TÌNH THƯƠNG TRONG CỘNG ĐOÀN

 

TÌNH THƯƠNG TRONG CỘNG ĐOÀN                                                  


 

“Cộng đoàn tu trì là nơi mọi người trở thành anh chị em một nhà”.

Tôi sống trong nhà dòng cũng khá lâu, một khoảng thời gian không phải là dài nhưng cũng không phải là ngắn, nên tôi cũng hiểu được phần nào những khó khăn hay những ích lợi của đời sống cộng đoàn. Đời sống cộng đoàn giúp cho tôi trưởng thành hơn những cũng không kém phần thú vị trong cách sống và cách ứng xử với nhau của từng thành viên trong cộng đoàn. Nhưng đối với tôi điều quan trọng là phải có sự thương yêu nhau, nếu như không thương nhau thì cũng rất khó sống, rồi sẽ dẫn đến nhiều điều, nào là ghanh ghét nhau, để ý nhau rồi gây chia rẽ lẫn nhau. Cuộc sống này vốn chẳng dễ dàng gì, vậy mà sao cứ làm khổ lẫn nhau. Tôi luôn đặt câu hỏi đó cho chính mình, nhưng để trả lời câu hỏi này thì lại không dễ chút nào, đòi hỏi phải có sự tập luyện ở chính bản thân của mỗi người. Tôi đã được nghe rằng để trở thành người tốt, thiết yếu phải có ba yếu tố sau đây đó là.

1.   Chân thật

2.   Chuyên cần

3.   Đồng cảm

Nghe và nói thì rất hay nhưng để sống được điều đó thì cũng không dễ. Vì chúng ta cũng chỉ là thân phận con người, nếu như không có sự tập luyện nhân đức mỗi ngày và một đời sống đạo đức chuyên cần thì cũng chỉ là sống theo bản năng, và cách hành xử với nhau theo như quy luật tự nhiên mà thôi. Dễ nổi nóng, dễ đòi hỏi, dễ ghanh ghét, dễ hơn thua, dễ giận hờn và cái đáng sợ hơn nữa là ganh ghét nhau, chà đạp lẫn nhau bằng những lời nói, bằng những ánh mắt như muốn ăn tươi nuốt sống nhau. Thật kinh khủng nếu chúng ta phải sống trong một môi trường như thế, nó chẳng khác nào như một địa ngục ở trần gian này. Cũng dễ thông cảm hơn vì mỗi người là một bản tính khác nhau, không ai giống ai, nhưng điều quan trọng là cách nhìn nhận vấn đề, cách sống của mỗi người, cũng tùy vào mức độ trưởng thành của mỗi người, với người có trái tim nhân hậu, yêu thương, dịu dàng trong từng cử chỉ và lời nói thì đó là lợi thế để họ dễ dàng tập được nhân đức tốt. Vì vậy mà ông bà ta mới nói rằng “ Tính tốt có được là do cọ sát mà thành, tính xấu là do bị chiều mà ra”.

Cho nên đời sống chung trong cộng đoàn là môi trường để tôi tập luyện nhân đức. Cũng có lúc tôi tưởng chừng như mình không vượt qua được nhất là khi gặp khó khăn, chỉ khi nào mình va chạm thì mình mới lớn hơn, mới trưởng thành hơn trong cách suy nghĩ, cách ứng sử, cách sống và ngay cả việc phải thay đổi cách sống của mình cho phù hợp hơn. Vì càng trưởng thành càng phải học được cách bao dung, học được cách khống chế cảm xúc của mình.

Vì vậy mà mỗi ngày tôi đều tự nhủ với bản thân mình rằng, chỉ khi nào tôi học được chữ “ THƯƠNG” thì đời sống cộng đoàn của tôi mới thật sự nhẹ nhàng, hạnh phúc, không thì chỉ là những tháng ngày chịu đựng nhau mà sống, còn tệ hơn nữa là một bầu khí nặng nề, một sự thinh lặng đáng sợ vì không ai còn muốn nói chuyện với ai, không quan tâm tới nhau; chỉ vì cái tôi của mỗi người quá lớn hay sự tham vọng về quyền lực, địa vị, cấp bậc trong cộng đoàn, hay sống theo kiểu nịnh hót, a dua để làm đẹp lòng Bề Trên mà làm cho đời sống trở nên nặng nề hơn. Chính vì chưa biết chấp nhận nhau, đón nhận nhau, yêu thương nhau, tha cho nhau và chưa nhận ra được hình ảnh của Thiên Chúa nơi mỗi người.

