Chủ đề: “Người đã chỗi dậy từ cõi chết” (Mt 28,7)

Phụng vụ Giáo hội vừa trải qua những ngày Tam Nhật Thánh trọng thể diễn tả biến cố Chúa Chịu Khổ nạn và Phục sinh để cứu chuộc loài người chúng ta khỏi chết muôn đời.

Do sự liên đới với tổ tông loài người nên tất cả loài người phải chết khi Nguyên tổ sa ngã, chống lại Lời Chúa truyền. Từ khi Nguyên tổ phạm tội, sự chết bao trùm và nhấn chìm loài người trong bóng tối của nó. Nhưng Thiên Chúa là Cha Giàu Lòng Thương Xót đã không để tất cả con cái phải hư đi trong cảnh đời đời nên đã sai Con Một xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta và đưa chúng ta về cùng ánh sáng muôn Đời.

Một cuộc đời nghèo khó, một cái chết đau thương đến tột cùng trên Thập giá của Đức Kitô đã minh chứng cho Tình Yêu lớn lao mà Thiên Chúa dành cho tất cả loài người chúng ta. Thế nhưng, tất cả sự khốn khó mà Đức Giêsu phải chịu sẽ không là gì và không mang ơn Cứu độ được cho con người nếu như Ngài không chỗi dậy từ cõi chết. Chúa đã Phục Sinh để đập tan xiềng xích gông cùm của tội lỗi, của sự dữ đè nặng trên con cái của Ngài. Ngài đã chỗi dậy đem lại niềm hy vọng mới cho nhân loại. Giá Máu cứu chuộc đã trả lại cho chúng ta đại vị làm con Thiên Chúa. Chúa đã trỗi dậy để đem lại cho con người sự bình an, hoan lạc mà nguyên thủy Chúa đã tạo dựng và dành riêng cho tất cả chúng ta.

“Người đã chỗi dậy từ cõi chết” - Ngài không để cho chúng ta phải hư mất đời đời.. Niềm tin này của chúng ta được tiếp thêm sức mạnh với sự làm chứng của thánh Phaolô – vị tông đồ dân ngoại. Thánh nhân đã quả quyết rằng: “ Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh… nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1 Cr 15,3-14).            Ơn ích mà tất cả loài người chúng ta được hưởng nhờ từ công nghiệp Cứu Chuộc của Ngôi Hai Thiên Chúa quá rõ ràng. Không ai và không điều gì trên trần gian này có thể phủ nhận được ân ban này.

Thiên Chúa hằng yêu thương săn sóc dân Ngài đã chọn và muốn cho tất cả mọi người đều được chung hưởng hạnh phúc với Ngài. Tuy vậy, dù Toàn năng và quyền phép tới đâu Thiên Chúa cũng không thể Cứu độ được ai nếu như bản thân người đó không muốn và không cộng tác với Ngài.

Đúng vậy, Thiên Chúa đã đặt để nơi mỗi người Chúa dựng nên một sự tự do. Và Ngài không thể làm gì để ban ơn Cứu độ nếu con người dùng chính sự tự do đó để khước từ Tình Yêu của Ngài.

Trải qua bao ngàn năm kể từ khi Ngôi Hai Thiên Chúa thực hiện công việc cứu độ của mình, Giáo hội – hiền thê của đức Kitô vẫn không ngừng tha thiết mời gọi và đưa ra nhiều phương thế để con cái mình được hưởng trọn nguồn ơn cứu độ Thiên Chúa đã ban. Thế nhưng vẫn còn biết bao người còn chưa đón nhận được Hồng ân cao quý này.

Theo dòng thời gian, Phụng vụ Giáo Hội lặp lại các mùa Phụng Vụ để cho mọi Kitô hữu tái khám phá và đón nhận ơn cứu độ muôn đời. Nhưng dường như với rất nhiều người trong đó có tôi tất cả chỉ dừng lại ở những cử hành Phụng Vụ mà thôi. Bằng chứng là đời sống thiêng liêng của tôi vẫn còn “giẫm chân tại chỗ”, trong lòng tôi vẫn còn nhiều sự sân si với anh chị em của mình, tôi vẫn còn bị khống chế bởi những đam mê trần thế của mình; tôi chưa mở lòng ra đón nhận sự khác biệt nơi người bên cạnh, cái tôi còn quá lớn để thấy mình là tất cả của vũ trụ, thật khó để tôi đón nhận những điều trái ý tôi gặp trong cuộc sống… Tất cả là vì Đức Kitô chưa thực sự Phục sinh trong tôi !

