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" (Lc 2,48).  Còn Giuse vẫn thinh lặng không nói một lời nào.  Nhưng ngài thinh lặng để lắng nghe Lời của Chúa Giêsu: "Sao cha mẹ lại tìm con?  Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" (Lc 2,49).


Trong cuộc sống đời thường tại Nadarét, thánh Giuse âm thầm thinh lặng lao động.
 Tin mừng không nói gì về cuộc sống của ngài tại Nadarét.  Điều duy nhất biết được là ngài làm nghề thợ mộc và ngay cả chi tiết nhỏ này nữa, chúng ta cũng chỉ biết nhờ những người đồng hương gọi Đức Giêsu là "con bác thợ mộc" (Mt 13,55) mà thôi.  Rồi ngài qua đời khi nào và được an táng ở đâu nào có ai hay. T ất cả những điều đó nói lên cuộc đời thinh lặng của thánh Giuse.


Cuối cùng, chiêm ngắm cuộc đời của thánh Giuse, chúng ta học hỏi nơi Người sự thinh lặng để lắng nghe, thinh lặng để thấu hiểu và thinh lặng để thực thi ý Chúa.
 Tắt một lời, thánh Giuse là vị thánh của thinh lặng.  Thiên Chúa nói với ngài ngay trong thinh lặng và nếu như chúng ta cũng biết sống trong thinh lặng, thì Thiên Chúa cũng sẽ nói với chúng ta, và chúng ta lắng nghe tiếng của Ngài và thực thi thánh ý Ngài.

 

Lm. Micae Trịnh Ngọc Tứ

Nguồn:  https://www.vanthoconggiao.net/2022/05/thinh-lang-thanh-chuong-v-nguoi-hung-thinh-lang-trong-kinh-thanh-tac-gia-lm-micae-trinh-ngoc-tu.html

 


Lắng Nghe Trong Thinh Lặng

 

LẮNG NGHE CHÚA TRONG THINH LẶNG

 


Một trong những phẩm tính đáng ngưỡng mộ nhất được nhận thấy trong cuộc đời Thầy Chí Thánh Giêsu, mẫu gương trọn lành của chúng ta, là sự thinh lặng.
 Tất cả những huyền nhiệm của cuộc sống dương gian, cũng như đời sống thần linh cao vời của Người đều mang dấu ấn thiêng thánh của sự thinh lặng.

 Hội Thánh cho chúng ta biết rằng Hài Nhi Giêsu đã đến giữa thế gian trong sự yên ắng của toàn vũ trụ: “Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, Lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu” (Kn 18,14).  Ba mươi năm đầu đời của Chúa Giêsu đã được bao trùm bởi một sự thinh lặng ấn tượng.  Sau đó là thời gian ba năm đời sống công khai rao giảng của Người, thời gian để Thiên Chúa cất lời và đối thoại với con người.  Dẫu vậy, ngay cả trong thời kỳ này cũng chất chứa thật nhiều điều kỳ diệu của sự thinh lặng.  Thinh lặng là một nét đặc thù trong Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu đến nỗi Tiên tri Isaia đã loan báo trước rằng: “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng hề mở miệng”(Is 53,7).

 Trong Bí tích Thánh Thể, chẳng phải sự thinh lặng khôn thấu của Người làm cảm kích chúng ta và thông truyền chính Người cho chúng ta mỗi khi chúng ta tiếp cận đó sao?

 Sự thinh lặng không được coi là một nhân đức, nhưng nó chính là môi trường để các nhân đức triển nở, và nó cũng là dấu hiệu cho thấy sự trưởng thành của các nhân đức.  Điều này giống như khi nhìn thấy những bông lúa vàng xuất hiện trên cánh đồng, chúng ta biết hạt lúa đã chín, cũng vậy, khi một nhân đức được nhuốm màu thinh lặng, chúng ta nhận thức được rằng nó đang vươn tới sự trưởng thành.  Hãy suy tư về sự thinh lặng của Chúa Giêsu, đồng thời cố gắng suy đi gẫm lại bên trong tâm hồn chúng ta để mỗi người có thể noi gương sự thinh lặng của Người nơi đời sống của chính mình.