 Vậy làm sao để hòa hợp và dung hòa trong đời sống cộng đoàn. Kinh nghiệm thực tế cho tôi hiểu được rằng, chỉ hòa hợp khi mỗi người biết dịu dàng với nhau trong từng lời nói, từng cử chỉ và có một thái độ tử tế với nhau, tôn trọng lẫn nhau. Chỉ dung hòa khi biết nhường nhịn nhau, biết quảng đại với nhau và biết sống hiền lành với nhau. Xem ra thì dễ đó, nhưng việc thực hành thì còn tùy thuộc vào sự trưởng thành, sự bao dung, với một tấm lòng nhân hậu của mỗi người mà thôi. Và điều quan trọng hơn hết là luôn nhận ra được hình ảnh của Thiên Chúa trong mỗi người. Điều đó đòi hỏi tôi phải luôn ý thức và cố gắng mỗi ngày, vì ai cũng có lúc yếu đuối, vấp ngã, chính những lúc như thế mới giúp tôi biết mình và hiểu rõ cái bản ngã của mình hơn.

Cũng chính lúc khó khăn hay đau khổ trong cuộc sống, cộng đoàn là nơi tôi muốn tìm về để được nâng đỡ, để được đón nhận và để được yêu thương, điều đó chỉ xẩy ra với những cộng đoàn hòa hợp, với những trái tim đầy yêu thương và hiền hòa của từng thành viên sống chung với nhau, với thân phận mỏng dòn yếu đuối của con người và   không ai là hoàn hảo. Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết sống với nhau bằng những trái tim biết yêu thương, biết dịu dàng trong từng suy nghĩ, lời nói, và hành động của mình, biết suy nghĩ tích cực và nói với nhau bằng những lời nói tích cực hơn. Để cuộc sống này trở nên nhẹ nhàng hơn, như thế chúng ta mới dễ dàng trở nên những chứng tá đích thực của Chúa và mang Chúa đến cho mọi người, không thì chỉ là những hình ảnh mang cái mác Tu Sĩ gắn liền với vỏ bọc bề ngoài nhưng bên trong lại không có gì. Xin Chúa ban thêm sức mạnh, những ơn lành cần thiết để chúng ta biết tôi luyện bản thân của mình mỗi ngày, biết sống theo đường lối của Thiên Chúa và trở thành những Tu Sĩ đẹp lòng Thiên Chúa. 



                                                                    Bằng Lăng Tím.

 

SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI HÔM NAY




Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo cho ta biết sứ mạng của Hội Thánh là truyền giáo, sứ mạng này bắt nguồn từ đặc tính Công giáo của Giáo Hội. Một mặt vẫn trung thành với sứ mạng đã được Chúa Giêsu trao phó nhưng đàng khác thì Giáo Hội vẫn luôn canh tân và đổi mới dựa vào Chúa Thánh Thần. Trong bài viết này, ở phần đầu tôi muốn chia sẻ một số những gương mẫu của Chúa Giêsu đã sống trong suốt cuộc đời dương thế, Ngài đã sống và nêu gương cho Giáo Hội của Ngài và Giáo hội có nhiệm vụ đón nhận như những chất liệu cần thiết cho sứ mạng của mình. Ở phần tiếp theo tôi muốn chia sẻ cách thức mà Giáo Hội đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện để thi hành sứ vụ của mình, Giáo Hội đã đón nhận từ Đức Giêsu thì Giáo Hội cũng có nhiệm vụ phải loan báo những sứ điệp đã đón nhận được từ nơi Đức Giêsu. Tôi cũng sẽ dành một phần để nói về những gương mẫu trong Giáo Hội đã thi hành sứ vụ này theo bậc sống và ơn gọi của mình. Giáo Hội tham dự vào sứ vụ của Đức Giêsu với tư cách là người đón nhận và loan báo, đó không khác gì hơn là sứ mạng của Giáo Hội, nhất là trong bối cảnh của xã hội hôm nay.

