TINH THẦN NGHÈO KHÓ CỦA NGƯỜI TU SĨ

Trong thế giới ngày nay, con người đang hướng đến một nền kinh tế toàn cầu hóa, con người luôn chạy theo lợi nhuận, theo xu hướng: mạnh được yếu thua. Trong đời sống gia đình mạnh ai nấy sống, nhân phẩm của con người ít được tôn trọng và có sự phân biệt đối xử giữa người với người, xã hội khuyến khích con người làm thế nào để tạo ra nhiều của cải vật chất để hưởng thụ. Do vậy, khi muốn làm giàu con người dễ rơi vào tình trạng tội lỗi, xa rời đức tin. Thế nhưng lội ngược dòng thời gian đó cũng có biết bao người âm thầm, can đảm và dấn thân trong đời sống dâng hiến.
Trước thực trạng xã hội đang sống theo trào lưu hưởng thụ thì người tu sĩ chọn sống đời sống khó nghèo nhằm làm nổi bật đời sống của người môn đệ Đức Kitô. Đồng thời đời tu phản ánh rõ nét giá trị siêu việt của Tin Mừng là đem ơn cứu độ đến cho tha nhân.
Xét theo nền tảng Thánh Kinh từ thời Cựu Ước. Sự nghèo khổ được xem như là một tai họa, vì thế con người luôn tìm cách giải quyết vấn đề nghèo khổ của mình. Như xưa dân Israel đã cử hành năm toàn xá, để họ đươc tha hết những án phạt như: tù tội, nợ nần, và được trở về với đời sống xã hội bình thường, được hưởng những thành quả do chính tay họ làm ra.
Thời các tiên tri cũng luôn quan tâm bênh vực người nghèo, nơi nào có tiên tri xuất hiện là nơi đó có cảnh giác sự giàu có, vì nó là mối nguy hiểm, làm cho con người lãng quên Thiên Chúa. “chúng bán người công chính để lấy tiền, bán kẻ nghèo khổ với giá một đôi giày” ( Am 1,6), đồng thời các ngài cũng chống lại những tệ nạn lạm dụng quyền lực xúc phạm đến người nghèo khổ là xúc phạm đến Chúa.
Trong các thánh vịnh cũng luôn nhắc đến sự nghèo khó, kẻ nghèo khó biết tin tưởng phó thác vào Chúa thì tâm hồn họ sẽ luôn được bình an “kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi cơn nguy khốn”.
Trong thời Tân Ước sự nghèo khó được thể hiện qua biến cố nhập thể và giáng sinh đã minh chứng cho chúng ta thấy được sự nghèo khó của Chúa Giêsu,  Ngài đã chấp nhận sinh hạ nơi máng cỏ khó nghèo, thời kỳ lớn lên Ngài lưu lạc khắp nơi và làm nhiều nghề để kiếm sống. Sự khó nghèo thể hiện trong Tin Mừng nổi bật nhất là trong Tin Mừng Matheu (Mt 6, 20) “con chồn có hang, chim trời có tổ con người khôn có chỗ tựa đầu”. Trong thư Phaolô: Người vốn giàu có nhưng đã trở nên nghèo hèn vì anh em, nhờ cái nghèo của Người anh em được trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). Sự nghèo khó còn được thể hiện qua sự vâng phục của Ngài: “Ngài vâng phục cho đến chết và chết trên Thập giá”. Qua đó cho chúng ta thấy Chúa Giêsu sống tinh thần nghèo khó cách tận cùng để chúng ta được nên giàu có, được đón nhận hạnh phúc. Nhìn vào đời sống nghèo khó của Chúa là động lực giúp cho những người sống đời tận hiến ngày càng biết kết hợp mật thiết với Chúa trong sự khó nghèo tự nguyện và thanh thoát với mọi của cải trần gian, hầu kiếm tìm hạnh phúc Nước Trời mai sau. Và biết tích trữ cho mình một kho tàng trên trời nơi mối mọt không thể phá hoại.
Sự  nghèo khó còn được thể hiện nơi gia đình Thánh Gia, nghèo khó cả tinh thần, vật chất, nhưng lúc nào gia đình cũng đầy ắp tiếng cười, sự quan tâm và tình yêu thương giữa mọi thành viên trong gia đình. Thánh Giuse là người đã sẵn sàng từ bỏ kế hoạch riêng của mình, để đáp lại tiếng Chúa gọi và hiến thân phục vụ cho chương trình cứu độ của Ngài.
 Sự nghèo khó được diễn tả bằng sự sẵn sàng từ bỏ những cám dỗ của thế gian, những thú vui hưởng thụ chiều theo tính xác thịt và cái tôi của mỗi người. Hơn bao giờ hết, đời tu luôn đòi hỏi người tu sĩ chọn lựa sống tinh thần nghèo khó. Cái nghèo mà người tu sĩ chọn lựa không những cái nghèo về vật chất mà cả tinh thần, tình cảm…. Trong thế giới hôm nay, lời khấn khó nghèo của người tu sĩ không chỉ giới hạn trong việc có hay không có của cải vật chất, hay việc sử dụng những đồ dùng có phép hay không có phép của Bề Trên, nhưng đòi hòi người tu sĩ sẵn sàng chia sẻ khả năng, sức lực, và những khả năng mà họ có được để làm sinh ích lợi cho muôn người mà họ có dịp gặp gỡ. Sự chia sẻ này luôn mang lại bình an và hạnh phúc khi người tu sĩ biết hoàn toàn phó thác đời sống của mình trong sự quan phòng và tin tưởng vào Thiên Chúa.
 Sự khó nghèo cũng được thể hiện trong đời sống huynh đệ: yêu thương quan tâm, đón nhận sự khác biệt của nhau, cùng nhau xây dựng tập thể, cộng đoàn ngày càng phát triển, cùng nhau thăng tiến trên con đường nhân đức.
Qua những gì đã chia sẻ trên đây cho ta thấy khi người tu sĩ sống nghèo khó thực sự tự do và tự nguyện bước theo Đức Kitô, là họa lại nếp sống của Ngài bằng chính đời sống và gương sáng của mình trong đời sống thường ngày. Vì vậy họ luôn hoàn toàn phó thác mọi sự trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, tâm hồn họ không còn vướng bận với mọi sự thế gian, chỉ lo tìm kiếm Chúa và những sự trên trời.