 Học cách thực hành thinh lặng nội tâm

 Chúng ta hãy nhìn xem sự thinh lặng trong ba mươi năm đầu sống ẩn dật của Chúa Giêsu.  Sự thinh lặng này quả thật không thể hiểu thấu.  Nếu có một con người nào với đủ tất cả quyền hạn để cất tiếng nói, tất cả ân ban để lôi kéo sự chú ý, tất cả phương tiện để tạo ra cơn chấn động, thì con người đó phải là Chúa Giêsu, bởi chính Người là Chủ tể muôn loài, Thượng Trí vô tạo, đặc biệt Người là Ngôi Lời Vĩnh Cửu của Thiên Chúa Cha, và cũng là Đấng mà thế nhân hằng mong đợi từ rất lâu.  Chắc chắn, nếu có bất kỳ sự kiện nào gây rúng động trong dòng lịch sử, đó phải là sự nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta của Chúa Giêsu.  Thế nhưng, thay vào đó, một sự thinh lặng bao trùm ba mươi năm đầu tiên ấy.

 Kinh Thánh gần như cũng không cho chúng ta biết gì hơn khi nói đến giai đoạn này.  Rất nhiều lần chúng ta muốn biết thêm một chút về những bí nhiệm trong thời thơ ấu của Chúa Giêsu để dưỡng nuôi lòng đạo đức của mình.  Mặc dầu vậy, Kinh Thánh chỉ thi thoảng đề cập đến những năm đầu đời của Người.  Như tiếng thì thầm thoảng qua nơi đồng vắng, một vài trang kể về những sự kiện trong giai đoạn đời sống ẩn dật của Chúa Cứu Thế đã nhấn mạnh và làm bật lên mà không hề phương hại gì đến sự thinh lặng: Ba nhà đạo sĩ đăng trình thờ lạy Hài Nhi Giêsu, cuộc trốn chạy qua Ai Cập của Thánh Gia, việc dâng trẻ Giêsu trong đền thờ - ba sự kiện này không những không gây xáo trộn sự thinh lặng của giai đoạn ẩn dật, nhưng làm hiển lộ một cách rõ ràng hơn.

 Chúng ta cảm nhận được sự thinh lặng đặc biệt trong lối sống của gia đình Nazareth.  Đó là “ngôi nhà của thinh lặng,” chúng ta gần như chẳng thể mường tượng được ý niệm nào khác về Thánh gia ngoài điều này.  Mỗi khi chúng ta suy gẫm về những mầu nhiệm đã diễn ra ở đó, chúng ta luôn nhận thấy mỗi thành viên của Thánh gia đều cư ngụ trong một sự thinh lặng thần thiêng.  Có thể nói, sự hiện diện của gia đình Nazareth đã lưu giữ tâm hồn chúng ta đắm chìm trong thinh lặng.

 Thánh Cả Giuse không hề có một lời nào được viết lại trong Tin Mừng, và chúng ta chẳng thể hình dung điều gì về ngài ngoại trừ việc say mê lặng ngắm những mầu nhiệm diễn ra trong cuộc đời của ngài.

 Đức Trinh nữ Maria cũng luôn ở trong sự thinh lặng.  Đó là sự thinh lặng của bất ngờ và tình yêu được mang đến bởi sự xuất hiện của Thiên Chúa trong cuộc đời Mẹ; một sự thinh lặng tiếp tục được củng cố bằng ánh sáng thánh thiêng của Chúa Giêsu và bởi những dấu lạ mà Mẹ đã chứng kiến và tham dự vào.  Sau khi thuật lại những dấu lạ, Tin Mừng còn nói thêm một lời về Đức Mẹ mà qua đó chúng ta bắt gặp một ánh nhìn soi lối vào tận đáy sự thinh lặng và chiêm niệm bên trong cõi lòng Đức Trinh Nữ, đó là: “Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,52).  Mẹ không hề trao đổi những điều ấy với thánh Giuse, nhưng giữ lại và suy ngắm chúng trong lòng mình.

