HÃY NHÌN SÂU HƠN

Đôi khi bạn có thể thấy rất nhiều điều chỉ bằng một cái nhìn. Đây là một trong những câu nói lừng danh của danh thủ bóng chày Yogi Berra. Đây tất nhiên là một diễn đạt rất khéo, nhưng đáng buồn là, có lẽ gần như mọi chuyện lại trái ngược. Hầu như chúng ta nhìn rất nhiều mà chẳng thực sự thấy được bao nhiêu. Thấy có nhiều ý nghĩa hơn là có một thị lực tốt. Đôi mắt chúng ta có thể mở rộng nhưng chúng ta cũng có thể chỉ thấy được rất ít.

Tôi luôn luôn suy ngẫm về hình ảnh thánh Phaolô trong Kinh Thánh nay sau khi ngài hoán cải. Chúng ta luôn cho rằng thánh Phaolô bị mù vì thị kiến mình thấy, nhưng, theo tôi, bản văn Kinh Thánh còn ngụ ý xa hơn nữa. Kinh Thánh viết rằng Phaolô bò dậy với đôi mắt mở to, nhưng không thấy gì. Điều này không nhất thiết phải là chứng mù thể lý. Có thể ngài thấy được về mặt thể lý, nhưng không thể thấy được ý nghĩa những gì trước mắt mình. Phải có người đến và mở mắt Phaolô, không phải chỉ để ngài lại có thể nhìn thấy về mặt thể lý, nhưng đặc biệt là ngài có thể thấy sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa Kitô. Nhìn thấy, thực sự thấy, mang nhiều nghĩa hơn là có đôi mắt lành lặn về thể lý và mở to. Chúng ta tất cả đều thấy vẻ ngoài của sự vật sự việc, nhưng cái bên trong ẩn dưới đó, thì không tự động mà thấy được.

Nhìn sâu hơn

Ví dụ như, chúng ta thấy điều này trong các phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu nhiều lần làm phép lạ chữa lành. Ngài chữa lành người què, người điếc, người câm, người cùi, và hai phụ nữ vì các lý do khác nhau mà không thể mang thai. Điều quan trọng phải thấy nơi những phép lạ khác nhau này, là hầu như luôn có có một sự gì đó cao hơn sự chữa lành thể xác. Chúa Giêsu đang chữa lành cho người ta theo một cách thâm sâu hơn, ngài đang chữa lành người què để họ có thể bước đi trong tự do và phụng sự Thiên Chúa. Ngài chữa lành người điếc để họ có thể nghe thấy Tin Mừng. Ngài chữa lành người câm để họ có thể mở miệng chúc tụng tôn vinh. Và Ngài chữa lành những người son sẻ để họ có thể đem sự sống mới sinh sôi.

Chúng ta thấy điều này gần như rất rõ ràng những khi Chúa Giêsu chữa lành những người mù. Ngài cho họ không chỉ là cái nhìn thể lý, ngài mở mắt họ để họ có thể nhìn sâu hơn. Nhưng đây chỉ là một hình tượng. Làm sao giải nghĩa cho thấu đáo đây? Làm sao ân sủng và giáo huấn của Chúa Giêsu giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc hơn đây? Tôi xin đưa ra một số gợi ý:

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua những gì quen thuộc đến nhìn qua sự kinh ngạc kỳ vỹ.
G.K Chesterton từng khẳng định rằng sự quen thuộc là ảo ảnh lớn nhất và bí mật cuộc đời là học biết nhìn vào những gì quen thuộc cho đến khi chúng trở lại thành không quen thuộc. Chúng ta mở đôi mắt mình hướng đến chiều sâu khi mở lòng mình ra với kinh ngạc kỳ vỹ.

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua hoang tưởng và tự vệ đến nhìn qua sám hối và vun đắp.
Không ngẫu nhiên khi lời đầu tiên của Chúa Giêsu trong các Phúc Âm tóm lược là từ ‘sám hối’ một từ đối lập với ‘hoang tưởng’. Chúng ta mở mắt mình ra hướng đến chiều sâu, khi chúng ta chuyển vần từ tư thế tự vệ đến một tư thế vun đắp.

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua sự ghen tỵ đến nhìn qua sự ngưỡng mộ.

Nhận thức của chúng ta trở nên méo mó bất kỳ lúc nào chúng ta đi từ trạng thái hạnh phúc của ngưỡng mộ đến trạng thái bất hạnh của ghen tỵ. Tầm nhìn của chúng ta được thoáng đãng rõ ràng khi chúng ta vui mừng trong ngưỡng mộ.

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua chua cay đến nhìn qua đôi mắt được thanh luyện và mềm dịu bởi thương tâm.

