ĂN CHAY HAY SỐNG CHAY


ĂN CHAY HAY SỐNG CHAY

Người Kitô hữu ăn chay còn để thanh tẩy và chuẩn bị con người mình đón ngày Chúa Quang Lâm. Như thế ăn chay nhắm đến chính mình, tha nhân và Thiên Chúa.


 
ĂN CHAY

Người Công giáo ăn chay kiêng thịt mỗi năm hai ngày, thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. Trước đây, luật Hội Thánh còn buộc kiêng thịt mỗi thứ sáu. Bây giờ ta được phép thay việc kiêng thịt bằng một việc hy sinh hay một việc bác ái. Do-thái giáo có một ngày ăn chay lớn, đó là Ngày lễ Kippour, Ngày lễ Xá tội (Lv 16,29-31). Nhưng người Pharisêu đạo đức có thể ăn chay vào ngày thứ ba và thứ năm hàng tuần (x. Lc 18,12). Hồi giáo dành cả một tháng Ramadan để ăn chay. Họ nhịn ăn uống từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Sau khoảng thời gian ấy, họ mới dùng bữa. Có những Phật tử ăn chay trường, hoàn toàn không ăn thịt cá trong một thời gian dài.

Các môn đệ cùng sống với Đức Giêsu không ăn chay, khác với những môn đệ của ông Gioan hay của những người Pharisêu (Mc 2, 18-20). Nhưng chính Đức Giêsu đã ăn chay 40 ngày trước khi bắt đầu sứ mạng. Hai vị ngôn sứ Mô-sê (Xh 34,28) và Elia (1 V 19,8) cũng đã ăn chay lâu như thế. Sau khi Đức Giêsu về trời, Hội Thánh sơ khai đã giữ tập tục ăn chay đi liền với cầu nguyện (Cv 13,2-3; 14,23). Thánh Phaolô cũng ăn chay khi đi rao giảng (2 Cr 6,5; 11,27). Theo sách Điđakhê 8,1, các Kitô hữu ăn chay vào thứ tư và thứ sáu hàng tuần. Ăn chay không phải để cho người ta thấy mình đạo đức (Mt 6,16). Ăn chay cũng không chỉ để tập làm chủ chính mình bằng đời sống khổ hạnh, hay để có tiền lo việc bác ái. Người Kitô hữu ăn chay còn để thanh tẩy và chuẩn bị con người mình đón ngày Chúa Quang Lâm. Như thế ăn chay nhắm đến chính mình, tha nhân và Thiên Chúa.


SỐNG CHAY

Ngôn sứ Isaia nói đến một cách ăn chay mới.
“Cách ăn chay mà ta ưa thích chẳng phải là thế này sao:
Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc,
Trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm?
Chẳng phải là chia cơm cho người đói,
Rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ;
Thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
Không ngoảnh mặt làm ngơ trước trước người anh em cốt nhục” (Is 58,6-7).

Rõ ràng cách ăn chay này thấm đượm tinh thần công bằng: giải phóng những người chịu áp bức, và tinh thần bác ái: chia cơm, chia nhà, chia áo. Như thế ăn chay không phải chỉ là chuyện bớt ăn bớt uống cho thân xác, mà còn là chuyện có một thái độ tích cực đối với những người nghèo đói, bị đàn áp bạo hành trong xã hội. Ăn chay thật sự đòi dấn thân cho tha nhân.

Khi viết thư cho tín hữu ở Côrintô, thánh Phaolô đã ví cuộc sống Kitô hữu với một cuộc chạy đua trên sân vận động. Mỗi Kitô hữu là một vận động viên trên đường chạy để đoạt giải. Như thế, chuyện kiêng cữ của vận động viên là chuyện bình thường, thời nào cũng thế.