Sr. M. Jean Vianey

TRỞ NGẠI LỚN NHẤT CỦA TÌNH YÊU

Trở ngại lớn nhất để yêu mến Chúa là tính kiêu căng. Vì kiêu căng là thèm muốn cho mình được trổi vượt một cách quá đáng; trong khi đó Đức Ái lại khiến ta xem Chúa là đối tượng tối thượng cho mọi cố gắng của ta. Đang khi kiêu căng khiến ta co cụm lại với chính mình, thì Đức Ái lại gắn bó trí tuệ ta, trái tim ta, và ý chí ta với Chúa. Vì trực tiếp chống lại điều răn thứ nhất, nên tính kiêu căng là tội lớn nhất trong tất cả mọi thứ tội.
Kiêu căng là nguyên nhân căn bản của khuynh hướng biến cái tôi của mình, chứ không phải là Chúa Ki tô, thành trung tâm đời sống mình. Vì thế, Chúa đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ mình như là đặc điểm đầu tiên của những kẻ theo Ngài. Theo một nghĩa nào đó, sự hãm mình duy nhất mà chúng ta cần thực hiện là từ bỏ chính mình, vì cái tôi cá nhân đi ngược lại lề luật và tình yêu dành cho Chúa. Không gì phá hoại đời sống Chúa Kitô ở trong ta bằng tính kiêu căng.
Tính kiêu căng – một thứ tà giáo
Tính kiêu căng đúng là một thứ tà giáo, vì nó lấy chính bản thân mình làm thần tượng thay vào chỗ chỉ dành cho Chúa. Đó là sự tôn thờ quá đáng cái tôi của mình, vì nó coi cái tôi của mình như nguyên nhân đầu tiên và cũng như mục đích cuối cùng. Nó thúc đẩy ta tìm cách khoe những điều tốt của mình ra, đồng thời giấu kín những khiếm khuyết hay thất bại của mình. Nó cũng có thể xúi giục ta tìm cách hạ kẻ khác xuống vì sợ rằng họ sẽ làm giảm sự trổi vượt mà ta tưởng rằng mình đang có.
Nó làm ta đóng tai lại trước những lời phê bình, và đề nghị khách quan của người khác, nhưng lại thích lắng tai nghe những lời tán tụng mà nó hằng tìm kiếm. Nó khiến ta nhắm mắt lại không thấy được những nhân đức hay tài năng của người khác đang khi tất cả mọi người đều trông thấy rành rành và thán phục, nhưng nó lại khiến ta chú ý những khuyết điểm hay thất bại dù nhỏ nhất của họ. Bi đát hơn là nó khiến ta sống vì mình, chứ không phải vì Chúa. Đấy đúng là một sự tôn thờ bản thân một cách sai lầm!
Tính kiêu căng biến ta thành người vong ân
Tính kiêu căng cũng biến chúng ta thành những kẻ vong ân. Tại sao thế? Vì cứ sợ rằng người khác sẽ không công nhận những thành công hay do tài năng và đức độ của mình. Nên chúng ta cảm thấy rất miễn cưỡng khi phải công nhận sự thành công đó là nhờ Chúa. Thật ra, tất cả mọi sự tốt đẹp chúng ta có được đều xuất phát từ Thiên Chúa, chỉ có một điều duy nhất trong đời sống chúng ta mà Chúa không nhúng tay vào, đó là tội lỗi của chúng ta. Ngoài tội lỗi ra, thì có thứ gì khác chúng ta có được mà không nhận từ bàn tay Thiên Chúa không? Tính kiêu căng dường như làm ta không nhận ra chân lý cơ bản này.
Tính kiêu căng tạo ra một tế bào ung thư trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. Tế bào ung thư là tế bào hoạt động theo đường lối riêng của nó, nó từ chối không làm việc chung với những tế bào lành mạnh của thân thể. Tính kiêu căng của bất kỳ ai đều giống như bệnh ung thư luôn luôn gây tai hại cho sự sống của Nhiệm Thể Chúa Kitô, cản trở sự lưu thông của sự sống và tình yêu của Chúa Kitô là Đầu đến với các Chi Thể.
Tính kiêu căng ăn trộm vinh quang của Thiên Chúa
Cuối cùng, tính kiêu căng biến ta thành kẻ trộm, vì nó ăn trộm vinh quang vốn chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa mà thôi. Theo sự an bài của Chúa Quan Phòng, mọi sự mọi việc trong đời sống chúng ta cuối cùng đều nhắm đến làm vinh danh Thiên Chúa. Nhưng người kiêu căng lại dùng mọi cố gắng, tài năng để xây một giáo đường tôn thờ sự trổi vượt của mình. Do đó, họ là kẻ ăn cắp quyền lực, sự khôn ngoan và tình yêu của Thiên Chúa.
Hậu quả đáng buồn nhất của tính kiêu căng là sự tự phụ khiến cho người kiêu căng tự cho mình là rất quan trọng, quan trọng đến nỗi Chúa không thể loại họ ra khỏi nhãn quan của Ngài. Họ nghĩ rằng họ có thể cứu vớt linh hồn mình mà không cần phải thực sự từ bỏ chính mình, và có thể lên được thiên đàng mà không cần có đức trông cậy đích thực. Họ quên rằng họ phải đặt Chúa trong trái tim họ trước khi trái tim họ được lên đến Cõi Trời.
Chúa chống lại người kiêu căng thì có gì đáng ngạc nhiên không? Chúa không thể giúp người kiêu căng vì họ ở ngoài tầm giúp đỡ của Chúa. Chúa sẽ giúp họ chừng nào họ nhận ra hay cảm thấy họ cần Ngài. Họ bắt đầu trở lại với Chúa khi nào họ thành khẩn cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con là kẻ tội lỗi”. Chúng ta cũng phải cầu nguyện như vậy!
Trích: Nên Thánh Trong Thời Đại Mới
Tác giả: Kilian Mc Gowan, C.P
Người dịch: LM JBM Trần Minh Cương

