THỜI GIỜ ĐÃ GẦN ĐẾN

Mùa Chay về. Tiếp theo là Tuần Thánh và mùa Phục Sinh. Đây là Mùa Hồng Ân, là Mùa Cứu Độ. Bạn đã xưng tội chưa? Có vẻ như không thể mùa Chay nào cũng trọn vẹn nếu không xưng tội. Nhiều nơi thường xuyên có giải tội, nhất là vào mùa Chay. Xưng tội và rước lễ trong mùa Chay cũng là giáo luật: “Xưng tội trong một năm ít là một lần” và “rước Mình Thánh Chúa mùa Phục Sinh”.
Kinh thánh xác định: “Dù tội đỏ như son cũng ra trắng như tuyết, dù như vải điều thẫm cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18).
Có nhiều lý do khiến người ta trì hoãn hoặc từ chối xưng tội. Có lẽ đây là vài lý do phổ biến:
1. Tôi không cần xưng tội. Thật vậy không? Chắc chắn là nói dối, vì “ai cũng phạm tội” (x. Rm 5:12), đúng như người ta thường nói: “Nhân vô thập toàn.” Mới sinh ra người ta đã có tội nên mới cần rửa tội. Hằng ngày, mỗi khi dâng lễ, ai cũng thú nhận: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Và rồi tiếp tục “xin Chúa thương xót chúng con” ba lần (đối và đáp thành sáu lần) và “lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con” hai lần nữa. Chúa không muốn chúng ta “nói nhỏ” với riêng Ngài mà muốn chúng ta công khai thú tội: “Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát. Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực” (Gc 5:16). Công khai thú tội để được công chính hóa: Lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực. Như vậy xưng thú tội lỗi là điều cần thiết, vì đó là một phần không thể thiếu trong đời sống của người Kitô giáo.
2. Tôi ngại vì bỏ xưng tội lâu rồi. Đừng quên lời thánh Phaolô: “Ở đâu nhiều tội lỗi thì ở đó nhiều ân sủng” (Rm 5:20). Hãy cầu nguyện bằng kinh Ăn Năn Tội để có thể cảm nghiệm được Hồng Ân Chúa dành cho chúng ta. Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Con Người đến để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18:11), và Ngài nhấn mạnh: “Cha của anh chị em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18:14). Có lẽ chúng ta chưa đủ tin nên mới thấy ngại. Tuy nhiên, đừng coi xưng tội chỉ là một nghi thức, vấn đề là thành tâm. Nghĩa là tội lỗi chúng ta có được Thiên Chúa tha thứ hay không là do chúng ta, vì “nhờ đức tin mà được cứu” (x. Mt 9:22; Mc 5:34; Mc 10:52; Lc 7:50; Lc 8:48; Lc 17:18; Lc 18:42) và “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Rm 1:17). Biết vậy rồi thì đừng ngại gì hết!
3. Tôi không có thời gian và không thuận tiện. Người muốn thì tìm ra phương tiện, người không muốn thì tìm ra lý do. Đó là loại triết lý dễ hiểu. Chúa Giêsu thiết lập chức linh mục để hối nhân có thể dễ dàng giao hòa với Thiên Chúa, đồng thời cũng để chúng ta có Chúa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28:20). Có những xứ có linh mục giải tội hàng ngày trước hoặc sau giờ phụng vụ, có những nhà dòng giải tội cả sáng và chiều các ngày trong tuần. Như vậy, nếu không tiện giờ này thì xưng tội giờ khác, không tiện ở nơi này thì xưng tội ở nơi khác. Có nhiều nơi để chọn lựa, đừng viện cớ mà biện hộ cho sự lười biếng của mình. Chúa luôn mong chờ tội nhân ăn năn sám hối, vì Ngài sẵn sàng bỏ 99 con chiên ngoan mà đi tìm 1 con chiên lạc (x. Mt 18:12-14; Lc 15: 4-7). Chúng ta có thời gian rảnh rỗi hoặc làm những thứ khác, sao lại không có thời gian giao hòa với Thiên Chúa?
4. Tôi không có tội trọng nên không cần xưng tội. Có những vị thánh xưng tội hằng ngày. Đã đành chỉ phải xưng những tội trọng, nhưng đó là “điều kiện ắt có và đủ.” Đối với những tâm hồn đạo hạnh, tội nhẹ cũng khiến người ta cảm thấy “xa cách” Thiên Chúa. Tội trọng là những tội “nặng ký” thì dễ hiểu và dễ thấy, nhưng nhiều tội nhẹ cũng có thể làm tăng trọng lượng. Hãy tưởng tượng tội nhẹ như trái bong bóng hoặc nắm bông, một vài trái bóng hoặc một vài nắm bông không thấm vào đâu, nhưng nhiều trái bóng hoặc nhiều nắm bông có thể làm thay đổi trọng lượng rất rõ. Một bên là 1kg sắt và một bên là 1kg bông, có người có thể nghĩ ngay là sắt nặng hơn, nhưng thực sự hai bên bằng nhau vì đều là 1kg. Không thể nói hết thần học về tội lỗi, nhưng có những thứ tội “nổi cộm” như làm tổn thương người khác, tự dễ dãi với mình với những tư tưởng xấu, xem phim ảnh “đen”, bỏ lễ Chúa nhật, kiêu ngạo, tự ái thái quá, lạm dụng Thánh Danh Chúa, từ chối bác ái với người nghèo… Nhiều thứ trong số đó có thể là tội trọng hoặc biến thành tội trọng. Tục ngữ cổ nói: Nemo judex in sua causa (không ai là thẩm phán trong vụ án của chính mình). Chúng ta thường không thấy cái đà trong mắt mình mà lại thấy cái rác trong mắt người (x. Mt 7:3-5; Lc 6:41-42). Ca dao Việt Nam cũng có câu:
Chân mình còn lấm bê bê
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người
Thật là nhiêu khê! Nhưng đừng lấy cớ “tôi không có tội trọng” mà thoái thác. Xưng tội thường xuyên (hàng tuần hay hàng tháng) là động thái khiêm nhường, đem lại lợi ích cho chúng ta là nhận lãnh thêm hồng ân và tránh được dịp tội trong tương lai.
5. Tôi không biết xưng tội gì. Ngày nay, đây là vấn đề phổ biến, vì việc đào tạo luân lý trong văn hóa của chúng ta, thậm chí cả những người Công giáo, không được chú trọng và có vẻ mơ hồ. Vả lại, ngày nay người ta muốn loại bỏ Chúa ra khỏi cuộc đời mình nên không còn cảm giác tội lỗi. Nếu thẳng thắn và nghiêm túc xét mình thì chúng ta sẽ thấy mình phạm nhiều tội hằng ngày. Vì không xét mình rõ ràng nên mới cảm thấy “không có tội gì để xưng.” Cơ bản là xét mình theo Mười Điều Răn và Sáu Điều Răn Hội Thánh, nếu cần thì dùng Kinh thánh – chẳng hạn đoạn Kinh thánh này:
Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: Đó là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam, mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng. Chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống trên những kẻ không vâng phục. Chính anh em xưa kia cũng ăn ở như thế, khi anh em còn sống giữa những người ấy. Nhưng nay, cả anh em nữa, hãy từ bỏ tất cả những cái đó: nào là giận dữ, nóng nảy, độc ác, nào là thoá mạ, ăn nói thô tục. Anh em đừng nói dối nhau, vì anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, để được ơn thông hiểu. Vậy không còn phải phân biệt Hy Lạp hay Do Thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người. Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại.
Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: Đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân. Ước chi lời Đức Kitô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan. Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng. Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha (Cl 3:5-17).
Chắc hẳn chúng ta không thấy “thoải mái” khi đọc những đoạn Kinh thánh như vậy, do đó mà cảm thấy… ngại xưng tội! Chúa Giêsu nói: “Ai phạm tội là làm nô lệ cho tội” (Ga 8:34). Không ai muốn mình làm nô lệ cho người khác, huống chi là làm nô lệ cho tội lỗi!
Vậy hãy quyết tâm dành thời gian đi xưng tội, càng sớm càng tốt. Hãy quyết tâm sống mùa Chay theo lời thánh Phaolô: Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người. Quả thật, Chúa nói: “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ.” Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ (2 Cr 5:20-21; 2 Cr 6:2).
Đến với Bí tích Hòa giải là đến với Tình Yêu của Thiên Chúa, đến ẩn náu trong Thánh Tâm Chúa Giêsu, được tắm gội trong Nguồn Hồng Ân của Lòng Chúa Thương Xót. Đừng chần chừ, đừng lần lữa, vì “thời giờ đã gần đến!” (Kh 1:3; Kh 22:10). Nếu chúng ta “hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, Chúa sẽ mửa chúng ta ra khỏi miệng Ngài” (x. Kh 3:16).
Trầm Thiên Thu