1.    Đón nhận từ Đức Giêsu

Trước hết và trên hết, Đức Giêsu đã để lại cho ta một mẫu gương về sự nghèo khó đến tận cùng, khi Ngài chấp nhận mang lấy thân phận con người và sống như những con người khác ở trần gian. Các sách Tin mừng được Quy điển Giáo Hội công nhận thì không có một sách Tin mừng nào kể lại thời thơ ấu của Chúa Giêsu ngoại trừ một câu trong Tin mừng của Thánh Luca: “Còn Hài nhi ngày càng thêm tuổi, thêm khôn ngoan và đầy ân nghĩa trước mặt Chúa”     (Lc 2,52). Điều đó cho ta thấy cuộc sống của Chúa Giêsu đã diễn ra âm thầm ở làng quê Nazareth, được người khác biết đến chỉ với một nghề nghiệp như Thánh Giuse – nghề thợ mộc. Ngài vẫn âm thầm sống và sống tốt, chỉ đến khi Ngài biết là đã đến lúc thi hành sứ vụ thì Ngài mới bắt đầu công trình của mình.

Chúa Giêsu đã nói: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6), ta dễ dàng đọc thấy trong các sách Tin Mừng những lời nói của Chúa Giêsu luôn luôn là nói thật, như lời Thánh Phêrô đã viết trong thư của Ngài: “không ai thấy miệng Người nói một lời gian dối” (1Pr 2,22).

Chúa Giêsu không chỉ nói thật mà Ngài còn sống thật, từ mầu nhiệm Nhập Thể, Ngài đã mang lấy thân phận con người như chúng ta, Ngài cũng biết buồn khi thấy những người Pharisêu cứng lòng không tin, Ngài cũng cảm thấy đau nỗi đau của người mẹ mất con, Ngài cũng biết ăn uống và chia sẻ những bữa ăn thân tình với người khác,.....

Hơn ai hết, Chúa Giêsu là một mẫu gương về lòng trắc ẩn, Ngài thương xót người phụ nữ ngoại tình bị tố cáo và chờ bị ném đá, Ngài thương cảm với hoàn cảnh của Matthêu, Ngài hiểu thấu nỗi chờ đợi của Dakêu, Ngài thương khóc người bạn là anh Lazarô mới mất...Còn nhiều, nhiều lắm những lần Chúa Giêsu đã tỏ rõ lòng trắc ẩn của mình đối với những hoàn cảnh khác nhau của con người.

Chúa Giêsu còn là một người luôn có tinh thần xây dựng công lý và hòa bình. Ta thấy rõ trong các Tin Mừng là Chúa Giêsu không hề gây cớ cho ai phải đau khổ, không làm phiền lòng ai vì cung cách ăn nói thiếu tế nhị....Trái lại, ta thấy Ngài luôn nói những lời xây dựng, những lời nhằm mưu cầu lợi ích cho người khác, ngay cả khi tranh luận với những người muốn thử thách Ngài hay khi sửa lỗi cho các môn đệ, khi làm cho dân chúng nhận ra những sai lầm của họ.

Chúa Giêsu đến thế gian để cứu độ mọi người, Ngài không phân biệt họ là Do Thái hay Samaria, người nghèo hay người giàu, người công chính hay kẻ tội lỗi.....Chúa đã qui tụ quanh mình một nhóm các môn đệ đủ mọi hạng người, đủ mọi tính tình, trình độ học vấn. Trong cuộc sống thì Ngài cũng tỏ ra tôn trọng người khác như khi đón nhận các trẻ em đến với Ngài, nhận lời dự bữa tiệc tại nhà ông Simon, đến thăm chị em cô Matta, ngồi tiếp chuyện ban đêm với ông Nicodemo...