Cội rễ của chua cay là thương tích và cách để thoát khỏi chua cay là thương tâm. Nước mắt gột sạch tầm nhìn của chúng ta bởi nước mắt làm mềm đi trái tim bị chai cứng bởi tổn thương.

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua ảo tưởng và ái kỷ đến nhìn qua cảm kích và cầu nguyện.

Một trong những chuyển vần then chốt trong đời sống tâm linh của chúng ta là sự chuyển vần từ ảo tưởng sang cầu nguyện, một chuyển biến tận cùng giải thoát chúng ta khỏi mong muốn nén vào bản thân mình tất cả những gì đẹp đẽ, nhưng biết cảm kích vẻ đẹp vì chính nó mà thôi. Chúng ta chỉ có thể thấy và cảm kích vẻ đẹp khi ngừng ham muốn nó.

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua tính toán đến nhìn qua sự chiêm ngắm.

Khát khao muốn được có vị thế khiến chúng ta nhìn ra thế giới với đôi mắt khắc khoải, bất mãn. Chúng ta chỉ biết để tâm và thấy được sự phong phú của thời khắc hiện tại khi sự bất an trong chúng ta được xoa dịu làm thinh bởi cô tịch.

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua giận dữ đến nhìn qua sự tha thứ.
Không một điều gì làm hoen ố tầm nhìn của chúng ta cho bằng cơn giận. Nó là thứ bệnh gây suy nhược nhất với mọi nhãn cầu. Và không điều gì tẩy sạch tầm nhìn của chúng ta cho bằng tha thứ. Không một ai mang ác cảm trong lòng mà lại nhìn cho công thẳng được.

Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua dục vọng và thèm khát đến nhìn qua lòng biết ơn.
Dục vọng và thèm khát bóp méo cái nhìn của chúng ta. Lòng biết ơn phục hồi cái nhìn đó. Lòng biết ơn cho cái nhìn thấu suốt. Người có lòng biết ơn nhất mà bạn biết, có cái nhìn tốt nhất về tất cả những người mà bạn biết.

“Tình yêu là đôi mắt!” Vậy nên, lời khôn ngoan này của các nhà thần nghiệm trung cổ, có lẽ nên được thêm vào tự điển y khoa về khoa đo thị lực hiện thời. Nhìn sao cho thẳng, cho đúng, cho thật, có nhiều chiều kích hơn chúng ta thường tưởng.

RonRolheiser, OMI


CHÚA NHẬT II PHỤC SINH - C

Niềm tin vào Chúa Phục Sinh khởi đi từ sự kiện mồ trống. Trong ngày thứ nhất trong tuần, các bà đạo đức phát hiện thấy mồ trống nên chạy về báo tin cho các môn đệ Chúa Giêsu về những điều xẩy ra xung quanh ngôi mộ. Hai môn đệ Gioan và Phêrô cùng chạy ra mộ Chúa. Phêrô đi vào trong mộ và chứng kiến những tấm khăn liệm và dây băng cuốn xác Chúa được gấp cuộn hẳn hoi. Chứng kiến sự kiện này, thánh Gioan thuật lại niềm tin của các môn đệ: Các ông đã thấy và đã tin rằng Chúa đã sống lại. Tuy nhiên, tin Chúa phục sinh nơi các môn đệ không dừng lại nơi sự kiện mồ trống, Chúa còn cho họ gặp Ngài nhiều lần bằng việc hiện ra với họ. Chúa Nhật II PS nhấn mạnh khía cạnh khác của đức tin: đó là con đường tiếp nhận Chúa qua việc Ngài hiện ra. Như vậy, đức tin vào Chúa Phục Sinh vừa được xây dựng trên sự kiện lịch sử (mồ trống), vừa trên sự gặp gỡ tiêp xúc siêu nhiên. Chúa hiện ra hôm nay hoàn toàn thần thiên, vì cửa đóng then cài mà Ngài vẫn xuất hiện giữa các ông. Sau khi từ cõi chết sống lại, Chúa Giêsu đi vào trong cõi thần thiên, Ngài không còn bị lệ thuộc thời gian và không gian nữa. Thánh Gioan cho biết, Chúa hiện ra vào ngày thứ nhất trong tuần và lại hiện ra vào “Tám” ngày sau, và đều hiện ra vào lúc các môn đệ đang hội họp. Các môn đệ hội họp vào ngày thứ nhất trong tuần, chính là ngày chúa nhật, ngày Giáo Hội mừng ngày Chúa Phục Sinh. Việc các môn đệ hội họp trong ngày ấy, chính là cử hành bí tích thánh thể. Cử hành bí tích thánh thể là cách cụ thể hiện tại hóa của tử nạn và phục sinh của Chúa, nên các môn đệ được tiếp xúc với chính Chúa. Các dấu đinh ở tay, chân và cạnh sườn, chính là lời tuyên xưng của Giáo Hội vào mầu nhiệm thánh thể. Qua cử hành thánh thể, Chúa Giêsu thực hiện cuộc thương khó và phục sinh của Người các bí tích trên bàn thờ. Trong việc cử hành thánh thể, các tông đồ gặp gỡ đấng phục sinh và nhờ đó đức tin các ngài được củng cố và gia tăng. Ngày nay, cũng một thể thức ấy, Giáo Hội cử hành thánh thể nhằm tái diễn cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa. Giáo Hội tin rằng Chúa hiện diện cách đích thực trong bí tích thánh thể và chính tại nơi đây Ngài ban thêm đức tin cho chúng ta. Nghe Lời Chúa và cử hành mầu nhiệm thánh thể hằng ngày của cộng đoàn chúng ta là cách tích cực nhất để gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh, nhờ đó đức tin của mỗi người chúng ta mạnh mẽ thêm. Ước gì mỗi người chúng ta luôn ý thức sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu nơi bí tích thánh thể, mà siêng năng cử hành và rước mình máu thánh Ngài để mỗi ngày chúng ta được lớn lên đạt tầm vóc viên mãn của Đức Kitô, nhờ đó chúng ta luôn được ơn an bình của Chúa Phục Sinh, đồng thời có nhiệt huyết tông đồ lên đường làm chứng cho Chúa trước mặt mọi người, để cả thế giới được hương ơn phục sinh của Chúa. Xin được chọn câu Lời Chúa: Phúc cho những ai đã không thấy mà tin, làm châm ngôn cho ngày sống hôm nay để luôn ý thức sự hiện diện của Chúa nhờ đó đức tin của chúng ta mỗi ngày được mạnh mẽ và sốt sáng hơn. Amen Lm Giuse Phạm Ngọc Khuê