CÁC NHÂN ĐỨC CỦA THÁNH GIUSE

Đối với người Dothái, tên biểu thị con người. Chẳng hạn như Evà: mẹ của chúng sinh; Abraham: cha của vô số dân tộc; Xarai: mẹ của các công chúa, vua chúa; Isaác: nó cười; Môsê: được đưa ra khỏi (nước); Gioan: ân huệ của Đức Chúa, Giuse: cho thêm …
Tên Giuse [yösëp] dựa theo nguyên ngữ Hípri ở trên có nghĩa là “cho thêm”. Còn dựa trên sáu mẫu tự làm nên tên gọi JOSEPH, người ta nhận thấy sáu nhân đức nổi bật của Thánh Nhân: Justitia/ Just (công chính)Oboedientia/ Obedience (vâng lời)Sapientia/Sapience (khôn ngoan)Experientia/ Experience (kinh nghiệm)Patientia/ Patience (kiên nhẫn//trọn đời)Humilitas/ Humility (khiêm nhu).
Justitia (công chính)Không giống như trường hợp của Đức Maria, Thánh Kinh nói rất ít về cuộc đời của Thánh Giuse. Tuy vậy, những câu đầu tiên mô tả về ngài lại nói về  đức công chính: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).
Có nhiều định nghĩa về đức công chính dựa theo thái độ và hành vi của con người trước Thiên Chúa. Cựu ước đã nêu ra 10 mẫu mực về sống công chính trong lịch sử cứu độ trong sách Kn 10. đó là: ông Nôê (Kn 10,4), tổ phụ Ápraham (Kn 10,5), ông Lót (Kn 10,6), tổ phụ Giacóp (Kn 10,10), ông Giuse Aicập (Kn 10,13), và Dân được ông Môsê dẫn ra khỏi Aicập (Kn 10,15.20). Vậy Giuse công chính theo nghĩa nào, và giống mẫu gương nào?
Nói về gốc tích Đức Giêsu, khi Mt nối kết Giuse ở cuối gần với Đức Giêsu lên với Apraham ở đầu danh sách, chắc chắn Mt đã liên tưởng sự công chính của Giuse với Ápraham: “ông Ápraham đã tin Ðức Chúa, và vì thế, Ðức Chúa kể ông là người công chính” (St 15,6). Như vậy, có thể nói điểm nổi bật nói đức công chính của Giuse là đức tin. Giuse là người có đức tin ưu việt như Ápraham, tin theo tiếng gọi của Thiên Chúa và sẵn sàng thực hiện sứ vụ Thiên Chúa giao phó để cộng tác vào chương trình cứu độ của Người.
Oboedientia (vâng lời)Như các mẫu gương công chính trong Cựu Ước khi đứng trước chương trình lớn lao của Thiên Chúa, Giuse lo sợ. Lúc này, vì ngài biết rằng Maria thụ thai không theo cách bình thường, mà do quyền năng của Thiên Chúa nên ông “định tâm lìa bỏ Maria cách kín đáo”. Ông đã lo sợ khi đứng trước chương trình mầu nhiệm quá lớn lao của Thiên Chúa. Chính vì thế, sứ thần đã trấn an “Này ông Giuse, con cháu vua Ðavít, đừng sợ / μὴ φοβηθῇς”. Run sợ trước sứ vụ mà Thiên Chúa ủy thác là một thái độ tiêu biểu của người công chính.
Dầu lo sợ nhưng sau khi Sứ thần Chúa giải thích cho ông hiểu những gì đã xảy ra với Maria, với thai nhi, không một lời phản kháng, lập tức “khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”. Sự “sợ hãi” của Giuse và sau đó là cách đáp trả lại chương trình Thiên Chúa như thế đã làm cho Giuse giống với Môsê trước bụi gai đang bốc cháy (Xh 3,5), giống với Isaia đứng trước sự hiện diện của Đấng ba lần Thánh (Is 6,5), và sau này đó là thái độ của Êlisabét khi đứng trước Thân mẫu của Đức Chúa (Mt 8,8), và nhiều người của Thiên Chúa khác nữa.
Với thánh Giuse, khi đã được giải thích, ngài đã mau mắn vâng phục thiên ý mà đón nhận sứ vụ để cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa đang thực hiện nơi Maria, nơi Thai Nhi và nơi chính mình. Trong Kinh Thánh, có 4 lần thuật lại việc sứ thần truyền cho thánh Giuse một sứ mạng trong giấc mơ thì ngài liền trỗi dậy và làm theo: đó là thái độ vâng phục triệt để, một nhân đức đặc trưng của của thánh Giuse.