 Và chàng trai Giêsu, dù sống và làm việc trong xưởng mộc của thánh Giuse như một người bình thường, nhưng hẳn đã sống một đời sống thầm lặng với tất cả linh hồn và trái tim đắm chìm nơi Thiên Chúa Cha.  Linh hồn và Trái tim ấy luôn hòa quyện trong hình dung, thao thức về linh hồn và trái tim của mỗi con người chúng ta.  Người luôn mơ những giấc mơ tình yêu và khổ nạn, luôn nghĩ suy về những vinh quang mà Người sẽ mang lại cho Chúa Cha và sự cứu rỗi mà các linh hồn sẽ được hưởng nhờ bởi tay Người.  Tâm hồn Người hoàn toàn đắm say vào những huyền nhiệm của Thiên Quốc.  Và theo như tôi thấy, đây đích thực là sự thinh lặng của chiêm niệm và đời sống nội tâm.

 Thinh lặng và sự tập trung

 Thinh lặng, hay thậm chí nói chuyện bình thường, cũng luôn mời gọi chúng ta tập trung vào bên trong chúng ta, đồng thời gẫm suy về những gì quan trọng và sâu sắc.  Ví dụ, khi chúng ta ở trong một khu rừng, hoặc lênh đênh trên đại dương, hay lang thang trong sa mạc, chúng ta sẽ kinh nghiệm được sự cần thiết của việc tập trung và hồi tâm nơi bản thân mình.  Bộ máy tâm lý của chúng ta dễ bị những tiếng ồn làm phiền và kéo chúng ta ra khỏi bản thân, chúng làm chúng ta xao nhãng và mất đi năng lực tập trung; sự ồn ào cũng khiến tâm hồn chúng ta chỉ lảng vảng xung quanh những thứ tầm thường bên ngoài mà không thể đi sâu vào con người mình.  Nhưng khi sự thinh lặng chiếm ưu thế, chúng ta sẽ lại tập trung và một lần nữa sống thinh lặng và đi sâu vào đời sống nội tâm.

 Theo như quy luật tâm lý này, chúng ta cần đi vào bên trong con ngươi mình để sống với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa chỉ có thể được tìm thấy nơi sâu thẳm nội tâm mỗi người.  Lẽ dĩ nhiên, việc giữ thinh lặng bên ngoài không chỉ là cửa ngõ dẫn vào đời sống nội tâm, nhưng còn là điều kiện cần thiết cho cuộc sống đối thoại mật thiết với Thiên Chúa.  Nguồn sống của đời sống nội tâm và chiêm niệm chính là sự thinh lặng; do đó, các bậc thầy trong đời sống thiêng liêng luôn đề cao sự thinh lặng; cũng vì thế, việc giữ thinh lặng đã trở thành một trong những điều luật căn bản đời sống tu trì.

 Để có thể sống đời chiêm niệm hay đời tu trì dưới bất kỳ hình thức nào, hoặc một đời sống nội tâm thực sự, thì sự thinh lặng bên ngoài là điều không thể thiếu.  Đồng thời, để nhận ra được tầm quan trọng của nó trong đời sống kết hiệp với Chúa, trong đời sống hướng lên chứ không phải hướng xuống, chúng ta đừng bao giờ rời bỏ thực tế: thinh lặng không phải là một biện pháp kỷ luật đơn thuần hoặc là một cách thức giữ trật tự thường được áp dụng trong các lớp học, nhưng là một điều kiện cần thiết và không thể thiếu cho đời sống nội tâm.

 Luis M. Martinez - chuyển ngữ: Quang Sáng


Theo: catholicexchange.com(29.7.2021)

 

Giao Ước Mới

 

GIAO ƯỚC MỚI

 


Theo nghĩa thông thường, “Giao ước” là sự cam kết, giao kèo giữa hai cá nhân hoặc hai tập thể.  Mỗi bên đều có bổn phận tuân giữ những quy định được ghi rõ trong cam kết này, và bên nào vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc.

 Trong truyền thống Kinh Thánh, “Giao ước” là hiệp định ký kết bằng cách cả hai bên phải đi vào giữa hai phần những con vật được sát tế và xẻ đôi.  Giao ước đối với toàn dân Ít-ra-en là Giao ước cũ (còn gọi là Cựu ước), được thực hiện tại núi Sinai qua việc ông Môi-sen rảy máu tế vật lên bàn thờ và trên dân.  Giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Chúa không chỉ là kết quả của sự thoả thuận của hai bên, mà còn là đặc ân vô điều kiện của Thiên Chúa (Từ điển Công giáo, Tr. 334).