CHÚA NHẬT PHỤC SINH - C

Thế là cuối cùng, sau bao ngày chịu bắt bớ, xét xử, vu cáo, chịu đòn vọt rách nát thịt da, chịu vác thánh giá nặng nề tiến lên núi sọ trong khi sức tàn lực kiệt ngã lên té xuống nhiều lần, rồi lại phải chịu đóng đinh thân mình rất đỗi đau thương vào thập giá... Chúa Giêsu đã gục đầu tắt thở và được mai táng trong mồ. Tảng đá lấp cửa mồ đã đóng lại, đóng lại lịch sử một đời người đã làm những việc diệu kỳ. Cuối cùng, ngôi mộ đá được đóng lại, chôn vùi một Con Người tưởng là sẽ đem lại niềm hy vọng cho Israel.
Thế là hết! Còn đâu nữa những ngày nắng đẹp Ngài ngồi trên núi giảng bài tám phúc giữa đám đông quần chúng. Còn đâu nữa những buổi chiều trong hoang địa Ngài hoá bánh ra nhiều nuôi trên năm ngàn người ăn. Còn đâu nữa vị ngôn sứ oai hùng quát bảo cho sóng yên biển lặng. Còn đâu nữa Con Người làm cho kẻ chết đội mồ sống lại, người phong hủi được chữa lành, người câm được nói, người điếc được nghe... Còn đâu nữa vị ngôn sứ đầy quyền năng trong lời nói và hành động phán bảo những điều đem lại phấn khởi cho bao người...
Đức Giêsu đã chết thật rồi, chẳng còn hy vọng gì nữa. Những môn đệ thân tín sau khi hoàn tất việc an táng Thầy thân yêu, giờ đây ra về trong u sầu tuyệt vọng. Mọi sự như chìm vào tang tóc đau thương.
Thế rồi điều kỳ diệu xảy ra: qua ngày thứ ba, từ lúc tờ mờ sáng, Maria Madalêna đi viếng mộ ngay từ sáng sớm cho vơi bớt đau thương. Tới nơi, bà hoảng hồn vì mồ đá mở toang. Nhìn vào bên trong không còn thấy thi hài của Thầy đâu nữa. Bà hoảng hốt chạy về báo tin cho các môn đệ. Các môn đệ ra tận nơi xem xét ngôi mộ trống và rồi sau đó lại ngỡ ngàng gặp gỡ Chúa phục sinh. Niềm vui tràn ngập cõi lòng. Bấy giờ các ngài mới biết là Chúa Giêsu đã sống lại. Ngôi mộ đá tưởng là nơi chôn vùi, nơi xoá sổ cuộc đời Thầy dấu ái, là điểm tận cùng của Chúa Giêsu nay đã trở thành khởi điểm cho một đời sống mới, thành tảng đá đầu tiên xây dựng Vương Quốc trường sinh.
Hôm nay, từ ngôi mộ trống và qua những lần hiện ra với các môn đệ sau khi phục sinh, Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy Ngài là Sự Sống lại và là Sự Sống như đã từng khẳng định với chị em Mác-ta và Maria: "Ta là sự sống lại và là sự sống! Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Và bất cứ ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ."
* * *
Từ thời nguyên tổ phạm tội đến nay, tội lỗi thống trị và huỷ diệt sự sống con người. Con người vừa được sinh ra là đã mang án chết, như hoa còn đang nụ mà đã chớm lụi tàn, như nhộng chưa thành bướm mà đã phải tiêu vong... Mầm mống chết chóc hiện diện ngay giữa lòng cuộc sống và một sớm một chiều sẽ phá huỷ sự sống đi. Lưỡi hái tử thần như đang kề cổ mọi người và cướp đi sinh mạng của mọi người chẳng trừ ai.
Thế rồi qua sự phục sinh vinh hiển, Chúa Giêsu đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của sự sống vĩnh hằng. Ngài đã thắng sự chết. Thần Chết phải buông khí giới quy hàng. Loài người không còn phải bị tiêu diệt bởi lưỡi hái tử thần nhưng đã được cứu sống bởi quyền lực của Chúa Giêsu phục sinh. Sự sống đã được khai thông. Cái chết đã bị đẩy lùi. Ngôi mộ không còn là điểm tận cùng của kiếp người nhưng là khởi điểm cho một đời sống mới. Cái chết không còn là dấu chấm hết của cuộc đời nhưng là khúc dạo đầu cho bản giao hưởng trường sinh. Sự phục sinh của Chúa Giêsu đã xoá đi đêm dài tăm tối của kiếp sống đau thương để làm bừng lên bình minh của cuộc đời vĩnh cửu.
Xin mọi người hãy đến cùng Chúa phục sinh để đón nhận cuộc sống hồng phúc Ngài ban tặng.
Lm. Ignatiô Trần Ngà