Sapientia (khôn ngoan): khôn ngoan để suy tính, cân nhắc tìm giải pháp sao cho đẹp cả đôi đường: cho ngài và cho thanh danh của Maria. Khôn ngoan tiên liệu những gì có thể xảy ra với hài nhi con của mình mà tìm cách lánh nạn, nhưng khôn ngoan hơn cả là làm theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa.
Experientia (kinh nghiệm): Là người từng trải trên đương đời và trong cuộc sống (năm kia, dựa theo Tin mừng Ngụy Thư Giacôbê và Mátthêu, chúng ta đã nghe đến giả thuyết Giuse đã kết hôn với bà Menkha và sinh được 4 người con trai, sau này được gọi là “các anh em của Chúa”), để có thể dìu dắt thánh gia tiến bước trên đường đời.
Patientia (kiên nhẫn)Trong Lời nguyện Nhập Lễ, chúng ta đã nghe “Lạy Chúa, Chúa đã giao phó Đức Giêsu cho thánh cả Giuse, và thánh nhân đã trung thành gìn giữ trong giai đoạn đầu của công trình cứu độ”. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề kéo theo một thời gian rất dài, nên để chu toàn sứ vụ này, ắt hẳn thánh Giuse phải có đức kiên nhẫn. Đức kiên nhẫn này được thể hiện qua các biến cố, khi vừa tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa vừa âm thầm làm theo mà không kêu ca phải kháng như nhiều lần Kinh Thánh trình thuật:
-Kiên nhẫn đón Đức Maria chịu thai mà không do “quyền phép mình”, về nhà, săn sóc, thương yêu.
-Kiên nhẫn khi Đức Maria mãn nguyệt khai hoa, không có ai khác chăm sóc, trong cảnh nghèo không người tiếp đón trong một hang đá ở đồng hoang xa lạ.
-Kiên nhẫn khi được Thiên Thần báo tin vua Hêrôđê tìm cách giết hài nhi, thánh Giuse đã đưa Hài Đồng Giêsu và mẹ Maria trốn qua Ai Cập, sau đó được báo tin quê nhà đã an toàn, ngài lại đưa Thánh gia trở về sống ở quê hương Nadarét.
-Tại đây, thánh Giuse đã kiên trì lao động bằng đôi tay thợ mộc để “nuôi dưỡng” gia đình, tận tâm để “giáo dục” Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52).
Thánh Giuse vẫn kiên nhẫn đi tìm Đức Giêsu bị lạc lúc lên đền thờ vào năm 12 tuổi. Sau ba ngày gặp lại Con trong trong đền thờ Giêrusalem, Giuse nghe những lời giải thích của Đức Giêsu, nhưng cũng như Đức Maria chẳng hiểu gì hết, nhưng ngài vẫn âm thầm kiên nhẫn chờ đợi điều gì sẽ xảy ra. Có thể nói, với sự kiên nhẫn, cuộc sống của thánh Giuse đã hành động nhiều hơn là nói và từ đó kèm theo nhân đức nổi bật sau cùng được phản ảnh trong tên của Ngài:
Humilitas (khiêm nhu): Khi nghĩ về Đức Giêsu như là một con người, thì người ta nghĩ đến công sinh thành dưỡng dục của bậc cha mẹ. Có thể nói ba công việc căn bản Sinh-Dưỡng-Dục Đức Giêsu thì thánh Giuse đã chiếm mất hai phần rưỡi. Ngài không tạo sinh (của CTT), nhưng trợ sinh Đức Giêsu. Sau đó thì Dưỡng và Dục Đức Giêsu mãi cho đến thánh Giuse khi nhắm mắt lìa đời (ngụy thư nói ngài mất lúc 111 tuổi, và Đức Giêsu được 22 tuổi = tuổi trưởng thành). Có thể nói nhân cách Đức Giêsu có được chủ yếu là học ở trường nhà Nagiarét và người thầy, vị giám học chính là thánh Giuse. Công lớn là thế, nhưng Thánh Giuse không nói về mình, và Kinh thánh cũng nói ít về ngài. Ngài quả thật rất khiêm nhu bằng cách ít nói mà hành động nhiều trong âm thầm.
Thánh Giuse ít nói mà chúng ta lại nói quá nhiều về ngài. Đến đây, có lẽ tôi phải bắt chước ngài “ít nói” để dừng lại bài chia sẻ ở đây. Trước khi dừng hẳn, xin ghi nhớ các nhân đức nổi bật của ngài ở trong lòng để suy gẫm mà noi theo:
Giuse công chính, vâng lời,
Khôn ngoan, kinh nghiệm, trọn đời, khiêm nhu.
Giuse Ngô Ngọc Khanh OFM

TỪ TRÊN THÁNH GIÁ NHÌN XUỐNG: GIOAN VÀ CÁC TÔNG ĐỒ KHÁC

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu nhìn thấy các tông đồ của Người.