Chúa Giêsu còn có nhiều mẫu gương khác đáng để Giáo Hội học hỏi và đón nhận mà ở đây ta chỉ nêu lên một vài điều tiêu biểu như trên. Cuộc đời của Chúa Giêsu đã minh chứng cho Hiến chương Nước Trời mà Ngài loan báo. Chúa Giêsu không chỉ nói mà suốt cuộc đời của Ngài đã là một lời chứng sống động về những mối phúc mà Ngài đã công bố. Giáo Hội cũng phải nhìn vào đó để khi đón nhận sứ mạng là loan báo Tin Mừng cho muôn dân thì Giáo Hội biết mình đã được đón nhận cái gì và bây giờ mình phải loan báo và trao ban cho người khác thế nào.

2.    Trao ban như Đức Giêsu

Những mẫu gương sống của Chúa Giêsu đã được nêu trên đây phải trở thành lý tưởng và cuộc sống của Giáo Hội. Thật thế, Giáo Hội đã được chính Chúa Giêsu thiết lập và ra lệnh phải loan báo Tin Mừng cho muôn dân, Tin Mừng của Ngài cần được loan báo không chỉ qua những lời rao giảng nhưng còn phải qua cả những cách sống tốt đẹp mà Giáo Hội đã được Thầy Giêsu nêu gương cho trong cuộc sống trần thế.

Đọc Lịch sử Giáo Hội thì ta sẽ thấy rằng có một thời Giáo Hội đã hiểu sai về lời căn dặn của Chúa Giêsu và đã để xảy ra một số những điều đáng tiếc. Tuy nhiên, Giáo Hội cũng đã tích cực sửa sai bằng cách canh tân phương pháp loan báo Tin Mừng để sao cho phù hợp với thời đại và con người. Như Đức Giáo Hoàng Phaolo VI đã viết trong Evangelii Nuntiandi 41 là: “Phương tiện đầu tiên của Phúc âm hóa là chứng tá của một đời sống Kitô giáo đích thực”. Quả thật, Đức Giêsu đến thế gian này để thi hành sứ vụ Chúa Cha trao phó, Ngài không chỉ nói mà còn minh chứng bằng hành động, vì thế, Ngài đã trao ban thế nào thì Giáo Hội cũng phải trao ban lại cho con người như thế.

Những gì mà Chúa Giêsu dạy là một cung cách sống chứ không phải chỉ là một mớ lý thuyết. Ngài đã trao ban sự tha thứ, thương xót những người cùng khổ, đối thoại với những người muốn tìm kiếm chân lý....thì Giáo Hội cũng thế, cũng trao ban cho con người hôm nay một sự tha thứ chân thành, một lòng thương xót bao la, một sự kiên nhẫn trong khi đối thoại với anh em các tôn giáo khác....

Có lẽ vấn đề của Giáo Hội hôm nay là Giáo Hội vẫn chưa luôn sống những gì Giáo Hội dạy. Lời của Đức Phaolo VI vẫn còn đáng để suy nghĩ: “Con người hôm nay cần chứng tá hơn là thầy dạy, nếu họ tin vào thầy dạy thì chứng tỏ vị thầy dạy đó đã sống những gì mình dạy” (EN 41). Đây là một vấn nạn lớn mà Giáo Hội cần phải chân thành nhìn nhận và nỗ lực canh tân.

Giáo Hội phải là Giáo Hội của người nghèo, theo gương Đức Giêsu, Ngài đã đến trần gian và sống nghèo thật sự. Ngài chơi với những người nghèo, nghèo trong mọi phương diện, Ngài tuyên dương bà góa nghèo chỉ bỏ hai đồng tiền kẽm vào thùng dâng cúng cho Đền thờ, mối phúc đầu tiên trong tám mối phúc mà Chúa nói đến là “phúc cho ai có tinh thần nghèo khó”. Như vậy ta có thể thấy là nếu Giáo Hội nỗ lực sống sống nghèo thì Giáo Hội không chỉ đi đúng đường do Chúa Giêsu đã chỉ dẫn mà còn chính qua cách sống nghèo, Giáo Hội có thể đến được với người nghèo.

Giáo Hội cũng đã đón nhận từ Đức Giêsu một giới luật bao gồm mọi giới luật là luật mến Chúa yêu người. Chúa Giêsu cũng đã xác định đó là giới luật trên hết mọi luật. Và quả thật, qua các thời đại, Giáo Hội đã luôn luôn cố gắng để thi hành giới luật này, không chỉ trên bình diện tập thể nhưng quan trọng hơn cả là trên bình diện cá nhân, những phần tử ưu tú của Giáo Hội.