“Anh em chẳng biết sao: trong cuộc đua trên sân vận động, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người nhận giải. Anh em hãy chạy thế nào để đoạt giải. Phàm là vận động viên, thì phải kiêng cữ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt vòng hoa mau hư nát; trái lại chúng ta nhằm điều không bao giờ hư nát (1 Cr 9, 24-25).

Kiêng cữ ở đây không chỉ là kiêng cữ trong chế độ ăn uống, mà còn trong mọi sự khác của cuộc sống riêng tư. Thánh Phaolô cho thấy ngài đã sống nghiêm túc như thế nào để mong chiếm được phần thưởng là sự sống đời sau:

“Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1 Cr 9,27).

Như thế, có thể nói người Công giáo không chỉ ăn chay mỗi năm hai lần, và sống Mùa Chay 40 ngày. Giữa một thế gian đầy cám dỗ, chúng ta còn phải sống chay nữa. Sống chay là sống giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian (Ga 17,14.16), không bị chi phối bởi lối suy nghĩ, lối đánh giá thông thường của người đời (x. Mt 16,23), không bị lôi kéo bởi những thứ hào nhoáng mau qua của nó như sắc đẹp, tiền bạc, quyền lực… Sống chay là làm chủ được đôi mắt của mình trước vô số hình ảnh mà thế gian luôn cung cấp cho chúng ta:

“Kẻ nào yêu thế gian thì tình yêu của Chúa Cha không ở trong kẻ ấy,
vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói huênh hoang vì tiền của,
những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian” (1 Ga 2,15-16).

Lời khuyên khôn ngoan sau đây có thể giúp ta sống chay:

“Hãy canh chừng ý nghĩ của bạn, vì nó sẽ thành lời.
Hãy canh chừng lời của bạn, vì nó sẽ thành hành động.
Hãy canh chừng hành động của bạn, vì nó sẽ thành thói quen.
Hãy canh chừng thói quen của bạn, vì nó sẽ thành cá tính của bạn.
Hãy canh chừng cá tính của bạn, vì nó sẽ thành định mệnh của bạn.”



MỘT VÀI GỢI Ý SỐNG CHAY TRONG HOÀN CẢNH HIỆN TẠI

+ Không phung phí những gì Chúa ban như đồ ăn, đồ mặc, sức khỏe, thời giờ, tiện nghi…
+ Yêu thích những gì đơn sơ, không cần một điện thoại đắt tiền hay một bộ đồ hàng hiệu…
+ Thấy vẻ đẹp nơi những gì bình thường, thậm chí tầm thường. Xa tránh những vẻ đẹp giả tạo.
+ Say mê vẻ đẹp cao quý của tâm hồn hơn vẻ đẹp chóng qua của thân xác.
+ Không để mình bị cuốn hút bởi lối đánh giá của xã hội về thế nào là tốt, là đẹp, là sang.
+ Điều độ trong việc sử dụng những gì Chúa ban. Điều độ khi làm những điều được phép làm.
+ Hưởng dùng những gì Chúa ban một cách vừa phải, với lòng biết ơn. Khi đi mua sắm, luôn nhớ đến những người nghèo hơn mình.
+ Dành thời gian nghỉ ngơi cho đôi mắt, để mắt được nghỉ ngơi khỏi mọi thứ màn hình.
+ Dành thời gian nghỉ ngơi cho tai, để tai khỏi bị nghe liên tục đủ thứ âm thanh, nhờ đó tạo được sự thinh lặng cho tâm hồn.
+ Tạo cho mình những khoảng không gian và thời gian thích hợp để có thể hồi tâm, đọc sách và sống sâu lắng một mình.
+ Chỉ ăn khi đói, và ngừng ăn khi đã no.
+ Nói ít hơn, nghe nhiều hơn. Chê ít hơn, khen nhiều hơn.
+ Luôn suy nghĩ tốt về người khác. Không để những tình cảm tiêu cực như ghen ghét, tức giận, oán thù, nghi ngờ, có chỗ trong tim mình.
+ Không để nỗi buồn rầu, buông xuôi, thất vọng hay tuyệt vọng chi phối quyết định của mình.
+ Không để mình bị ám bởi những hình ảnh xấu trên mạng. Không để khoái lạc xác thịt khiến mình bị nô lệ cho tội.
+ Sẵn sàng làm một điều mình không thích, chỉ vì điều đó có lợi cho tha nhân và đem lại vinh quang Chúa.
Chắc mỗi người chúng ta đều được Chúa gợi ý về cách sống chay trong thời buổi hiện tại.