Giờ này họ đang ở đâu? Chỉ còn một người đang ở gần Người. Đó là Gioan, tông đồ trẻ nhất và cũng trung thành nhất. Tất cả những người khác thì đã lủi trốn trong các con hẻm thành Giêrusalem, trong nhà những người quen hoặc chạy xa ra vùng ngoại ô… Họ sợ bị bắt, bị bỏ tù, bị kết án vì tội thân thiết với Đức Giêsu…

Nhưng tại sao họ trở thành như vậy? Những sự việc gì xảy ra trong mấy ngày qua đã xô đẩy họ đến tình trạng này vậy?

Trước đây họ đã từng hăng hái theo Người vì thấy Người làm nhiều phép lạ và dân chúng nườm nượp kéo theo… Dân còn rước Người khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem như một ông vua nữa… Thế nhưng khi Chúa Giêsu nói Người đến để cứu loài người khỏi tội lỗi, Người phải chịu nạn chịu chết… thì họ không còn hiểu nổi nữa…

Trong bữa ăn cuối cùng, Chúa Giêsu báo là một người trong nhóm họ sắp phản bội Người và Người chỉ còn ở với họ vài giờ nữa thôi… Tiếp đến Người dẫn họ vào Vườn Cây Dầu. Họ đã thiếp ngủ, vì mệt, vì thất vọng chán nản. Đến nỗi Chúa Giêsu phải xin ba tồng đồ thân cận nhất là Phêrô, Giacôbê và Gioan cố gắng thức và cầu nguyện với Người. Nhưng ngay cả ba anh này cũng ngủ. Thế lả Chúa Giêsu thức và cầu nguyện một mình. Người nghĩ đến bao cực hình đang chờ đón Người, nhất là bao tội lỗi loài người mà Người phải chịu khổ chịu chết đề đền thay : tội gian dối, tội bất công, tội dâm ô, tội đối xử ác độc, tội chiến tranh, tội giết người, tội phá thai… tất cả tội lỗi loài người từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế… Người lo buồn khủng khiếp đến nỗi ngã quỵ xuống, mồ hôi hòa với máu vã ra khiến Người như hấp hối sắp chết… Đang lúc đó thì các tông đồ vẫn ngủ say…

Chúa Giêsu đứng lên đến gọi họ thức, vì Giuđa đang dẫn toán lính đến. Các tông đồ giật mình, mở mắt ra, thấy chung quanh toàn là lính vũ trang, và có cả Giuđa ở với chúng…

Phêrô cố chống cự… Nhưng đòn chống trả của Phêrô chẳng có ý nghĩa gì… Còn Chúa Giêsu thì, thay vỉ làm một phép lạ gì đó, lại xuôi tay cho bọn chúng bắt… Người chỉ nói đơn giản: Người mà các anh muốn bắt là tôi. Vậy hãy để cho những người này đi”. Thế là chúng  trói Người dẫn đi. Còn các tông đồ thì chạy trốn.

Một mình Gioan can đảm đi theo Người xa xa… Gioan theo sát những diễn biến.. cho đến chiều Thứ Sáu lên ngọn đồi Canvê… Một mình Gioan trong nhóm 12.

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu cũng nhìn thấy tôi.

1. Phải chăng thi thoảng vào những lúc nào đó tôi ngừng không sống đạo nữa, vì thấy phiền quá, thấy khó quá, hay vì thấy có nhữnbg việc khác cần làm hơn như học hành, giải trí, làm ăn v.v…?

2. Phải chăng có những lúc tôi để việc sống đạo sang một bên vì thấy chung quanh tôi đa số đều không cùng tín ngưỡng, ngay cả những tín hữu cũng đã nguội lạnh rồi, nhiều người khác tín ngưỡng hoặc vô tín ngưỡng thì công kích ? Tôi sợ bị người ta chê là ngu dại… Sợ sống không giống ai… Sợ bị chê cười… Sợ bị mất việc… ?

3. Hay phải chăng tôi giống như Thánh Gioan : mặc cho thiên hạ nói ngả nói nghiêng, mặc cho bao nguy hiểm sẵn chờ, tôi vẫn kiên trì theo bước chân Chúa ?

 GIUĐA

Từ trên Thánh giá nhìn xuống, Chúa Giêsu thấy Giuđa.

Giờ này Giuđa đang ở đâu?

Anh ta đang treo lủng lẳng trên một cành cây ở ngoại ô thành Giêrusalem… Cùng lúc Chúa Giêsu cũng đang treo trên cây Thập Giá trên đồi Can vê.

Thật khốn cho Giuđa… Vì đâu nên nỗi?

Giuđa là một con người nhiều tham vọng, muốn có một địa vị cao. Anh rất hồ hởi khi thấy Chúa Giêsu làm phép lạ nên đã đi theo Người. Có lẽ anh tự nhủ: “Với quyền làm phép lạ như vậy, chắc  hẳn Đức Giêsu sẽ kéo hết mọi người về với Người. Dân chúng sẽ tôn Người làm vua. Người sẽ đánh đuổi quân Rôma xâm lược. Còn mình là một trong số những kẻ thân tín của Người. Nếu mình chu toàn trách nhiệm quản lý cho Người thì mình sẽ còn được đặt làm Bộ Truởng Tài chính. Rồi mình sẽ giàu sang, quyền thế. Ôi sung sướng biết bao!”