3.    Những gương mẫu thi hành sứ mạng trong Giáo Hội

Có thể kể ngay đến gương mẫu của Đức Thánh Cha Phanxicô. Ngài không chỉ dùng lời nói để thi hành sứ mạng của mình ngay trong cương vị là một người lãnh đạo Giáo Hội Chúa Kitô, nhưng hơn thế nữa, Ngài đã hành động: rửa chân cho những tù nhân vào dịp lễ Thứ Năm Tuần Thánh, đi thăm những nhân viên đang làm việc tại nhà in Vatican, xếp hàng nhận phần cơm trưa và ngồi ăn với những người nghèo....Đức Phanxicô thật sự là một mẫu gương thi hành sứ mạng mà Chúa Giêsu trao phó.

Chứng tá thứ hai có thể kể đến là Chân phước Gianna, một bác sĩ và là một người mẹ, bà đáng được nêu gương sống chứng tá Phúc âm vì khi khám phá ra mình bị một căn bệnh nan y, các bác sĩ cùng khoa đã khuyên bà phá bỏ bào thai để giữ lại mạng sống nhưng Gianna đã dám chấp nhận hi sinh sự sống của mình để đứa con được ra đời chứ không chấp nhận phá bỏ nó để mình được sống.

Chứng nhân là một cá nhân thì cũng chưa đủ mà cần lời chứng của cả một tập thể. Các cộng đoàn Dòng tu xứng đáng để được kể ra đây vì các Tu sĩ nam nữ trong các nhà dòng đã can đảm chấp nhận hi sinh tuổi thanh xuân và những ước mơ của riêng mình để từng ngày, từng giờ sống và xả thân mưu cầu lợi ích cho tha nhân và chính mình qua đời sống thánh hiến.

Ngoài ra, cũng có thể kể đến các giáo dân đủ mọi thành phần, lứa tuổi đang nhiệt thành trong những công việc hằng ngày ở các xứ đạo như đọc kinh, tham dự Thánh lễ, giúp đỡ người nghèo, bảo vệ sự sống....Chính họ sẽ trở thành một thắc mắc cho những người đang sống cùng trong giáo xứ.

Tạm kết

Từ ngữ đẹp nhất để mô tả sứ vụ là một thuật ngữ thuộc Kinh Thánh – MARTYRIA. Tuy từ ngữ này không hàm chứa tất cả mọi khái niệm nhưng ý nghĩa của từ ngữ này có thể được xem là đầy đủ để nói về việc truyền giáo của Giáo Hội. Quả vậy, Giáo Hội đã và đang từng ngày sống và loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu, một Tin Mừng sống động ngay trong đời sống chứ không phải là một Tin Mừng chết trên những trang giấy. Trải qua bao thời đại, có những bước thăng trầm, có những khi Giáo Hội đi lệch đường, có những khi sai lầm....nhưng Chúa Thánh Thần là Chân Lý vẫn có cách để đưa Giáo Hội trở về đúng con đường mà Giáo Hội phải đi. Những gì Giáo Hội đón nhận được từ Đức Giêsu và được lưu truyền cho đến hôm nay đã trở nên nguồn mạch nuôi dưỡng Giáo Hội. Nếu Thầy Giêsu không từng sống và từng dạy dỗ thì Giáo Hội sẽ mất phương hướng và rơi vào sai lạc.

Là một phần tử trong Giáo Hội, mỗi người chúng ta phải vui mừng vì chúng ta đã có sẵn chất liệu cần thiết để sống và để trao ban, đó chính là Giáo lý tinh tuyền mà Giáo Hội đã lãnh nhận từ nơi Thầy Giêsu và Giáo Hội trao lại cho từng người chúng ta. Hãy đi và làm cho muôn người nhận biết Thiên Chúa là Cha nhân hậu, Cha của mọi người. Chúng ta không chỉ rao giảng bằng lời nói nhưng còn bằng chính hành động, vì lời nói là hành động vô hình và việc làm chính là lời nói hữu hình.