 Luật Giao ước là niềm tự hào của người Do Thái.  Khi so sánh với các dân xung quanh, ông Môi-sen đã nói: “Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người?  Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?” (Đnl 4,8).

 Nếu Thiên Chúa luôn trung thành giữ lời giao ước, thì con người lại hay vi phạm những điều đã cam kết.  Tội lỗi và kiêu ngạo đã phá vỡ mối tương quan thân tình giữa Thiên Chúa và con người.  Con người đã khước từ tình thương của Thiên Chúa và quay lưng chống lại Ngài.  Vì vậy mà Thiên Chúa phải thiết lập một Giao ước mới.  Giao ước ấy được ký kết, không còn bằng máu chiên máu bò, nhưng bằng máu của Con Một Thiên Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô.  Ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Bài đọc I) đã loan báo một Giao ước mới.  Giao ước này không giống như giao ước Chúa đã lập với các bậc tiền nhân của người Do Thái.  Giao ước mới sẽ biến đổi lòng dạ con người, giúp họ canh tân bản thân để nên hoàn thiện.

 Trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ, Chúa Giê-su đã lập phép Thánh Thể.  Người trao cho họ chén rượu và nói: “Đây là máu Giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). Tác giả Lu-ca còn nói rõ hơn: “Chén này là Giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20; 1 Cr 11,25).

 Tại sao Thiên Chúa không dùng cách khác để cứu chuộc con người, mà lại dùng cái chết đau thương của Con Một Ngài?  Nhiều thế hệ, quá khứ cũng như hiện tại, đã đặt ra câu hỏi này.  Thực ra, Thiên Chúa có thể cứu độ con người bằng muôn vàn cách khác nhau, cũng như khi vũ trụ còn là hư vô, Chúa đã phán một lời, mọi sự được tác thành.  Chỉ có câu trả lời “do bởi tình thương” mới có thể làm thỏa mãn vấn nạn trên.  Vâng, như người mẹ vất vả mang thai và sinh con và nuôi dưỡng nên người, Thiên Chúa cũng thể hiện tình thương của Ngài bằng cái chết đau thương của Con Một chí ái.  Tuy vậy, nếu Đức Giê-su đã chết trên thập giá, thì ngôi mộ không phải là nơi cầm giữ Người mãi mãi.  Chúa đã sống lại vinh quang.  Hình ảnh hạt lúa gieo vào lòng đất, chấp nhận thối đi để nảy mầm đơm hạt mà chính Chúa Giê-su đã sử dụng khẳng định chân lý ấy.  Đức Giê-su thành Na-gia-rét là Hạt Giống vĩ đại, đã chấp nhận chết đi để sinh ra một dòng giống mới.  Từ cái chết của Người, một công trình tạo dựng mới đã được khởi sự, để rồi những ai sẵn sàng dìm mình trong sự chết của Đức Giê-su, sẽ được tái sinh và gia nhập Dân Thánh, Dân của Giao ước mới.  Cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá đã xóa bỏ bản án nguyên tội ở khởi đầu lịch sử, thiết lập một trang mới trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Thánh Phao-lô nói với chúng ta (Bài đọc II): Đức Giê-su đã mang lấy trên bản thân mình muôn vàn đau khổ.  Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.  Trong Mùa Chay, chúng ta ôn lại những chặng đường thập giá của Chúa Giê-su.  Hôm nay, những chặng đường thập giá cũng đang đè nặng trên thân phận con người, ở nhiều hình thức và hoàn cảnh khác nhau.  Ý thức có Chúa cùng vác với ta, thập giá cuộc đời sẽ bớt nghiệt ngã hơn.  Xác tín vào sự hồi sinh của hạt lúa, chúng ta sẽ thêm niềm hy vọng giữa những tăm tối của cuộc đời.

 Như cây đến mùa thay lá, như vườn nho đến ngày cắt tỉa, mùa Chay giúp chúng ta buông bỏ những gì cản trở chúng ta trên con đường theo Chúa và trong bổn phận đối với tha nhân.  Những thực hành đạo đức của mùa Chay như chay tịnh, cầu nguyện và bác ái sẽ giúp cho con người cũ nơi chúng ta chết đi, trở thành con người của Giao ước mới, mặc lấy Chúa Giê-su Phục sinh.