THỨ BẢY TUẦN THÁNH - SỨ ĐIỆP BÊN MỒ

Đêm nay Giáo hội gọi là đêm Canh Thức Vượt Qua, nghĩa là chúng ta cùng canh thức để được “Vượt Qua” với Đức Kitô. Chúng ta tham dự vào Tam Nhật Thánh, đặc biệt trong đêm cực thánh này là để mong muốn cho chính bản thân mình, cũng như cầu chúc cho những người thân của mình có được sự đổi mới và sự sống mới. Khi chúng ta có được sự sống mới, khi chúng ta được đổi mới là chúng ta được “Vượt Qua”, vượt qua cái chết, vượt qua tội lỗi, vượt qua những cái cũ kỹ của bản thân mình…
Biểu tượng của cái chết, biểu tượng của những gì cũ kỹ được diễn tả qua ngôi mộ. Hình ảnh ngôi mộ trống cho chúng ta thấy Đức Kitô đã vượt qua cái chết, vượt qua những gì là cũ kỹ, xấu xa để đưa chúng ta vào một kỷ nguyên mới, vào sự sống mới.
Đứng trước ngôi mộ trống của Đức Giêsu đêm nay tôi nhận ra được 2 sứ điệp mà tôi gọi là sứ điệp bên mồ.
I.                   PHẦN THƯỞNG CHO NHỮNG AI DÁM YÊU
Sứ điệp thứ nhất: Tin mừng viết cho chúng ta “các bà” là những người đầu tiên được gặp gỡ Đấng Phục Sinh. Do đâu họ được diễm phúc đó? Thưa vì họ là những người đã có mặt bên thập giá của Chúa Giêsu, có mặt khi Chúa được đặt vào trong phần mộ để chôn cất, và giờ đây họ đang lãnh phần thưởng của tình yêu.
Có lẽ trong các phụ nữ theo Chúa Giêsu, hai cô gái này là những người yêu Chúa nhiều nhất. Tại sao vậy? Vì họ là những người được Chúa thông cảm và tha thứ nhiều nhất. Theo Thánh Luca thì Mađalêna là người phụ nữ bị quỷ ám, đã được Chúa chữa khỏi khi bà tìm gặp Người: “Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mađalêna, người được giải thoát khỏi bảy quỷ” (Lc 8, 2). Kinh thánh không hề viết Mađalêna là một cô gái điếm, mà chỉ nói cô là người được Chúa Giêsu “giải thoát khỏi bảy quỷ”. Nghĩa là cô là một con người tội lỗi rất nhiều được Chúa Giêsu tha thứ và chữa lành. Nếu chỉ đơn giản là cô gái điếm thì chỉ có một tội, đằng này cô được Chúa trừ tới bảy quỷ, tức là nhiều tội lắm.
Maria còn lại là ai? Rất có thể đó là Maria đã xức dầu thơm và lấy chính tóc của mình mà lau chân Chúa khi Ngài đang dũng bữa tại nhà ông Simon. Thánh Luca cho chúng ta biết: “Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisiêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7, 36-38). Trước hành động khó hiểu của Maria và thái độ khó chịu của ông Simon, Chúa Giêsu đã nói: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha” (Lc 7, 47).
Chính vì đón nhận ơn tha thứ của Chúa Giêsu mà họ đã một lòng theo Chúa, chẳng những trên bước đường rao giảng, mà còn cả trong hành trình thương khó. Vì lẽ đó mà họ được diễm phúc thấy Đấng Phục Sinh đầu tiên. Đây chính là phần thưởng cho những ai dám yêu và theo sát gót Đức Giêsu.
II.               SỨ MẠNG CHO NHỮNG NGƯỜI DÁM SỐNG
Sứ điệp thứ hai mà tôi nhận được nơi ngôi mộ trống trong đêm cực thánh này là sứ mạng của Đấng Phục Sinh dành cho những ai dám sống vì yêu.
1.      Hãy tin:
Sứ mạng đầu tiên là hãy tin. Những lời của Thiên sứ nói với 2 người phụ nữ hôm nay nhằm nhắc lại lời hứa của Chúa Giêsu khi còn sống: “Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói” (Mt 28, 6a). Lúc này hai người phụ nữ mới nhớ lại chính Thầy mình đã nói những điều đó. Kế đến, Thiên sứ còn kêu họ đến ngôi mộ trống để kiểm chứng: “Các bà đến xem chỗ người đã nằm rồi mau về nói với các môn đệ” (Mt 28, 6b). Mỗi lời nói của Thiên sứ là một lời mời gọi họ hãy tin vào những điều Chúa Giêsu đã nói, vì đó là sự thật.
2.      Hãy loan báo:
Sứ mạng kế tiếp mà Đấng Phục Sinh muốn trao cho hai người phụ nữ trong bài Tin mừng hôm nay là hãy mau mắn loan báo Tin mừng Phục Sinh: “Mau về nói với các môn đệ” (Mt 28, 7); “Về báo tin cho anh em của Thầy” (Mt 28, 10)… Khi họ đã khám phá ra Chúa Giêsu Phục Sinh, họ được thúc giục phải chia sẻ cho người khác.
3.      Hãy vui mừng:
Sứ mạng thứ 3 mà Đấng Phục Sinh trao cho 2 cô Maria là hãy vui mừng. Lời chào của Đấng Phục Sinh dành cho 2 người phụ nữ hôm nay là “Chairete”! Nó không chỉ đơn giản là một lời chào thông thường, mà nó còn có nghĩa: “Hãy vui mừng lên!” Ai gặp gỡ Đấng Phục Sinh sẽ sống mãi trong niềm vui, vì từ nay không gì có thể làm họ buồn được, dù đó là gian truân, thử thách, và thậm chí là cái chết.
Sứ điệp bên mồ đó không chỉ dành riêng cho 2 cô Maria, mà còn dành cho mỗi chúng ta, những người đang canh thức Vượt Qua với Chúa.
III.            SỨ ĐIỆP CHO NHỮNG NGƯỜI ĐANG CANH THỨC
Sứ điệp đó trước hết là chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Đứng bên cạnh ngôi mộ Chúa, chúng ta không chỉ xúc động theo cảm xúc của con tim khi chứng kiến cái chết của người thân, mà chúng ta còn phải rung động vì tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người quá sức tưởng tượng, tình yêu mà không có cảm xúc nào có thể tả xiết. Đối với Thiên Chúa, dám yêu là dám hạ mình xuống. Đó chính là mầu nhiệm Nhập Thể mà Thánh Giá là cao điểm của chứng từ yêu thương.
Tình yêu thương đó được tiếp nối trong sự tha thứ. Mađalêna bị tới “bảy con quỷ” nhập. Tức là trong bảy mối tội đầu, tội nào bà cũng có. Có thể nói bà là đại diện cho những người tội lỗi, chứ không phải chỉ là một cô gái điếm như chúng ta từng biết. Hay Maria là một người tội lỗi công khai trong thành chứ không phải chỉ là những tội thầm kín như chúng ta tưởng… Ấy vậy mà Chúa tha hết. Sao Chúa tha thứ dễ quá vậy? Như vậy mới là Thiên Chúa. Tuy nhiên, phải suy xét cho kỹ. Thiên Chúa không cần điều kiện gì, nhưng để được tha thì con người phải có tấm lòng thành hướng đến Thiên Chúa. Nếu tình yêu của Thiên Chúa là hạ mình xuống, thì tình yêu của con người phải là vươn mình lên để sự phàm tục của con người chạm tới được sự thánh thiêng của Thiên Chúa.
Khi chúng ta được Thiên Chúa yêu thương tha thứ cũng là lúc Chúa cho chúng ta được gặp gỡ Ngài. Điều đó không phải một sớm một chiều chúng ta có được, mà nó phải là một hành trình để chúng ta ý thức mình tội lỗi, ăn năn sám hối và đón nhận ơn tha thứ. Và lại tiếp tục là cuộc hành trình vì không phải chúng ta được tha một lần cho tất cả, mà phải là liên lỉ trong suốt cuộc đời mỗi khi mình yếu đuối, phạm tội. Đó chính là hành trình vác thập giá, đứng dưới chân thập giá, chôn cất con người cũ của mình, thì mới mong được gặp Chúa, chính là con người mới của chúng ta.