NGƯỜI TRẺ NGÀY NAY

Một chủng sinh tôi mới quen biết, kể cho tôi nghe về hôm thầy dự một buổi tiệc tối thứ sáu ở trường đại học địa phương. Nhóm này gồm những thanh niên đại học trẻ tuổi, và anh bạn của tôi giới thiệu mình là một chủng sinh, một người nỗ lực để trở thành linh mục, và khấn hứa sống đời độc thân khiết tịnh. Khi nghe đến độc thân khiết tịnh, một số cười khúc khích, số khác giễu cợt, và nhiều lời đùa rằng anh sẽ phải bỏ mất biết bao nhiêu thứ trong đời. Thật là ngây thơ, tội nghiệp! Ban đầu, trong nhóm 8x9x này, niềm tin lòng đạo và những gì dẫn dắt anh chủng sinh muốn sống cuộc đời của mình, được xem là một chuyện vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Nhưng trước khi tàn tiệc, một vài cô gái trẻ đến, khóc trên vai anh và chia sẻ về sự thất vọng với việc bạn trai mình không thể hoàn toàn tận tâm trong mối quan hệ.
Điều này có thể cho chúng ta một mô tả về người trẻ trong thế giới thế tục hóa thời nay của chúng ta. Họ thể hiện cái gọi là tính cách lưỡng cực về đức tin, giáo hội, gia đình, luân lý tình dục, và nhiều đều khác quan trọng với họ.
Họ cho chúng ta một hình ảnh mâu thuẫn. Một mặt, nhìn chung, họ không đi lễ, ít nhất là không đều đặn, họ không giữ đạo đức Kitô giáo về tình dục, dường như lãnh đạm, và có khi thù địch với nhiều truyền thống quý báu trong đạo, và họ có thể thiển cận, không thể tin nổi khi nghiện ngập, và bị nô lệ hóa trong luồng thời thượng của thế giới giải trí, thời trang, và công nghệ thông tin. Nhìn từ phương diện này, đám trẻ của chúng ta có vẻ không có đạo, suy đồi đạo đức, và vùi đầu vào những thứ hời hợt của các show truyền hình, và trò chơi điện tử. Nghiêm trọng hơn nữa, các em còn có thể có vẻ thiển cận, tham lam, hư hỏng, và tư lợi quá đáng. Thật là một viễn cảnh không sáng sủa gì trước mắt chúng ta.
Nhưng không hoàn toàn chính xác như vậy. Trong hầu hết trường hợp, phía dưới bề mặt, các bạn sẽ thấy một con người dễ mến, chân thành, dịu dàng, thiện tâm, tử tế, đạo đức, quảng đại và tìm kiếm những gì đúng đắn (mà không có nhiều hỗ trợ từ một nền văn hóa thiếu chỉ hướng đạo đức rõ ràng, và đầy nguy cơ với quá nhiều chọn lựa). Tin tốt là, hầu hết người trẻ, với những khao khát thật nhất trong mình, hoàn toàn không xa lạ với Thiên Chúa, đức tin, giáo hội, và gia đình. Xét chung, người trẻ ngày nay vẫn là người tốt và muốn điều đúng đắn.