Thực ra nếu Giuđa hiểu Thánh Kinh, hẳn anh ta nhớ những câu tiên tri các Ngôn sứ nói Đức Kitô là một Người Tôi Tớ khiêm nhường, chịu hành hạ và bị giết chết để chuộc tội loài người… Nhưng Giuđa chỉ nhắm đến mục tiêu của mình và chỉ nghĩ đến con đường bạo lục để đạt được mục tiêu đó.

Dần dần Giuđa đâm ra chán Chúa Giêsu và cho rằng mình đã lầm khi làm tông đồ của Người. Giuđa nhận thấy rõ các nhà lãnh đạo Do thái giáo ngày càng thù ghét Chúa Giêsu. Thế nào cũng tới ngày họ bắt Chúa Giêsu cùng với các đệ tử của Người. Giuđa cũng biết họ đã nhận ra anh là một đệ tử của Người và như thế thì sẽ bị liên luỵ.

Làm sao đây? Giuđa quyết định thay đổi chiến tuyến. Anh sẽ phản lại Chúa Giêsu, vì có như thế may ra anh sẽ cứu vãn tình thế của mình.

Việc này rất dễ. Giuđa biết rõ nơi Chúa Giêsu thường đến để qua đêm mỗi khi Người lên Giêrusalem. Đó là một khu vườn ở ngoại thành, dưới chân đồi Cây Dầu. Vậy Giuđa sẽ tìm đến gặp những kẻ thù ghét Chúa Giêsu và thương lượng với họ. Anh sẽ dẫn họ đi bắt Người, và họ sẽ trao cho anh 30 nén bạc, đúng giá mua bán một tên nô lệ. Giuđa còn hy vọng cuộc mua bán này sẽ giúp anh có thêm những người bạn mới.

Vài ngày sau, Chúa Giêsu cùng các tông đồ ăn một bữa ăn từ biệt tại một căn nhà ở Giêrusalem. Giuđa cũng có mặt. Chúa Giêsu vốn thấu suốt mọi sự trong lòng mọi người nên giữa bữa ăn, đột nhiên Người báo cho các tông đồ hay có một người trong nhóm sẽ phản Người. Lời ấy như một quả bom nổ tung làm mọi người bàng hoàng. Mọi người ngừng ăn, nhìn nhau và tự hỏi ai mà cả gan làm chuyện động trời như vậy… Giuđa hiều là Thầy đã lật tẩy mình, nhưng anh tỉnh bơ không nao núng. Gioan, lúc đó đang nằm cạnh Chúa Giêsu, nghiêng qua Người hỏi nhỏ: “Xin Thầy cho con biết. Ai vậy?” Chúa Giêsu cũng trả lời nhỏ: “Là người mà Thầy sẽ trao miếng ăn này”. Người do thái có thói quen để tôn vinh một khách mời là chủ nhà trao cho người đó một miếng ăn đã chuẩn bị sẵn : một miếng thịt hoặc một miếng bánh chấm nước sốt. Chúa Giêsu trao miếng ăn cho Giuđa. Bằng cử chỉ này, Người muốn kêu gọi lương tâm anh lần cuối, Người tỏ cho anh thấy Người vẫn thương mến anh… Lẽ ra Giuđa nên chộp lấy cơ hội này để từ bỏ ý định xấu xa. Anh chỉ cần đưa mắt nhìn lại Thầy thì cũng đủ cho Thầy hiểu anh đã hối hận… Tuy nhiên Thiên Chúa không ép lòng ai cả, và mọi người ai cũng có tự do đáp lại hay phản bội tình yêu của Người… Giuđa khóa mình trong lòng kiêu ngạo và sự hận thù… Chúa Giêsu hiểu Giuđa ngoan cố nên nhẹ nhàng nói: “Vậy thôi, con muốn làm gì thì làm nhanh đi…” Thế là Giuđa ra khỏi phòng, đi sâu vào đêm tối…

Tối hôm đó, Chúa Giêsu không bỏ thói quen thường lệ. Người dẫn các tông đồ đến Vườn Cây Dầu.

Vài giờ sau, Giuđa dẫn đầu một đám lính, trang bị gươm giáo và đèn đuốc. Nhưng làm sao nhận ra Chúa Giêsu được giữa nhiều người khác… nhất là trong những ngày mùa lễ Vuợt qua này có rất nhiều người hành hương ngủ đêm trong Vườn Cây Dầu này? Nhưng Giuđa đã tiên liệu và đã có sẵn giải pháp: “Tôi hôn chào ai thì chính là người đó.. Mau bắt lấy và giữ cho thật chặt”. Mọi sự diễn ra đúng như Giuđa sắp xếp. Chỉ có một chi tiết bất ngờ: Khi anh hôn chào Chúa Giêsu, Người hỏi: “Này anh bạn. Anh dùng một cái hôn để phản tôi vậy sao!”

Hôm sau, Giuđa hay tin Thượng hội đồng đã kết án xử tử Chúa Giêsu. Lúc đó anh mới hối hận vì đã phản bội Người. Anh đã không lường trước sự việc lại xảy ra nhanh chóng và tồi tệ như vậy. Thế lả anh đến gặp những kẻ thù ghét Chúa Giêsu và nói: “Tôi đã làm sai… Tôi đã nộp một người vô tội…” Nhưng họ lạnh lùng đáp: “Mặc kệ mầy. Chuyện đó không ăn thua gì tới chúng tao. Bây giờ kể như đã xong chuyện. Trễ quá rồi”.

Tuy nhiên đối với Giuđa thì vẫn chưa trễ. Anh vẫn còn có thể tìm đến Chúa Giêsu xin Người tha thứ… Nhưng than ôi, anh vẫn giam mình trong tuyệt vọng… Anh chán ghét tất cả, chán ghét người khác, chán ghét chính mình… Anh ra khỏi thành, leo lên một tảng đá, rút dây lưng tròng vào cổ, cột vào một nhánh cây, rồi buông mình treo lủng lẳng giữa khoảng không…

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu cũng nhìn thấy tôi.

1. Phải chăng tôi cũng phần nào giống Giuđa: để thành đạt, để có một địa vị, để nổi danh, để giàu có… tôi đã dám làm tất cả, kể cả tội lỗi?