II. SỨ MẠNG CHO NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC ĐỔI MỚI
Khi gặp gỡ Đấng Phục Sinh, chúng ta cũng được Ngài trao cho sứ mạng. Sứ mạng này cũng là để cho những ai muốn được gặp gỡ Đấng Phục Sinh.
1. Hãy tin:
Sứ mạng đó trước hết là hãy tin vào Chúa dù cho mọi biến cố của cuộc đời. Có nhiều người chỉ tin tưởng trong những lúc thuận lợi, chỉ sống đạo trong những lúc hăng hái, chỉ giữ đạo trong những lúc rãnh rang, chỉ đến nhà thờ khi thấy mình đầy đủ về tài chánh… Nghĩa là trong những lúc gian nan, thử thách, khó khăn, bận rộn, nghèo khổ… thì người ta không còn tin tưởng vào Chúa nữa. Muốn thấy Chúa Phục Sinh thì phải đi cùng với Chúa trên con đường khổ nạn.
Như vậy sứ mạng “hãy tin” đòi hỏi chúng ta một sự liên lỉ để nhìn thấy Chúa ngay cả trong những lúc đêm tối của cuộc đời. Và quả thật, những người tin tưởng một cách tuyệt đối thì không gì có thể ngăn cản họ đến với Chúa.
2. Hãy loan báo:
Sứ mạng kế tiếp của Đấng Phục Sinh là hãy loan báo cho người khác biết Tin mừng mình đã lãnh nhận. Ơn cứu độ không chỉ dành riêng cho một cá nhân nào, mà phải loan đi “đến tận cùng trái đất”, nghĩa là ở bất cứ nơi nào chúng ta hiện diện.
Sứ mạng loan báo Tin Mừng này thúc giục những người chồng hoặc những người vợ đang sống đức tin phải nhắc nhở, động viên cho người bạn đời của mình nếu như họ chưa sống tốt Tin Mừng Phục Sinh. Rất nhiều những đôi vợ chồng mà một bên không Công giáo theo một bên Công giáo. Chúng ta phải cám ơn Chúa, cám ơn những người chồng, những người vợ đã được gặp Chúa nhờ người bạn đời của mình. Đồng thời đó cũng là trách nhiệm cho bên Công giáo phải tiếp tục dẫn dắt người bạn đời của mình trong đức tin mà mình đã gieo cho họ. Lắm lúc chúng ta phải chấp nhận hy sinh, hạ mình nhiều hơn họ vì đức tin của chúng ta. Thành thật nhìn lại thì có nhiều gia đình mà người chồng hoặc người vợ “đạo gốc” sống đạo chưa tốt, huống hồ chi đến chuyện nhắc nhở, lôi kéo người bạn đời là người theo đạo của mình? Trớ trêu thay, có những người chồng, người vợ theo đạo chúng ta mà họ lại sống tốt, giữ đạo đàng hoàng; điều đó khiến cho những người chồng, những người vợ “đạo gốc” phải suy nghĩ lại.
3.      Hãy vui mừng:
Sứ mạng cuối cùng của Đấng Phục Sinh là hãy vui mừng. Những ai sống gắn bó với Chúa thì không gì có thể khiến họ buồn phiền vì họ biết rằng niềm vui Phục Sinh là động lực và cùng đích cuộc đời của họ.
Sự khác biệt giữa người có đức tin và người không có đức tin là ở chỗ chúng ta luôn luôn bình an trong mọi cảnh huống của cuộc đời.
Tóm lại đứng bên ngôi mộ trống của Chúa đêm nay chúng ta nhận được hai sứ điệp. Sứ điệp thứ nhất là muốn được Phục Sinh với Chúa thì phải gắn bó với Ngài. Sứ điệp thứ hai là Đấng Phục Sinh trao cho chúng ta sứ mạng phải tin, phải loan báo và phải vui mừng.