 



Hoa Đất

 

Chủ đề: “Người đã chỗi dậy từ cõi chết” (Mt 28,7)

Phụng vụ Giáo hội vừa trải qua những ngày Tam Nhật Thánh trọng thể diễn tả biến cố Chúa Chịu Khổ nạn và Phục sinh để cứu chuộc loài người chúng ta khỏi chết muôn đời.

Do sự liên đới với tổ tông loài người nên tất cả loài người phải chết khi Nguyên tổ sa ngã, chống lại Lời Chúa truyền. Từ khi Nguyên tổ phạm tội, sự chết bao trùm và nhấn chìm loài người trong bóng tối của nó. Nhưng Thiên Chúa là Cha Giàu Lòng Thương Xót đã không để tất cả con cái phải hư đi trong cảnh đời đời nên đã sai Con Một xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta và đưa chúng ta về cùng ánh sáng muôn Đời.

Một cuộc đời nghèo khó, một cái chết đau thương đến tột cùng trên Thập giá của Đức Kitô đã minh chứng cho Tình Yêu lớn lao mà Thiên Chúa dành cho tất cả loài người chúng ta. Thế nhưng, tất cả sự khốn khó mà Đức Giêsu phải chịu sẽ không là gì và không mang ơn Cứu độ được cho con người nếu như Ngài không chỗi dậy từ cõi chết. Chúa đã Phục Sinh để đập tan xiềng xích gông cùm của tội lỗi, của sự dữ đè nặng trên con cái của Ngài. Ngài đã chỗi dậy đem lại niềm hy vọng mới cho nhân loại. Giá Máu cứu chuộc đã trả lại cho chúng ta đại vị làm con Thiên Chúa. Chúa đã trỗi dậy để đem lại cho con người sự bình an, hoan lạc mà nguyên thủy Chúa đã tạo dựng và dành riêng cho tất cả chúng ta.

“Người đã chỗi dậy từ cõi chết” - Ngài không để cho chúng ta phải hư mất đời đời.. Niềm tin này của chúng ta được tiếp thêm sức mạnh với sự làm chứng của thánh Phaolô – vị tông đồ dân ngoại. Thánh nhân đã quả quyết rằng: “ Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh… nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1 Cr 15,3-14).            Ơn ích mà tất cả loài người chúng ta được hưởng nhờ từ công nghiệp Cứu Chuộc của Ngôi Hai Thiên Chúa quá rõ ràng. Không ai và không điều gì trên trần gian này có thể phủ nhận được ân ban này.

Thiên Chúa hằng yêu thương săn sóc dân Ngài đã chọn và muốn cho tất cả mọi người đều được chung hưởng hạnh phúc với Ngài. Tuy vậy, dù Toàn năng và quyền phép tới đâu Thiên Chúa cũng không thể Cứu độ được ai nếu như bản thân người đó không muốn và không cộng tác với Ngài.

Đúng vậy, Thiên Chúa đã đặt để nơi mỗi người Chúa dựng nên một sự tự do. Và Ngài không thể làm gì để ban ơn Cứu độ nếu con người dùng chính sự tự do đó để khước từ Tình Yêu của Ngài.

Trải qua bao ngàn năm kể từ khi Ngôi Hai Thiên Chúa thực hiện công việc cứu độ của mình, Giáo hội – hiền thê của đức Kitô vẫn không ngừng tha thiết mời gọi và đưa ra nhiều phương thế để con cái mình được hưởng trọn nguồn ơn cứu độ Thiên Chúa đã ban. Thế nhưng vẫn còn biết bao người còn chưa đón nhận được Hồng ân cao quý này.

Theo dòng thời gian, Phụng vụ Giáo Hội lặp lại các mùa Phụng Vụ để cho mọi Kitô hữu tái khám phá và đón nhận ơn cứu độ muôn đời. Nhưng dường như với rất nhiều người trong đó có tôi tất cả chỉ dừng lại ở những cử hành Phụng Vụ mà thôi. Bằng chứng là đời sống thiêng liêng của tôi vẫn còn “giẫm chân tại chỗ”, trong lòng tôi vẫn còn nhiều sự sân si với anh chị em của mình, tôi vẫn còn bị khống chế bởi những đam mê trần thế của mình; tôi chưa mở lòng ra đón nhận sự khác biệt nơi người bên cạnh, cái tôi còn quá lớn để thấy mình là tất cả của vũ trụ, thật khó để tôi đón nhận những điều trái ý tôi gặp trong cuộc sống… Tất cả là vì Đức Kitô chưa thực sự Phục sinh trong tôi !