2. Phải chăng đôi khi tôi không can đảm đi xưng tội, thú nhận các tội lỗi tôi đã phạm bởi vì tôi nghĩ những tội đó quá nặng, tôi cho rằng chỉ có tôi mới dám phạm những tội ấy… Tôi quên rằng Thiên Chúa là Đấng thương xót vô cùng luôn sẵn sàng tha hết mọi tội lỗi của tôi?


3. Có khi nào tôi nghĩ đến các kitô hữu ở những nước bách hại đạo không, để cầu nguyện cho họ được can đảm sống đạo, không phản bội Chúa, không bán đứng các anh em tín hữu khác?
TỪ TRÊN THÁNH GIÁ NHÌN XUỐNG
Nguyên bản tiếng Pháp: Ceux que Jésus voyait du haut de la Croix
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái chuyển ngữ

NGỒI LÊ ĐÔI MÁCH, TẬT XẤU RẤT KHÓ ĐỂ SỬA

Từ bài diễn văn đầu tiên vào cuối năm đọc trước Giáo triều La Mã đến nay, Đức Phanxicô không bao giờ bỏ qua dịp nào để mà không tố cáo căn bệnh tái phát trong giáo triều cũng như trong cộng đoàn: bệnh thì thầm, bệnh ngồi lê đôi mách và bệnh buôn chuyện.
“Tôi đã nói nhiều lần về căn bệnh này, nhưng không bao giờ đủ. Đó là một căn bệnh trầm kha, bắt đầu đơn giản chỉ là buôn chuyện một ít, và rồi nó cuốn hút đương sự, biến người này thành người ‘gieo bất hòa’ (như Satan), và trong nhiều trường hợp là ‘lạnh lùng giết người’, giết danh tiếng của đồng nghiệp, của anh em mình. Đó là căn bệnh của những người hèn, những người không có can đảm nói trực tiếp. Thánh Phaolô đã xin chúng ta: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng, như thế anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì” (Ph 2, 14-18). Anh em thân mến, chúng ta cẩn thận không rơi vào loại khủng bố của buôn chuyện!” (Đức Phanxicô, ngày 22 tháng 12-2014).
Các lời của Đức Phanxicô không sợ là những lời đập mạnh. Ngài xin chúng ta trau dồi “ngược lương tâm” khi đứng trước những lời phù phiếm có thể giết người. Ngài lên án “loại khủng bố của những chuyện ngồi lê đôi mách.” Ngài cảnh cáo “những lời thì thầm và ghen tương”, nhất là những người làm việc trong giáo hội hay những người đi tu. Ngài cũng nhấn mạnh sự “hủy hoại khủng khiếp” của miệng lưỡi được dùng như vũ khí chống người anh em.
Nhưng đâu là những lời thì thầm và ngồi lê đôi mách?
Lời than vãn
Lời than vãn là chữ hoặc câu thù nghịch diễn tả sự không đồng ý, chỉ trích, than phiền, chống ngầm, ác ý. Nó không nói lên trực tiếp với người mình muốn sửa trong tình anh em. Nhưng thì thầm bí mật, che giấu. Nó giống như một tiếng động lờ mờ chứ không phải lời của con người.  Văn sĩ Rodolfo Ardente ở thế kỷ 11 định nghĩa nó như sau: oán than vì gièm pha chống một lý do lớn mà mình đánh giá thấp tầm nghiêm trọng của nó (murmuratio est ob locutio depressa minoris contra majorem ob impositam sibi rei gravitatem).
Chúng ta đừng quên than vãn là một tật xấu đáng ghét, nó bị Thánh Kinh lên án nhiều lần. Nó được nêu lên nhiều trong các sách kể chuyện dân Israel ra khỏi Ai Cập. Khi họ đến Mara và họ không có nước uống, họ cay đắng than vãn, “dân kêu trách ông Môsê” (Xh 15, 24). Sau đó họ than vãn chống ông Môsê và ông Aaron trong sa mạc Sinai: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa  trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16, 3). Chính ông Môsê gọi những lời này là “kêu trách” (Xh 16, 8). Một đoạn sau, ở Rephidim, “dân khát nước nên đã kêu trách ông Môsê” (Xh 17, 3). Vàø ông Aaron và bà Myriam, anh và chị của ông Môsê cũng than vãn chống ông (Myriam cũng như Aaron đều chống ông Môsê: Đnl 12, 1) và Myriam bị hình phạt bệnh phong hủi (Đnl 12, 9-10).
Các lời than vãn là những lời chống lại uy quyền, nhưng không nói trực tiếp với người có quyền. Họ bí mật thì thầm, nên họ phán xét, nói quá, thao túng các sự kiện; và vì không có đương sự nên đương sự không thể bảo vệ, giải thích hay khiêm tốn nhận lời chỉ trích.
Trong Thánh Kinh, các lời than vãn thường liên hệ đến việc không có đức tin: “Ông Môsê nói: […] Không phải anh em kêu trách chúng tôi, mà là kêu trách Đức Chúa.” (Xh 16, 8).
Các Thánh vịnh cũng nói về các lời thì thầm và sự liên hệ của nó với đức tin: “Họ chẳng tin tưởng chi vào lời Chúa phán, trong lều trại, lẩm bẩm kêu ca, chẳng thèm nghe tiếng Chúa.” (Tv 106, 24-25).
Trong Tân Ước, ngoài những lời than van của những người chống Chúa Giêsu (Lc 5, 30 ; Ga 6, 41.43.61) hay của đám đông (Ga 7, 12 et 32), người ta còn ghi nhận các bài viết của Thánh Phaolô cảnh báo mạnh tật xấu này: “Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách như một số trong nhóm họ đã lẩm bẩm (dân Israel trong sa mạc); họ đã chết bởi tay Thần Tru Diệt” (1 Co 10, 10). “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay ta thán” (Ph 2, 14). “Hãy tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca” (1 Pr 4, 9).
Các lời lẩm bẩm gần như là tật xấu chung của các cộng đoàn: tại sao? Bởi vì đó là cách đơn giản nhất để tuôn ra sự hung bạo của mình đối với người có quyền và các quyết định của họ, hoặc đối với những người khác trong cộng đoàn khi mình không có can đảm nói trực diện và rõ ràng với người mà sự sửa sai và chỉ trích sẽ làm mình lớn lên.
Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh đi sửa lỗi họ, một mình anh với họ mà thôi. Nếu họ chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. Còn nếu họ không chịu nghe, thì hãy nói với cộng đoàn Giáo hội, đó là lời giảng dạy của Phúc Âm (Mt 18,15-17). Những người biếng nhác, những người sợ sệt và những người không thẳng thắn, minh bạch, họ thường dễ dàng lẩm bẩm kêu than và không muốn bị phán xét bởi những người có quyền, họ âm thầm lên án những người này. Các lời than van thường tạo thông đồng. Đúng vậy, ai gặp khó khăn với người nào, nếu họ biết người khác cũng ở trong tình trạng này, họ sẽ thì thầm với người đó: theo cách này, họ có người thông đồng để chống, hỗ trợ, đoàn kết với nhau. Thường đó là một cơ chế vô thức, nhưng mình có thể thấy nơi mình và tự hỏi về trách nhiệm, vùng tối, sự dữ dằn nếu mình muốn là người chân thật và trong sáng.
Đúng, với các lời than van thì thầm, chúng ta xét đoán người khác, chúng ta chống họ và tìm đồng minh chống họ. Chúng ta nuôi dưỡng mối thù ghét có trong lòng mình và chúng ta muốn chuyện tiêu cực cho người khác. Có phải đơn giản hơn, để khỏi bị lầm, mình đến gặp người anh em để nói thẳng những gì mình nghĩ, nhận trách nhiệm về hành động và lời nói của mình không?
Tất cả chúng ta biết những lời than van thì thầm là một trong các khó khăn lớn của đời sống tu trì. Có thể đó là tật xấu khó nhất để loại hẳn. Đó là căn bệnh dẫn đến việc thường xuyên xét đoán từng hành động, từng cử chỉ, từng lời nói với ác ý. Chúa Giêsu đã nói: “Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối.” (Mt 6, 23; Mc 11, 34). Thánh Biển Đức thì đề nghị thuốc giải độc là chịu sỉ nhục để đưa đến khiêm tốn. Trong luật Dòng, ngài nhiều lần lên án các thì thầm than van (4, 39; 5, 14-19; 34, 6; 35, 13; 41, 5;  53, 18) và gần như ngài van xin: “Chúng tôi đưa ra lời cảnh cáo trước: không được thì thầm.” (40, 9). Trong tất cả các bài viết thiêng liêng của các Thánh Pacômê, Thánh Basile, Thánh Colomban và Thánh Phanxicô, các thánh đều nhắc đến việc thì thầm, họ cho đó là một trong các tội nặng nhất nếu cứ kéo dài, và đáng bị đuổi ra khỏi tu viện. Bởi vì thì thầm làm chia rẽ, làm hủy hoại và giết cộng đoàn, giết sợi dây đức ái liên kết để cộng đoàn được hợp nhất: người thì thầm bị cắt ra khỏi sự hiệp nhất của anh em (Alienus sit a fratrum unitate qui murmurat, Benoỵt d’Aniane).
Ngồi lê đôi mách
Còn ngồi lê đôi mách? Ngồi lê đôi mách là chuyện hàng ngày hơn và kéo dài hơn, dù bề ngoài nó ít nặng hơn. Người ngồi lê thích nói đến các vấn đề, các sự kiện của người khác. Thêm nữa, khi ngồi lê, người ta có khuynh hướng bịa chuyện, cũng có thể không phải là vu khống. Nhưng lời nói có trọng lượng của nó, chung chung nó có ảnh hưởng trên người nghe và hướng người này suy nghĩ theo một cách nào đó. Trong ngồi lê đôi mách,  người ta bình luận các sự kiện, các lời nói một cách chủ quan, trong khi họ cho rằng mình khách quan. Nhất là người ta bóp méo nội dung, ý nghĩa và bỏ đi một phần nội dung, nhấn mạnh trên sự việc này thay vì sự việc khác. Đúng, ngồi lê đôi mách là miệng lưỡi ba hoa, không thể nào ngậm thinh được. Thánh Giacôbê viết trong thư của ngài: “ Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân.” (Gc 3, 2) “Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta.” (Gc 3,6).
Ngoài đời cũng như trong các cộng đoàn, luôn có một người mà khi họ gặp ai, họ bắt đầu nói về người khác và chỉ trích những người này. Thường đó là những người nhàn rỗi, họ bỏ thì giờ ra để nói huyên thuyên vì họ không muốn nhìn vào con người mình và nhìn bóng tối của mình. Họ thành chuyên gia khi nói về người khác, cứ có dịp là họ nói liên tu bất tận. Nhưng những người nói xấu và những người lắm chuyện thì rất dễ nhận diện, chỉ sau một thời gian họ tự cho biết họ là ai.
Chuyện không ngạc nhiên khi Đức Phanxicô nói “các chuyện ngồi lê đôi mách là khủng bố.”
“Người ngồi lê cũng như kẻ đi ném bom, họ ném bom và họ bỏ chạy, họ hủy hoại bằng miệng lưỡi, họ không xây dựng hòa bình.” Và chính mỗi người chúng ta phải gỡ kíp các quả bom giết người này.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

CÁI SAI CỦA CHÚNG TA

Trong tương quan với người khác, cái sai của chúng ta là lúc nào cũng cho mình đúng. Ừ thì cũng có lúc mình đúng nhưng điều đó đâu có nghĩa là chẳng bao giờ ta sai. Nói lời nào, đưa ra quyết định gì, dĩ nhiên ta luôn có lý lẽ cho nó, nhưng luôn cho mình là trọng tâm của chân lý để rồi buộc người khác phải luôn nghe mình, làm theo những gì mình muốn là một cái sai vô cùng trầm trọng. Cho mình đúng, ta bịt tai trước người khác, ta phủ nhận mọi điều khác. Ta cãi chày cãi cối để chứng minh mình đúng. Dù có khi biết rõ là sai, ta vẫn cứ cố gắng lấp lem, bẻ cong chân lý, lôi kéo chân lý về phía mình.