“Vì Chúa đã Phục Sinh, nên con tin vào quyền năng của Ngài, sẽ đổi mới, thế gian này, đổi mới mọi sự từ đây”.
Lm Giuse Trực

THỨ SÁU TUẦN THÁNH - HOÁN CẢI ĐỂ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG

Đức Hồng Y Gualtiero Bassetti, Tổng Giám Mục Perugia, ở miền Trung nước Ý, người được chọn để viết suy niệm đàng thánh giá do Đức Thánh Cha chủ sự vào Thứ Sáu Tuần Thánh tại hí trường Côlôsê đã nói: “Con người ngày nay, đối với tôi, có vẻ bất hạnh và đau khổ một cách bi đát”. Ngài giải thích rằng: “đau khổ có thể nhìn ra dễ dàng nơi những người nghèo, những người nhập cư, người bệnh, những người cô đơn và bị bỏ rơi. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng gặp những người giàu có, những kẻ dường như có tất cả mọi thứ, nhưng trong thực tế, không có gì - họ sống một cuộc sống trống rỗng, và trong một số trường hợp, thậm chí muốn chết cho xong. Như một người nào đó đã từng viết, sự ác, do đó, ‘có gì là lạ đâu’, nhưng Chúa Giêsu trên thập giá đem đến cho cuộc sống một ý nghĩa khác và chỉ cho chúng ta thấy một con đường khác: con đường hoán cải”. 
Chỉ có con đường hoán cải mới đưa chúng ta về đúng ý nghĩa của cuộc đời mình.
Trong cuộc thương khó của Đức Giêsu, Tin mừng đã cho chúng ta chiêm ngắm một số nhân vật đã biết hoán cải, nhờ thế họ đã tìm lại ý nghĩa của cuộc đời mình, và vì vậy họ được hưởng lòng thương xót của Chúa.
Đó là một trong 2 tên gian phi cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Nói ví von theo lời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, đến lúc cuối đời, hắn còn hành nghề ăn trộm, nhưng là ăn trộm nước thiên đàng. Đó còn là viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 23, 47). Đó còn là đám đông dân chúng “Đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về” (Lc 23, 48).
Cụ thể trong bài thương khó hôm nay, chúng ta chiêm ngắm sự hoán cải của Phêrô. Mới trước đó ông đã hăng hái, nhiệt thành để bảo vệ thầy: dùng gươm chém đứt tai bên phải tên đầy tớ của vị thượng tế. Nhưng trong những diễn biến sau đó, Phêrô tỏ ra nhát đảm, ngược hẳn với tính khí của ông. Ông đã chối thầy 3 lần trước mặt đứa tớ gái và những tên đầy tớ của thầy thượng tế với cùng câu nói: “Đâu phải” để từ chối mối tương quan với Thầy Giêsu. Hình ảnh này giống như một trang chiến binh đánh đông dẹp bắc lẫy lừng, nhưng lại sợ chuột, sợ thằn lằn…
Gioan rất tinh tế trong tường thuật này, ông viết: “và ngay lúc ấy, gà liền gáy”. Để ứng nghiệm lời của Đức Giêsu, khi Phêrô hăng hái tuyên bố: “Dù ai có bỏ Thầy mặc kệ, nhưng con thì không, con sẽ liều mạng vì Thầy”. Đức Giêsu đã nói trước cho ông: “Ta bảo thật cho con biết, trước khi gà gáy 2 lần, con đã chối thầy 3 lần”.
Trong tường thuật của Matthêu còn ghi rõ, khi nhớ đến những lời tiên báo của Đức Giêsu:“Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết”. Đây là những giọt nước mắt ăn năn thống hối. Chắc có lẽ đối với Phêrô thà đổ máu còn hơn rơi lệ. Vậy mà hôm nay “ông đã khóc lóc thảm thiết”. Con người thật của ông đã được phơi bày ra. Sự mạnh mẽ bao lâu nay chỉ là chiếc áo khoác bên ngoài để che đậy sự yếu đuối bên trong của ông. Thế nhưng, dù ông có qua mắt được nhiều người, khiến anh em phải khiếp sợ tính khí hung hăng của ông, nhưng Đức Giêsu biết hết, biết rõ, nên đã nói trước sự thật cho ông: “con sẽ chối Thầy 3 lần”. Nhưng ông và cả anh em không ai nghĩ đến chuyện đó.“Làm gì có chuyện Phêrô mà chối Thầy”.