Bởi tôi chưa mang lấy Đức Kitô Phục sinh nên con nguời tôi vẫn còn bị giới hạn bởi “ba thù” và tôi chưa đón nhận được ơn biến đổi thực sự để trở nên con cái Ánh sáng

Phải làm gì để được Phục Sinh cùng với Đức Ki tô ?

Vị cha chung của Giáo hội - ĐTC Phanxicô  trong thánh Lễ Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa (08/04/2018 ) đã dạy rằng: “Chúng ta cần phải trông thấy Chúa Kitô Phục sinh từ bên trong, lấy tay sờ vào các vết thương, dấu chỉ tình yêu của Ngài như tông đồ Toma, và nhận ra Ngài qua các vết thương như các môn đệ xưa kia. Bước vào trong các vết thương của Chúa là chiêm ngưỡng tình yêu vô bờ vọt ra từ trái tim Ngài, là sờ mó được tình yêu thương xót của Ngài, là Đấng luôn luôn tha thứ cho chúng ta.”

Chiêm ngưỡng Tình Yêu vô bờ bến của Thiên Chúa dành tặng cho tất cả chúng ta không phải là ở yên không làm gì cả. Chúng ta sẽ không thể nhận ra một tình yêu nơi Đấng vô hình nếu chúng ta không gắn kết đời sống của mình với lời Ngài dạy.

Chúa Giê su đã dạy rằng: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Tình yêu thương thật lòng sẽ dẫn đường cho chúng ta đến những hành động cụ thể vì người mình yêu. Và những hành động cụ thể đó sẽ mở ra cơ hội giúp chúng ta chiêm ngưỡng Tình Yêu của Đức Kitô một cách trọn vẹn và sống động hơn. Vì anh chị em xung quanh chúng ta chính là hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Giacôbê Tông Đồ khẳng định rằng: " Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết" ( Gc 2,17).

Niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh mời gọi tôi phải có hành động cụ thể bước ra khỏi “nấm mồ” con người tự nhiên, hẹp hòi và ích kỷ của chính mình để nhờ đó tôi biết sửa đổi đời sống theo tinh thần Tin Mừng, biết mở lòng ra đón nhận sự khác biệt nơi người khác, biết quan tâm chia sẻ và lắng nghe những ai đang gặp đau khổ, khó khăn; biết dẹp bỏ cái tôi và sự ích kỷ để cùng sẻ chia và cộng tác vì lợi ích chung, biết dành thời gian để đến với những ai đang cô đơn, đói khát, bần cùng hay lạc lõng bơ vơ…Có như thế Đức Kitô mới thực sự Phục Sinh trong tôi và ơn Cứu độ của Người không thành ra vô hiệu nơi tôi.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã Phục Sinh và đem lại cho chúng con sự sống đời đời. Xin ban thêm sức mạnh, tình yêu và lòng nhiệt thành cho mỗi người chúng con, giúp chúng con can đảm bước ra khỏi chính mình để can đảm dấn thân loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho hết thảy mọi người bằng đời sống chứng tá yêu thương và phục vụ ./.

X.tine




THÁNH GIUSE - NGƯỜI CÔNG CHÍNH

 

THÁNH GIUSE - NGƯỜI CÔNG CHÍNH 


Kinh thánh nói rất ít về Thánh Giuse. Phải chăng vì ngài qúa âm thầm, lặng lẽ trong một gia đình nhỏ bé? Thánh Giuse là một người thợ mộc, gia trưởng trong gia dình nhỏ bé tại Nazareth. Tuy nhỏ bé nhưng chính nơi đây đã xuất phát hành trình cứu độ mà Thiên Chúa đã hoạch đinh cho nhân loại, cũng chính nơi đây Đấng Cứu Tinh đã ra đời, mở ra cho con người một kỉ nguyên mới, một niềm hi vọng được ơn giải thoát. Và như thế Thánh Giuse đã cùng cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu độ này. Nhìn vào hành trình cứu độ của Thiên Chúa cùng với những đóng góp âm thầm mà lớn lao của Thánh Giuse để giúp chúng ta có những đường hướng mục vụ theo thánh ý Chúa.