Cái sai của chúng ta là hay vội vàng kết án người khác. Ta kết án ngay cả khi chưa biết rõ trắng đen thực hư câu chuyện thế nào. Ta kết án chỉ vì người khác không hành xử theo những đòi hỏi và tiêu chuẩn của bản thân. Thêm vào đó, một thái độ vội vàng làm cho những phán đoán của chúng ta trở nên thiếu cơ sở. Chẳng biết từ đâu, ta lại tự cho mình vị thế của một quan toà, đem người khác vào vòng suy diễn của ta rồi gán cho họ những nhãn mác của riêng ta. Con người xa cách nhau có lẽ cũng vì như thế.

Cái sai của chúng ta là chỉ biết xăm xoi người khác mà thiếu nhìn đến bản thân. Ta luôn đủ lý do để bao che và bào chữa cho những sai lầm to lớn của mình, chứ khi ít nào chịu thông cảm cho một lỗi nhỏ li ti của người khác. Ta yêu bản thân mình, phải, đó là điều tốt, nhưng yêu đến mức làm ngơ những điểm tối của bản thân là điều không thể chấp nhận. Phải chăng do đôi mắt luôn hướng về phía trước nên ta chỉ nhìn thấy người khác, chứ không thể nhìn ngược lại bản thân? Thử một lần nào đó soi gương chính mình, ta sẽ thấy những điều ta không thích nơi ngươi khác, hoá ra lại là phản chiếu những khuyết điểm của chính ta.

Cái sai của chúng ta là luôn ảo tưởng, xếp mình ở vị trí trung tâm của vũ trụ, luôn muốn người khác dòm ngó đến mình, mà quên mất rằng giữa cuộc đời này, ta chẳng là gì và suốt dòng chảy của lịch sử, mỗi chúng ta chỉ là những chấm nhỏ tạo thành. Nếu cuộc sống này là một câu chuyện dài thì ai trong chúng ta cũng là vai chính và đồng thời cũng là vai phụ. Ta có một truyện đời của mình nhưng người khác cũng có cái của riêng họ. Có là trung tâm của vũ trụ hay không dường như không phải do ta tự quyết định. Thử hỏi, giữa thế giới này, có bao nhiêu người biết đến ta, rồi trong số đó, có bao nhiêu người thân thiết với ta, có bao nhiêu người xem ta là quan trọng với họ, có bao nhiêu người khóc cho sự ra đi của ta, có bao nhiêu người vì sự biến mất của ta mà cũng không còn tồn tại. Ít lắm, phải không?

Nếu có một ngày nào đó, khi ta bị tách biệt ra khỏi mọi người, phải sống cô đơn cô độc giữa một chốn hoang vu hay một nơi xa lạ, ta sẽ thấy được niềm hạnh phúc lớn lao khi có được ai đó sống bên cạnh mình, trò chuyện với mình. Những ai sống tha hương nơi đất khách quê người hẳn cũng có kinh nghiệm tương tự khi bất chợt trên đường phố nghe ai đó nói ngôn ngữ của mình, bằng giọng nói thân quen. Sao gần gũi và thân thương đến lạ! Tình người vốn dĩ là cái gì đó thật cao quý và chẳng điều gì có thể so sánh hay thay thế được. Vậy mà dường như lắm lúc ta không đủ trân trọng nó. Mất đi rồi, ta mới thấy hối tiếc. Hai con chó không quen biết nhau bị nhốt chung một chuồng. Ban đầu chúng còn cắn xé nhau, tranh giành nhau miếng ăn, nhưng sau đó thì trở nên thân thiết. Hai con người sống chung với nhau, ban đầu thì lịch sự đối đãi tốt với nhau, nhưng dần dần lại trở nên xa cách, thậm chí còn là kẻ thù không đội trời chung với nhau. Tại sao vậy?

Con người trở nên cao cả hệ ở việc người đó có sống chữ “tình”. Đánh mất đi đặc tính vĩ đại này, con người bị xem là “không bằng loài cầm thú”. Trong cái tình ấy, có một chút bao dung, có một chút thứ tha, có một chút thương xót. Trong cái tình ấy, còn có cả sự hy sinh, nhẫn nhịn, chia sẻ. Tránh sao được những lần đụng chạm nhau, xung đột nhau vì những lợi ích này kia, nhưng giá như con người biết đặt chữ “tình” lên trên hết, hẳn là họ sẽ dễ dàng vượt qua được tất cả những hiềm khích và chia rẽ. Đó là bởi vì khi người ta sống bằng tình nghĩa, người ta không dùng quá nhiều lý trí để tính toán thiệt hơn cho bản thân, người ta đủ can đảm để im lặng nhằm tránh những cuộc cãi vả không cần thiết, người ta biết nhìn lại bản thân và dành một sự tôn trọng cho người khác.

Hạnh phúc của chúng ta tỉ lệ thuận với mức độ ta mở ra với thiên nhiên vạn vật và người khác. Càng mở ra, ta càng thấy mình cần phải nhỏ lại để được lớn lên. Để giữ gìn tình cảm giữa con người với nhau, tất cả phải cùng chung tay, tất cả phải có lúc chịu chút thiệt thòi và có khi phải chấp nhận lùi bước. Đừng trượt đi quá dài trong con đường cố chấp và bảo thủ, vì cái sai của chúng ta chính là từ chỗ này mà phát xuất ra, làm huỷ hoại những tương quan tốt đẹp của chúng ta và làm héo úa chính cuộc sống của chính ta nữa.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