Bởi tôi chưa mang lấy Đức Kitô Phục sinh nên con nguời tôi vẫn còn bị giới hạn bởi “ba thù” và tôi chưa đón nhận được ơn biến đổi thực sự để trở nên con cái Ánh sáng

Phải làm gì để được Phục Sinh cùng với Đức Ki tô ?

Vị cha chung của Giáo hội - ĐTC Phanxicô  trong thánh Lễ Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa (08/04/2018 ) đã dạy rằng: “Chúng ta cần phải trông thấy Chúa Kitô Phục sinh từ bên trong, lấy tay sờ vào các vết thương, dấu chỉ tình yêu của Ngài như tông đồ Toma, và nhận ra Ngài qua các vết thương như các môn đệ xưa kia. Bước vào trong các vết thương của Chúa là chiêm ngưỡng tình yêu vô bờ vọt ra từ trái tim Ngài, là sờ mó được tình yêu thương xót của Ngài, là Đấng luôn luôn tha thứ cho chúng ta.”

Chiêm ngưỡng Tình Yêu vô bờ bến của Thiên Chúa dành tặng cho tất cả chúng ta không phải là ở yên không làm gì cả. Chúng ta sẽ không thể nhận ra một tình yêu nơi Đấng vô hình nếu chúng ta không gắn kết đời sống của mình với lời Ngài dạy.

Chúa Giê su đã dạy rằng: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Tình yêu thương thật lòng sẽ dẫn đường cho chúng ta đến những hành động cụ thể vì người mình yêu. Và những hành động cụ thể đó sẽ mở ra cơ hội giúp chúng ta chiêm ngưỡng Tình Yêu của Đức Kitô một cách trọn vẹn và sống động hơn. Vì anh chị em xung quanh chúng ta chính là hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Giacôbê Tông Đồ khẳng định rằng: " Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết" ( Gc 2,17).

Niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh mời gọi tôi phải có hành động cụ thể bước ra khỏi “nấm mồ” con người tự nhiên, hẹp hòi và ích kỷ của chính mình để nhờ đó tôi biết sửa đổi đời sống theo tinh thần Tin Mừng, biết mở lòng ra đón nhận sự khác biệt nơi người khác, biết quan tâm chia sẻ và lắng nghe những ai đang gặp đau khổ, khó khăn; biết dẹp bỏ cái tôi và sự ích kỷ để cùng sẻ chia và cộng tác vì lợi ích chung, biết dành thời gian để đến với những ai đang cô đơn, đói khát, bần cùng hay lạc lõng bơ vơ…Có như thế Đức Kitô mới thực sự Phục Sinh trong tôi và ơn Cứu độ của Người không thành ra vô hiệu nơi tôi.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã Phục Sinh và đem lại cho chúng con sự sống đời đời. Xin ban thêm sức mạnh, tình yêu và lòng nhiệt thành cho mỗi người chúng con, giúp chúng con can đảm bước ra khỏi chính mình để can đảm dấn thân loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho hết thảy mọi người bằng đời sống chứng tá yêu thương và phục vụ ./.

X.tine




THÁNH GIUSE - NGƯỜI CÔNG CHÍNH

 

THÁNH GIUSE - NGƯỜI CÔNG CHÍNH 


Kinh thánh nói rất ít về Thánh Giuse. Phải chăng vì ngài qúa âm thầm, lặng lẽ trong một gia đình nhỏ bé? Thánh Giuse là một người thợ mộc, gia trưởng trong gia dình nhỏ bé tại Nazareth. Tuy nhỏ bé nhưng chính nơi đây đã xuất phát hành trình cứu độ mà Thiên Chúa đã hoạch đinh cho nhân loại, cũng chính nơi đây Đấng Cứu Tinh đã ra đời, mở ra cho con người một kỉ nguyên mới, một niềm hi vọng được ơn giải thoát. Và như thế Thánh Giuse đã cùng cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu độ này. Nhìn vào hành trình cứu độ của Thiên Chúa cùng với những đóng góp âm thầm mà lớn lao của Thánh Giuse để giúp chúng ta có những đường hướng mục vụ theo thánh ý Chúa.