Nhưng, không phải lúc nào cũng rõ ràng như thế. Có khi vẻ ngoài dường như lấn át chiều sâu của người trẻ đến nỗi con người thật của các em, và những gì các em muốn không thật sự rõ ràng. Chúng ta thấy vẻ ngoài, và qua đó, thấy người trẻ có vẻ tư lợi hơn là quảng đại, hời hợt hơn là sâu sắc, bừa bãi hơn là nhạy bén về đạo đức, và lãnh đạm với đạo hơn là đầy đức tin. Người trẻ cũng thể hiện một sự tự phụ thiển cận, cho rằng mình khó mà bị tổn thương, và không cần bất kỳ ai khác hướng dẫn.
Mà chính vì thế, người trẻ đang trong tình trạng lưỡng cực. Hầu như, các em muốn những điều đúng đắn, nhưng quá thường xuyên vì thiếu sự hướng dẫn thực sự, và vì nền văn hóa bao quanh, mà người trẻ không đưa ra những chọn lựa đem lại những gì đúng với các khao khát sâu thẳm hơn trong lòng mình. Ví dụ hàng đầu là về tình dục. Các nghiên cứu trên giới trẻ 8x và 9x cho thấy hầu hết các em mong muốn cuối cùng có được một cuộc hôn nhân chung thủy một vợ một chồng. Vấn đề là các em cũng tin rằng trước hết mình có thể sống mười hay mười lăm năm tình dục tự thoải mái, mà không chấp nhận rằng mười hay mười lăm năm tình dục không phải là một chuẩn bị tốt cho sự chung thủy nâng đỡ hôn nhân và gia đình. Trong chuyện này, cũng như nhiều chuyện khác, các em bị kẹt giữa đặc nét văn hóa, và sự an toàn mỏng manh của mình. Văn hóa cứ xướng lên một đặc nét nhất định, giải phóng khỏi những tỉ mẩn của quá khứ, hoàn toàn tự mãn xem thường bất kỳ điều gì chất vấn nó. Nhưng nhiều sự tự mãn như thế thực sự đang sa vào bóng tối. Sâu bên trong, người trẻ của chúng ta khá dao động, và may thay, chính điều này giữ các em yếu đuối và dễ thương.
Có lẽ Louis Dupre, triết gia đã dạy tôi vài năm ở Yale, trình bày rõ nhất điều này khi ông nói rằng người trẻ ngày nay không xấu, chỉ là chưa hoàn thiện. Đây là một thấu suốt đơn giản mà nhiều ý nghĩa. Có người có thể rất tuyệt vời và dễ thương, nhưng vẫn thiếu chính chắn, chưa trưởng thành. Hơn nữa, nếu bạn đủ trẻ, như thế bạn có thể rất hấp dẫn, rất ngầu. Và ngược lại, thường cũng như thế. Nhiều người trưởng thành chúng ta, bị giày vò vì tính lưỡng cực của chính mình, khi chúng ta chính chắn trưởng thành, nhưng lại không tuyệt vời và dễ thương. Điều này gây nên những song đề nghịch lý.
Vậy người trẻ ngày nay thực sự là thế nào? Là con người luôn luôn gói kín trong thế giới của riêng mình, bị ám ảnh về ngoại hình, ham mê đến nghiện truyền thông xã hội, sống ngoài hôn nhân, tự mãn thiển cận về đạo đức phi truyền thống và quan điểm tôn giáo của mình ư? Tôi tin rằng, đó chỉ là mặt bề ngoài. Người trẻ ngày nay thực sự đầy nồng hậu, thiện tâm, quảng đại và mong đợi có ý thức một tình yêu và kết ước, cũng như mong đợi trong vô thức được Thiên Chúa ôm vào lòng.
Rev. Ron Rolheiser, OM