Tuy nhiên chính khi ông biết rõ con người của mình như thế lại là lúc ông tìm đúng ý nghĩa của cuộc đời mình. Ông biết rằng trước đến giờ mình chỉ sống cho cái tôi riêng tư của mình, đó là tâm lý muốn làm đầu, muốn thống trị người khác. Ông luôn luôn thể hiện mình là người mạnh mẽ, vì yểu điệu người ta nói mình yếu; là người thẳng thắn, dám nói thật để che dấu sự yếu đuối bên trong của ông; chứng tỏ mình là nơi nương tựa cho người khác, kể cả Thầy mình. Ông tỏ ra là người quán xuyến tất cả mọi chuyện. Ông phủ đầu hết mọi người. Ông ghét những ai gian dối dám qua mặt ông… Tất cả những điều đó, nếu không có tiếng gà gáy hôm nay, Phêrô cứ mãi mãi tưởng là nét đẹp riêng tư của mình, không ai được đụng đến, vì nó được bao bọc bằng vàng, và ngày càng được che chắn kỹ lưỡng hơn. Mọi người chung quanh cũng nhìn thấy như vậy và nể nang tính khí của ông.
Sự hoán cải của Phêrô khởi đi từ quyền năng của Đức Giêsu, vì Ngài đã biết hết mọi sự và đã nói trước điều đó. Khi nhớ lại, Phêrô phải sợ hãi quyền năng của Chúa.
Kế đến là từ ánh mắt nhân từ của Ngài. Ánh mắt đó kèm theo lời răn dạy: “Thấy chưa, Thầy nói trước với con rồi, đừng tự hào tự đắc về mình, đừng ham muốn thống trị người khác, vì thực sự con yếu đuối lắm, những việc con làm chỉ để che đậy sự nhu nhược bên trong của con mà thôi. Con bắt người khác phải lệ thuộc mình, phải giống mình, kẻo họ hơn mình thì sao! Con muốn mọi sự phải nằm trong vòng tay của mình, kẻo vượt ra ngoài con không kiểm soát được…”
Và trong ánh mắt đó còn có lời thỏ thẻ, thủ thỉ: “Không sao đâu, thầy chọn con không phải vì con mạnh mẽ, không phải vì con đứng ra bảo vệ Thầy, không phải vì con làm được những chuyện lớn lao… nhưng đơn giản vì Thầy muốn con làm môn đệ của Thầy. Hãy chỗi dậy và đi!”.
Kết quả của sự hoán cải đó được chứng minh bằng một cuộc sống hoàn toàn khác sau biến cố Tử nạn và Phục sinh của Đức Giêsu. Vì vậy thập giá của Đức Kitô đã giải phóng được con người của Phêrô. Vẫn là con người đó, vẫn với tính khí đó, nhưng không phải được bao bọc bằng vàng để mọi người chiêm ngưỡng hâm mộ, không phải được xây bằng xi măng cốt thép để không ai đụng đến được, nhưng nó đã được thập giá của Đức Giêsu chống đỡ, máu và nước của Ngài bao bọc lấy để ông trở nên hiền lành, ngoan ngoãn và chấp nhận đi theo đường lối của Chúa. Kết quả rõ ràng nhất của sự hoán cải là con người ta sẽ khiêm tốn hơn trong mọi sự.
Từ sự hoán cải của Phêrô cho chúng ta nhận ra sự thật: Không gì và không ai có thể qua mắt được Thiên Chúa, chẳng qua Ngài thinh lặng để chờ đợi sự hoán cải, chờ đợi chúng ta chấp nhận sự thật nơi chính bản thân và mọi sự việc để rồi khóc lóc ăn năn và sửa đổi.
Sự hoán cải chỉ có thể diễn ra trong mầu nhiệm đau khổ của Đức Kitô. Vì vậy sự khổ chế là điều kiện tất yếu cho những ai muốn hoán cải. Không ai muốn mình có những đam mê, những tật xấu, nhưng không ai tránh được. Tuy nhiên muốn bỏ được thì không phải là chuyện dễ dàng, vì nó phải qua mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô, phải có sự khổ chế của bản thân.
Sức mạnh của thập giá là ở chỗ nó sẽ biến đổi tất cả mọi sự trở nên tốt đẹp hơn. Vì vậy, những ai vui lòng vác thập giá hằng ngày thì chắc chắn sẽ nên thánh. Ngược lại, những ai muốn làm môn đệ Đức Kitô mà không muốn vác thập giá thì không bao giờ theo Ngài cho đến cùng được. Đó là điều kiện chứ không phải sự thỏa hiệp, nghĩa là phải như vậy chứ không còn gì khác.

Hôm nay, một lần nữa chúng ta tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giêsu. Lần tưởng niệm này giúp chúng ta sống lại mầu nhiệm hoán cải nhờ thập giá Đức Giêsu, để chúng ta xác quyết hơn sức mạnh của cây thập giá. Từ đó, tôi và anh chị em hãy quyết tâm để cho thập giá Đức Giêsu biến đổi bản thân mình, bằng việc chấp nhận những hy sinh, những khổ chế không phải một năm 2 lần trong dịp Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh, mà là liên lỉ trong cuộc đời mình. Khi chấp nhận hy sinh khổ chế là chúng ta đang vác thập giá theo Thầy của chúng ta để làm môn đệ của Ngài. Khi chấp nhận vác thập giá cũng là lúc chúng ta chấp nhận sự hoán cải để trở nên tốt đẹp hơn.
Lm Giuse Trực