    Nhìn vào cuộc đời thánh Giuse, một con người nội tâm trong chính sự im lặng ấy, ngài luôn nghe được tiếng Chúa và mau mắm thực thi. Chắc chắn trong cuộc đời của ngài, ngài cũng có cho mình những dự tính cho tương lai; thế mà khi nghe tiếng Chúa ngài sẵn sang bỏ đi ý riêng của mình mà làm theo ý Chúa “khi tỉnh giấc ông Giu se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1,24); “ông liền trỗi dậy, và đang đêm đưa hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai cập” (Mt 2,14)...

     Vâng! Chúa nói trong con thật nhiều, Ngài nói với con trong mọi biến cố của cuộc sống, nơi mà những người con có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc... Điều quan trọng là con có biết lắng nghe hay không? Như trong Kinh thánh đã chép “Hạnh phúc thay cho những ai lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc 11,28). Lắng nghe với tinh thần khiêm tốn để Chúa hướng dẫn cuộc đời con. Để có được tâm tình đó, mỗi ngày con phải có một tương quan cá vị với Thiên chúa trong sự cầu nguyện và công việc hằng ngày.

 Suốt hành trình sống nơi trần thế với Chúa Giêsu, thánh Giuse luôn sống trong sự thầm lặng để đón nhận thánh ý Chúa. Ngài gìn giữ gia đình Thánh Gia, gìn giữ Chúa Giêsu và Mẹ Người. Một trách nhiệm khá là khó khăn- chăm sóc bảo vệ Con Đức Chúa Trời. Có lẽ không bao giờ ngài nghĩ tới điều đó; cũng không ai muốn điều đó; nhưng ngài đã đáp lời khi được Chúa mời gọi và hoàn thành công việc Chúa trao.

    Hành trình ơn gọi mỗi người chúng ta cũng thế. Có những công việc mà không ai nghĩ rằng mình sẽ đảm nhận; bởi với khả năng của mình sẽ không bao giờ làm việc đó, hay sức khỏe mình như vậy thì không bao giờ lên vùng kia... “không bao giờ” hay “không nghĩ tới” thì có lẽ đó lại là điều mà Thiên Chúa lại dành sẵn cho chúng ta. Noi gương Thánh Giuse, ngài đã âm thầm phục vụ Chúa thì chúng ta cũng vậy: hãy vâng phục thánh ý Chúa trong tâm tình đơn sơ, khiêm tốn chân thành.... rồi chính Ngài sẽ ban ơn giúp sức cho ta.

    Cuộc đời thánh Giuse cũng đầy dẫy những khó khăn, nhưng Ngài đã phó thác tất cả cho Thiên Chúa. Trong đời sống dâng hiến chúng ta lắm lúc cũng có những khó khăn, trái ý cực lòng... Hãy nhìn lên thánh Giu se- ngài luôn gần gũi bên chúng ta để gắn bó, chia sẻ những khổ đau của chúng ta, cùng với chúng ta vượt qua mọi sự trong tin cậy và yêu mến.

 

CHÚC MỪNG BỔN MẠNG THÁNG 4

 

NGÀY

LỄ

QUAN THẦY

29/04

Lễ Thánh Cathrine Siena        

Trinh nữ, TSHT

Chị Lan (Cathrine)

 

 

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

 

 

NGÀY

LỄ GIỖ

01/04

Ông cố Antôn - thân phụ chị Lan (Francoise Romaine)

11/ 04

Chị Martha Lan Phương

21/04

Mẹ Marie Anastasie (Đấng Sáng Lập)

24/04

Bà cố Inê - Thân mẫu chị Thảo (Dominique)

30/04

Ông cố Phanxicô Xaviê- Thân phụ Dì Cẩm