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN - C

Tin Mừng Chúa Nhật 22 Thường Niên C xoay quanh đề tài Đức Giêsu phê phán những người Pharisêu về thói đạo đức giả, thích phô trương, thích được người ta trọng vọng. Hôm nay, ngay tại bàn ăn trong nhà của chính họ, Người cũng phê phán sự cao ngạo của họ bằng một dụ ngôn.
Nội dung dụ ngôn đó là: Nếu các thực khách tự chọn chỗ ngồi rốt hết, thì ông chủ sẽ mời họ lên chỗ nhất và ngược lại.
Những người Pharisêu là những người thích chọn chỗ nhất. Họ luôn tự đánh giá mình là hạnh kiểm loại "A". Trước mặt Thiên Chúa, họ kể lễ dài dòng những "thành tích" đạo đức của mình. Trước mặt người khác, họ coi thường và cho mình "quyền được hơn người khác".
Nhưng trong vương quốc của Thiên Chúa thì khác: trật tự hiện nay sẽ bị đảo lộn; những chỗ tốt nhất là do Thiên Chúa ban như một quà tặng, chứ không do con người tự chọn cho mình. Như thế, con người có là chi trước mặt Thiên Chúa. Họ cần cúi mình xuống - khiêm tốn.
Khiêm tốn đích thực là nhìn nhận thực tế những gì mình hiện có và mình là. Khiêm tốn đích thực là dám chấp nhận những gì mình có chỉ là hồng ân của Thiên Chúa. Khiêm tốn đích thực sẽ mang lại niềm vui, bình an. "Tất cả là hồng ân" (thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu).
Đức Giêsu còn đưa ra một lời khuyên nghịch lý: "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối... hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù". Không thể hiểu câu này theo nghĩa đen, nhưng cần hiểu theo một nghĩa sâu xa hơn, tức là về các mối tương quan xã hội khác nhau của mỗi người chúng ta.
Thực vậy, mỗi người chúng ta thường được người khác đánh giá qua đẳng cấp xã hội, tiền tài, nghề nghiệp... Đó là "môi trường" bao chung quanh một người. Chính những "môi trường" này đã phân chia con người làm nhiều hạng, loại trong cùng một xã hội. Những người cùng một "môi trường" như nhau thường liên kết, giao du với nhau. Từ đó, sự phân cách trở nên ngày càng lớn. Chúng ta thường bị điều kiện hóa bởi "môi trường" của mình. Điều này thường ngăn cản chúng ta không mở rộng vòng tay, tấm lòng tới tất cả mọi người không phân biệt một ai. Đức Giêsu đến để phá đổ những bức tường ngăn cách giữa con người với nhau. "Không còn Do Thái hay Hy Lạp, không còn nô lệ hay tự do" (Gl 3,28), không còn người giàu hay người nghèo, thánh nhân hay người tội lỗi. Tất cả mọi người đều phải có chỗ trong con tim của chúng ta, nhất là những người yếu đuối, bất hạnh, tàn tật... Sự khiêm tốn đích thực là nhìn nhận mình chẳng là gì hết trước mặt Thiên Chúa, cho dù mình có thuộc về một "môi trường sống" cao hay thấp; đồng thời nhìn nhận mọi người là anh chị em cùng một Cha trên trời.
Nơi bàn tiệc Thánh Thể chúng ta tham dự mỗi ngày, không có chỗ nhất hay chỗ bét, chỗ ưu tiên, dành riêng cho tùy loại người. Tất cả đều được Thiên Chúa tiếp đón như những người con và như những người anh em của Đức Giêsu. Đời sống người kitô hữu là một bàn tiệc Thánh Thể, thánh lễ kéo dài. Thánh lễ là cuộc đời và cuộc đời là thánh lễ. Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi tham dự bàn tiệc Thánh Thể cùng với anh chị em mình trong Đức Giêsu Kitô. Điều cần thiết là biết nhận ra chính mình trong tương quan với Thiên Chúa và với anh chị em mình.
Phải chăng chúng ta nhận ra chính mình chẳng là gì trước mặt Thiên Chúa? Phải chăng chúng ta nhìn nhận mọi người là anh chị em, cùng một Cha trên trời?
Lạy Chúa, Chúng con hiểu rằng tự sức mình chúng con chẳng làm được gì. Tất cả những gì chúng con có được chỉ là hồng ân. Xin cho chúng con khiêm tốn đủ để cho phép người khác giúp đỡ mình, đồng thời cũng cởi mở đủ để người khác có thể tìm thấy nơi chúng con một sự tương trợ khi họ cần đến.
Lm. An Phong