    Nhìn vào cuộc đời thánh Giuse, một con người nội tâm trong chính sự im lặng ấy, ngài luôn nghe được tiếng Chúa và mau mắm thực thi. Chắc chắn trong cuộc đời của ngài, ngài cũng có cho mình những dự tính cho tương lai; thế mà khi nghe tiếng Chúa ngài sẵn sang bỏ đi ý riêng của mình mà làm theo ý Chúa “khi tỉnh giấc ông Giu se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1,24); “ông liền trỗi dậy, và đang đêm đưa hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai cập” (Mt 2,14)...

     Vâng! Chúa nói trong con thật nhiều, Ngài nói với con trong mọi biến cố của cuộc sống, nơi mà những người con có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc... Điều quan trọng là con có biết lắng nghe hay không? Như trong Kinh thánh đã chép “Hạnh phúc thay cho những ai lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc 11,28). Lắng nghe với tinh thần khiêm tốn để Chúa hướng dẫn cuộc đời con. Để có được tâm tình đó, mỗi ngày con phải có một tương quan cá vị với Thiên chúa trong sự cầu nguyện và công việc hằng ngày.

 Suốt hành trình sống nơi trần thế với Chúa Giêsu, thánh Giuse luôn sống trong sự thầm lặng để đón nhận thánh ý Chúa. Ngài gìn giữ gia đình Thánh Gia, gìn giữ Chúa Giêsu và Mẹ Người. Một trách nhiệm khá là khó khăn- chăm sóc bảo vệ Con Đức Chúa Trời. Có lẽ không bao giờ ngài nghĩ tới điều đó; cũng không ai muốn điều đó; nhưng ngài đã đáp lời khi được Chúa mời gọi và hoàn thành công việc Chúa trao.

    Hành trình ơn gọi mỗi người chúng ta cũng thế. Có những công việc mà không ai nghĩ rằng mình sẽ đảm nhận; bởi với khả năng của mình sẽ không bao giờ làm việc đó, hay sức khỏe mình như vậy thì không bao giờ lên vùng kia... “không bao giờ” hay “không nghĩ tới” thì có lẽ đó lại là điều mà Thiên Chúa lại dành sẵn cho chúng ta. Noi gương Thánh Giuse, ngài đã âm thầm phục vụ Chúa thì chúng ta cũng vậy: hãy vâng phục thánh ý Chúa trong tâm tình đơn sơ, khiêm tốn chân thành.... rồi chính Ngài sẽ ban ơn giúp sức cho ta.

    Cuộc đời thánh Giuse cũng đầy dẫy những khó khăn, nhưng Ngài đã phó thác tất cả cho Thiên Chúa. Trong đời sống dâng hiến chúng ta lắm lúc cũng có những khó khăn, trái ý cực lòng... Hãy nhìn lên thánh Giu se- ngài luôn gần gũi bên chúng ta để gắn bó, chia sẻ những khổ đau của chúng ta, cùng với chúng ta vượt qua mọi sự trong tin cậy và yêu mến.

 

CHÚC MỪNG BỔN MẠNG THÁNG 4

 

NGÀY

LỄ

QUAN THẦY

29/04

Lễ Thánh Cathrine Siena        

Trinh nữ, TSHT

Chị Lan (Cathrine)

 

 

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

 

 

NGÀY

LỄ GIỖ

01/04

Ông cố Antôn - thân phụ chị Lan (Francoise Romaine)

11/ 04

Chị Martha Lan Phương

21/04

Mẹ Marie Anastasie (Đấng Sáng Lập)

24/04

Bà cố Inê - Thân mẫu chị Thảo (Dominique)

30/04

Ông cố Phanxicô Xaviê- Thân phụ Dì Cẩm

 



THÁNG 12


NGÀY

LỄ

QUAN THẦY

03/12

Lễ thánh Phanxicô Xaviê

 

Chị Tho

 

06/12

Lễ thánh Nicolas

Chị Kim Ngân

08/12

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm

* Bổn mạng Học Viện             

* Chị Diễm Lan

13/12

Lễ thánh Lucie

 

Lễ thánh Odile

* Chị Quý Phương

* Chị Mỹ

26/12

Lễ Thánh Etienne

Chị Sen

27/12

Lễ thánh Gioan Tông đồ

Dì Nga.