 

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh Giá

 

THÁNH GIÁ

 


Thánh Giá là gì?

 

Tôi nhìn thấy thánh giá mỗi ngày.  Tôi nghe nói về thánh giá rất thường.  Thánh giá trên tháp chuông.  Thánh giá trên bàn thờ.  Thánh giá bán trong tiệm.  Thánh giá ngoài nghĩa trang.  Thánh giá trên tường đá.  Thánh giá trong nghệ thuật.  Thánh giá trong thi ca.  Thánh giá ở khắp nơi.  Nhưng thánh giá là gì?  Ðể tìm câu trả lời không phải là vấn đề đơn giản.  Có nhiều ýnghĩ khác nhau về thánh giá.  Tùy theo mỗi người mà thánh giá có giá trị khác biệt.

*

* *

Thánh giá bằng vàng thì giá trị hơn bằng gỗ.  Thánh giá vàng cũng tùy theo to nhỏ mà giá đắt hay rẻ.  Người mua trả giá để được bớt.  Người bán thì lại mong giá cao.  Người có tiền thì mua thánh giá vàng tốt.  Kẻ ít tiền thì mua vàng dở.  Họ lừa nhau, không cẩn thận thì mua phải thánh giá vàng giả.  Ai cũng muốn thánh giá vàng.  Họ vất vả, đam mê kiếm tiền để tích trữ loại thánh giá này.  Khi mất thì đau khổ tiếc xót.  Thánh giá là đơn vị kinh tế để ấn định tiền bạc.  Thánh giá xác định sự giàu có.

*

* *

Thánh giá cũng được dùng để trang điểm.  Họ đeo từng chùm thánh giá trên vành tai, bên mái tóc nhuộm xanh, đỏ.  Người thích thì không sao, người không ưa thì lúc đó kẻ đeo thánh giá bị khinh bỉ.  Có người thích trang điểm bằng thánh giá trên giây chuyền vàng.  Họ đeo thánh giá ở dạ hội, ở tiệc cưới, ở các buổi tiếp tân.  Lúc đó, ý nghĩa của thánh giá để kéo kẻ khác chú ý đến mình.  Và cũng có những thánh giá trên vùng ngực hở hang.  Lúc ấy, thánh giá nằm trong duyên cớ của những rung cảm cám dỗ.  Người có thánh giá để trang điểm thì hãnh diện.  Kẻ không có thì thèm muốn.  Thánh giá lúc này là xúi đẩy của lòng tham.

*

* *

Thánh giá ở ngoài nghĩa trang thì vắng lặng, ít ai nhìn.  Thánh giá bị mưa lạnh, bị nắng gay gắt.  Thánh giá vàng thì được săn sóc, giữ gìn cẩn thận.  Thánh giá ở ngoài nghĩa trang có thể gẫy đổ từ lâu nhưng chẳng ai để ý.  Nhưng nếu Chúa ở trên thánh giá đó thì được tự do ngắm mây trời.  Có cái hoang lạnh của buổi chiều mưa phùn, nhưng cũng có thể có tiếng hót của một cánh chim nào đó dừng chân hát vui.  Có thể là sương rơi, là gió bão, nhưng Chúa không ngột ngạt vì hương phấn như những thánh giá vàng trên ngực, trên cổ của con người.  Thánh giá ngoài nghĩa trang thì không được săn sóc, nhưng Chúa có tự do để thảnh thơi nhìn hoa nở, nhìn nắng bay.  Thánh giá trên giây chuyền để trang điểm thì Chúa bị người ta nhìn, và nhiều khi nhìn bằng những ánh mắt thiếu trong sạch.

*

* *

Cũng có nơi thánh giá được dùng để xuống đường.  Họ vác thánh giá không phải để lên đồi chịu đóng đinh, nhưng để đi biểu tình và đóng đinh kẻ khác.  Thánh giá với khẩu hiệu.  Thánh giá với những bàn tay nắm chặt hận thù.  Thánh giá đằng trước mũi súng.  Thánh giá để đánh nhau.  Thánh giá bây giờ là phương tiện tranh đấu.  Nếu Chúa nằm trên thánh giá đó chắc Chúa sợ lắm.  Suốt cuộc đời, Ngài chỉ dậy các môn đệ của Ngài cách chết chứ chẳng bao giờ dậy cách chiến đấu.