HAI VIÊN GẠCH XẤU XÍ

Đến một miền đất mới, các vị sư phải tự xây dựng lại mọi thứ, họ mua đất, gạch, cát, đá, vữa . . .và bắt tay vào việc.  Một chú tiểu được giao việc xây dựng một bức tường gạch, chú rất tập trung vào công việc, chú luôn kiểm tra xem viên gạch đã đặt thẳng chưa, hàng gạch có ngay ngắn không? Công việc tiến triển khá chậm, vì chú đặc biệt kỹ lưỡng, tuy nhiên chú không lấy đó làm phiền lòng, vì chú biết chú đang xây bức tường tuyệt đẹp đầu tiên trong đời.
Cuối cùng chú cũng hoàn tất công việc, khi hoàng hôn buông xuống. Đứng ra xa, chú ngắm nhìn công trình lao động của mình, chợt chú nhận thấy có điều gì đó không ổn trong công trình. Mặc dù đã rất cẩn thận xong có 2 viên gạch đã bị đặt nghiêng, và điều tồi tệ nhất là 2 viên gạch đó lại nằm giữa bức tường. Chúng như đôi mắt trừng trừng nhìn chú. Kể từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền, chú tiểu dẫn họ đi khắp nơi, trừ bức tường mà chú xây dựng.
Một hôm, có 2 vị sư già đến thăm ngôi đền, chú tiểu dẫn 2 vị đi khắp nơi, và lái sang những chỗ khác. Song 2 vị sư già cứ nằng nặc đòi đến khu vực bức tường mà chú tiểu xây dựng. Đứng trước bức tường, một trong 2 vị mới thốt lên: Ôi bức tường mới đẹp là sao!
Hai vị nói thật chứ?  Hai vị không thấy 2 viên gạch xấu xí ngay giữa bức tường kia ư?  Chú tiểu kêu lên trong ngạc nhiên.  “Có chứ! Nhưng chúng tôi cũng thấy 998 viên gạch còn lại đã ghép lại thành bức tường tuyệt vời ra sao” vị sư già từ tốn.
Đôi khi chúng ta quá nghiêm khắc với chính bản thân mình cứ luôn nghiền ngẫm với những gì mà ta đã mắc phải, cho rằng cả thế giới đều nghĩ đến nó và quy trách nhiệm cho ta. Chúng ta đã quên rằng đó chỉ là 2 viên gạch xấu xí trong 998 viên gạch hoàn hảo.
Đôi khi chúng ta lại cũng quá nhạy cảm với những lỗi lầm của người khác. Khi gặp ai mắc lỗi, ta nhớ từng chi tiết và mỗi khi ai đó nhắc đến họ là ta liên hệ ngay đến những lỗi lầm của họ  mà quên bẵng những điều tốt đẹp họ đã làm.
Tôi và bạn cần học cách rộng lượng với những người khác.

http://hatgiongtamhon.com/