 

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

 

 

NGÀY

LỄ GIỖ

03/12

Ông cố Micae - Thân phụ Dì Trưởng

11/12

Ông cố Phanxico Xavie - Thân phụ chị Mỹ Tiên

Ông cố Giuse - Thân phụ chị M.Odile Mỹ

14/12

Ông cố Phêrô - Thân phụ chị Lệ

22/12

Bà cố Maria - Thân mẫu chị Lan (Cathérine)


SỨ ĐIỆP TỪ NHỮNG NẤM MỒ

 

Tháng 11: Cầu Nguyện Cho Tín Hữu Đã Qua Đời

 

“SỨ ĐIỆP TỪ NHỮNG NẤM MỒ”

Cứ đến tháng 11 hằng năm, Giáo hội dành riêng tháng này cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời. Mỗi lần đi đến đất thánh, nơi an nghỉ của những người đã ra đi, tôi thường thinh lặng cung kính nhìn những nấm mồ nằm chen chúc cạnh nhau. Thông thường những nấm mồ tại đất thánh quê tôi được đắp u lên như hình ảnh cái bụng người mẹ đang mang thai. Một thuở xa xưa, chính trong lòng dạ cưu mang của người mẹ mà chúng ta đã nhận lấy sự sống làm người. Rồi cũng đến một lúc, chính từ những nấm mộ đắp u lên như cái bụng người mẹ mang thai, mỗi người chúng ta sẽ lại trở về lòng đất mẹ.

Hình ảnh này rất thích hợp với lời Chúa khi Thiên Chúa dựng nên con người, Ngài cho biết: “Ngươi bởi bùn đất mà ra và ngươi sẽ trở về cùng bụi đất” (x. St 3, 19). Khi lìa cõi đời này, mỗi người chúng ta sẽ trở về lòng đất mẹ và còn ở đấy mãi đợi chờ cho đến ngày Chúa cho kẻ chết sống lại. Cũng chính trong nấm mộ là cái chết của Đức Ki-tô Giê-su mà chúng ta đã nhận lãnh sự sống vĩnh cửu. Ngày chúng ta trở về lòng đất mẹ, chúng ta cũng trở về với Đức Ki-tô, để sự sống của chúng ta được đổi mới, được tham dự vào sự sống mới của Đấng đã Phục sinh.

Người đã ra đi về thế giới bên kia nằm sâu trong lòng đất hay đã tiêu tan ra tro bụi. Người còn sống trên mặt đất, buồn sầu tưởng nhớ người đã vĩnh viễn ra đi không còn ngày trở lại cuộc sống trên trần gian nữa. Người còn sống muốn bắc nhịp cầu thông cảm và để sống mầu nhiệm các thánh cùng thông công của niềm tin Ki-tô giáo. Nên hằng năm vào ngày 2 tháng 11 có tập tục đạo đức tốt lành thăm viếng phần mộ người thân thuộc, đọc kinh cầu nguyện cho họ. Ở các xứ đạo sau thánh lễ ngày 1 tháng 11 hoặc những ngày kế tiếp, cha xứ và giáo dân tập trung ở đất thánh, làm lễ, đọc kinh hoặc làm phép mồ. Vào ngày này, thân nhân người quá cố dọn dẹp, trang hoàng mồ mả với hoa nến để nói lên lòng thành kính thương mến với người quá cố và cũng để nói lên niềm tin: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại và sự sống đời sau.

Ai trong chúng ta cũng tin rằng “Sinh ký, tử quy”, sống là sống gửi còn chết là về. Nhưng về đâu? Chúa Giê-su trong bữa Tiệc ly với các Tông đồ, đã nói với họ lời từ giã trước khi tự nguyện hy sinh chịu chết: “Thầy đi về cùng Cha Thầy” (x. Ga 14, 1-14). Chỗ khác Chúa Giê-su nói với các môn đệ: “Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến, và đưa anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (x. Ga 14, 1-3).

Người thân yêu đã ra đi, theo niềm tin của người tín hữu Công Giáo chúng ta, cũng như Chúa Giê-su: về cùng Thiên Chúa Cha. Như thế, họ cũng để lại di chúc lời từ giã như sau: “Tôi ra đi bây giờ nằm sâu trong lòng đất, nhưng tôi tin rằng tôi trở về cùng Thiên Chúa, Đấng sinh thành tôi. Tôi nằm sâu trong nấm mồ này, nhưng tôi vẫn hy vọng trông mong Thiên Chúa sẽ cứu độ tôi và sẽ cho tôi sống lại, được hưởng đời sống bất diệt như Ngài cho Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết”.