 

Các nhà lãnh tụ thì dậy kẻ theo họ chiến thuật tranh giành ảnh hưởng.  Họ phải biết làm sao để áp đặt kẻ thù.  Họ phải học cách tiêu diệt đối phương.  Thày Giêsu chỉ dậy môn sinh của mình phải chuẩn bị chết (Mt 21,12-13).  Vì thế, khi thánh giá bị vác xuống đường biểu tình, chắc hẳn Chúa phải luống cuống lắm vì Ngài nào có biết gì.

*

* *

Có thánh giá trên lầu chuông gỗ, có thánh giá trong bảo tàng viện.  Thánh giá trên lầu chuông thì có khi phủ bụi mờ, mạng nhện che kín.  Thánh giá không có người săn sóc, nhưng chiều chiều có tiếng chuông phổ nhạc.  Sáng sáng có lời chuông đưa kinh.  Con người bỏ Chúa phủ bụi nhưng có đàn bồ câu bay về, đậu xuống chuyện trò.  Thánh giá trong bảo tàng viện là thánh giá qúy.  Họ canh giữ cẩn thận.  Nhưng khi được con người canh giữ cẩn thận thì Chúa trên thánh giá đó có nhiều lo âu.  Người ta rình mò ăn cắp.  Thánh giá bị đặt trong lồng kính.  Nếu Chúa ở đó chắc ngột ngạt vì bị giam hãm.  Ngày ngày, hàng ngàn con mắt đi qua dòm ngó.  Nếu Chúa ở đó chắc Chúa bối rối lắm.  Chúa trên thánh giá gỗ xấu xí thì lại được tự do.  Chúa trên thánh giá mà được loài người giữ gìn quý hóa lại là một cõi tù đầy.

*

* *

Người Kitô hữu nhận thánh giá để phân biệt mình khỏi tôn giáo khác.  Giữa những người Kitô hữu, tu sĩ lại đeo thánh giá để phân biệt họ không là giáo dân.  Giữa tu sĩ, thánh giá cũng được để phân biệt trên nhẫn bạc, trên gậy cầm để nói ai là thầy thượng phẩm chức vị, ai là tu sĩ thường.  Như vậy, thánh giá cũng được dùng để là dấu hiệu phân biệt.  Những ngày còn sống, Chúa lao tác mệt nhọc, nhưng không phải để xây đền thờ.  Chúa vất vả đi mòn lối trên bụi đường Galilêa nhưng không phải để may cờ, dán bích chương hầu loan báo một tôn giáo mới.  Chúa xây dựng Nước Thiên Chúa trong tim con người.  "Chính nơi điều này mà mọi người sẽ biết các con là môn đệ Ta: ấy là các ngươi có lòng thương mến lẫn nhau" (Yoan 13,35).  Tình yêu vô hình, không nhìn thấy thì Chúa lại bảo lấy làm dấu hiệu cho người ta nhìn.  Còn thánh giá hữu hình, ai cũng nhìn được thì Chúa lại chẳng chọn làm dấu hiệu.

 

Trên đường từ Jerusalem lên núi sọ có rất nhiều người nhìn Chúa vác thánh giá.  Có nhiều kẻ đã được thừa hưởng ân huệ của Ngài, được Ngài chữa bệnh, được Ngài nuôi ăn nhưng họ không vác thánh giá đỡ Ngài.  Không một môn đệ nào ghé vai gánh cho Thầy mình đỡ mỏi.  Chúa đã nhiều lần qụy ngã vì yếu sức.  Kẻ vác thánh giá đỡ Ngài là Simon, người xứ Kyrene (Lc 23,26).  Phúc Âm không hề nói là ông Simon đã được thừa hưởng đặc ân gì của Chúa cả.  Và có thể ông ta là một người ngoại giáo.  Ðời là vậy, có nhiều kẻ theo Chúa nhưng để Chúa vác thánh giá một mình.  Có kẻ trên danh nghĩa không là người theo Chúa nhưng lại nhờ họ mà Chúa đỡ khổ.

*

* *

Thánh giá là gì?

Có quá nhiều loại thánh giá:

- Thánh giá để trang điểm.  Ðiều đó đúng.

- Thánh giá là đơn vị kinh tế tính bằng tiền bạc.  Ðiều đó đúng.

- Thánh giá là phương tiện tranh đấu.

- Thánh giá có thể làm duyên cớ cho lòng thèm muốn tham lam.

- Thánh giá có thể để lôi cuốn, quyến rũ người khác.

- Thánh giá có thể bị quên lãng ngoài cánh đồng.

- Thánh giá cũng được gìn giữ cẩn thận trong tủ sắt khóa kín.

- Thánh giá để phân biệt chức vị trong xã hội.

 

Một câu hỏi mà có quá nhiều câu trả lời đúng thì câu trả lời thường là sai.  Vì câu trả lời đúng nhất chỉ có một.  Không bao giờ có hai cái đẹp nhất cũng như chẳng bao giờ có hai điều đúng nhất.

 

Người ta không thể tranh luận về thánh giá.  Kẻ dùng thánh giá làm phương tiện tranh đấu thì không thể chấp nhận thánh giá là để đóng đinh mình.  Kẻ muốn lấy thánh giá để làm dáng thì đối với họ thánh giá chỉ có nghĩa khi dùng để trang điểm.  Ai chọn thánh giá để phân biệt mình với kẻ khác tôn giáo thì thánh giá mang mầu sắc một ký hiệu.  Mỗi người nhìn thánh giá một cách khác nhau.  Giá trị của thánh giá tùy thuộc cái nhìn của họ.

*

* *

Ðức Kitô nói về thánh giá như sau: "Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá của mình mỗi ngày mà theo Ta" (Lc 9,23).  Vác thánh giá để đi theo một người chứ không phải để thỏa mãn tò mò về một người.  Như thế thánh giá không phải là một định nghĩa để hiểu biết bằng trí tuệ mà phải hiểu bằng lối sống.  Bởi đó, kẻ không theo Ngài thì sự hiểu biết tri thức về thánh giá chẳng có ý nghĩa gì.  Kẻ đã theo Ngài thì không cần tìm định nghĩa cho thánh giá.  Vì đã theo Ngài thì biết thánh giá là gì rồi.  "Về phần tôi, ước chi tôi đừng có vinh quang nơi một điều gì, trừ phi nơi thập giá của Chúa chúng ta" (Gal 6,14).

 

Tôi nói với người ta về thánh giá.  Tôi cũng nghe kẻ khác nói với tôi về thánh giá.  Tôi nhìn thánh giá mỗi ngày mà tôi đâu thấy vinh quang.  Cuộc sống vẫn đầy rẫy trầm luân của nó.  Như vậy thánh giá nào mới cho tôi hy vọng?

 

Giữa bao nhiêu lọai thập giá, thánh Phaolô chọn có một.  Ðó là thập giá của Chúa chúng ta.

 

Như thế, không phải thập giá nào cũng có vinh quang.  Ðiều ấy cũng hàm ý là có nhiều thánh giá giả.  Nếu phân biệt được thánh giá thật giữa thánh giá giả thì người ta sẽ hiểu được vấn đề sau đây.

Vấn đề là người ta phàn nàn về thánh giá.  Khi gặp điều bất hạnh, người ta hay nói: Ðời tôi khổ quá! Chúa gửi thánh giá cho tôi!

 

Phúc Âm kể rằng Chúa bị điệu ra công trường, bị nhổ vào mặt, bị xỉ nhục, bị tát, bị đội vòng gai, bị cười.  Người ta làm thập giá, bắt Ngài vác đi rồi đóng đinh Ngài trên thập giá đó (Mc 15,16-20; Mt 27,27-31; Yn 19,1-3).  Như thế, thập giá trong ý nghĩa bất hạnh là sản phẩm của con người.  Con người đã có sáng kiến chế ra thập giá để đóng đinh Chúa.  Nếu thập giá là sản phẩm của con người thì phải nói con người đã gởi thập giá cho Chúa, chứ Chúa làm gì có thập giá mà gởi cho con người?

 

LM Nguyễn Tầm Thường S.J trích trong “Nước Mắt và Hạnh Phúc”