Nhưng có phải mọi người được như thế không? Thực tế cho biết: mọi người đều trở về lòng đất mẹ, nhưng không phải mọi người trở về “Bụng” tức Cung Lòng của Thiên Chúa. Vì có những người bị loại ra ngoài, khi Chúa phán: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên ác qủy và các sứ thần của nó” (x. Mt 25, 41). Tại sao? Thưa vì họ đã không biết phụng sự Chúa qua tha nhân: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng viếng thăm” (x. Mt 25, 42-43).

Trên những phần mộ của người tín hữu Công giáo thường có cây thánh giá. Cây thánh giá nói lên niềm tin: Chúa Giê-su đã hy sinh chịu chết trên đó để cứu chuộc con người khỏi vòng liên lụy của tội lỗi. Thánh giá Chúa Giê-su là ơn cứu độ, niềm hy vọng cho con người. Trên đó cũng thường có tấm bia có di ảnh người quá cố với ngày, tháng, năm, cùng nơi sinh ra và ngày tháng qua đời. Cũng trên tấm bia có khắc ba chữ: R.I.P. Đây là ba chữ tắt của câu bằng La-tinh: “requiescat in pace” nghĩa là: “ông, bà, anh, chị, em… an giấc ngàn thu”! Có những tấm bia trên phần mộ ghi lại câu Kinh Thánh hay những lời từ biệt, lời cám ơn. Phải chăng chết, đi về thế giới bên kia là hết, là chấm dứt mọi liên đới? Tôi bây giờ nằm chôn kín trong nấm mồ xây kín bằng xi măng, cát đá, nhưng tôi hằng có tâm tình yêu mến Thiên Chúa của tôi, vì Ngài là Cha đời tôi. Và tôi biết Ngài hằng yêu mến tôi. Đứng trước nấm mồ người quá cố, tâm tình buồn thương nhớ tiếc làm sống lại những hình ảnh kỷ niệm buồn vui năm xưa. Thánh giá Chúa Giê-su và cây nến cháy sáng trên phần mộ, tựa như những lời nhắn nhủ của người quá cố nói với người thân còn sống: “Tôi đi về cùng Thiên Chúa Cha, về cùng Đấng là nguồn sự sống và nguồn tình yêu”.

Đứng bên cạnh nấm mồ của thân nhân, chúng ta thấy thương tiếc, nhớ nhung vì họ không còn ở với chúng ta nữa. Nhưng nấm mồ nằm bất động ở đây cũng nhắc nhở cho chúng ta biết cuộc đời như bông hoa sớm nở chiều tàn, chúng ta kẻ trước người sau cũng sẽ vào nằm trong đó. Chúng ta vào nằm trong đó chỉ như đứa con nằm trong lòng mẹ hay nằm trong lòng Thiên Chúa?  Điều này làm chúng ta suy nghĩ và phải quyết tâm sống đời thánh thiện hơn bằng cách làm mọi việc bổn phận cho đầy đủ vì lòng mến Chúa như chị thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su: “làm mọi việc tầm thường với một tình yêu phi thường.” Hay như chuyện một vị tu sĩ đã làm bổn phận của mình trong đời tu. “Một tu sĩ nọ được giao nhiệm vụ may vá. Ngày kia thầy ngã bệnh nặng. Trong lúc hấp hối, Thầy nói: “Hãy đưa cho tôi chìa khóa thiên đàng”. Những người đứng chung quanh giường bệnh bối rối nhìn nhau không hiểu Thầy muốn gì. Nhưng một Thầy hiểu ý đưa cây kim cho Thầy. Tu sĩ ấy mỉm cười hài lòng”. Cây kim mà Thầy dùng mỗi ngày để may vá cho mọi người trong cộng đoàn chính là chìa khóa mở cửa thiên đàng cho Thầy. (Drikwater).

Vậy hôm nay đứng cạnh ngôi mộ những người thân, chúng ta có ý nghĩ gì về cuộc sống, về cái chết, hay nấm mồ…và quyết tâm sẽ làm gì trong tương lai để chuẩn bị cho hành trình về quê hương vĩnh cửu?

 


M. Bernard Hồng Quân
(Sáng tác)