Nguyễn Cao Siêu, S.J


XIN ƠN BÌNH AN TRONG CƠN ĐẠI DỊCH

XIN ƠN BÌNH AN 
TRONG CƠN ĐẠI DỊCH

Hơn lúc nào hết, mọi Ki-tô hữu chúng ta đang khao khát được sống trong bình an của Chúa khi mà dịch cúm Covid-19 càng ngày càng trở nên nguy hiểm và lan tỏa rất nhanh tại Trung Quốc cũng như nhiều nơi trên thế giới. 

Được biết, dịch viêm phổi cấp do virus corona (Covid-19) chủng mới gây ra bùng phát ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc từ cuối năm ngoái. Dịch đã nhanh chóng lan ra tất cả các tỉnh, thành của Trung Quốc và ít nhất 27 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, lấy đi sinh mạng của hơn 2.000 người, khiến hơn 75.000 người nhiễm bệnh. Tính trên toàn thế giới, thì vào thời điểm sáng ngày 19-2-2020 đã có 75.184 ca nhiễm nCoV và 2.009 người đã chết vì dịch bệnh này, trong khi có 14.555 người bình phục. Đặc biệt có 5 ca tử vong được ghi nhận ngoài Trung Quốc đại lục, đó là ở Nhật Bản, Hong Kong, Pháp, Philippines và Đài Loan.

Trước tình hình này, Ki-tô hữu chúng ta cầu xin Chúa ban sự bình an vì chỉ có Chúa mới có sự bình an đích thực. Sự bình an của Chúa là sự bình an xuất phát từ Thánh Thần có sức mạnh giúp chúng ta bình tâm chống đỡ mọi nguy cơ thử thách bất cứ như thế nào và từ đâu tới. Ngày 17-2 vừa qua, lời nguyện chính thức của HĐGMVN đã được phổ biến để cộng đoàn Dân Chúa cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19.

          Dựa theo nội dung kinh này, ta có thể tóm lược mấy điểm chính: Trước hết, chúng ta cầu xin Thiên Chúa Ba Ngôi cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt, đồng thời xin Chúa Cha giàu lòng thương xót nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, nhất là những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Chúng ta cầu xin Cha củng cố đức tin mọi người, cho mọi người hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. 

Chúng ta cầu xin Chúa Giê-su là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin Ngài thương cho các bệnh nhân được chữa lành và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. 

Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần là nguồn sức mạnh tình yêu, xin Người soi sáng các vị hữu trách và những ai có khả năng để họ sớm tìm ra phương thuốc chữa trị dịch bệnh, xin Người ban cho các bác sĩ và nhân viên y tế sức mạnh của tình thương và lòng nhiệt thành quảng đại hầu luôn tận tâm tận lực phục vụ các bệnh nhân. [1]

Như vậy, qua bản kinh vừa tóm lược, chúng ta có thể xác tín là việc cầu nguyện để vững niềm tin trong lúc này là hết sức cần thiết, đồng thời chúng ta cũng khẩn khoản nài xin Ba Ngôi Thiên Chúa ra tay cứu vớt chúng ta bằng cách soi sáng, nâng đỡ để tất cả những ai có trách nhiệm sẽ tìm ra các phương cách chống chọi với dịch bệnh đang lan tràn và gây chết chóc, đau khổ cho nhiều người. Lời cầu nguyện và sự cộng tác của con người luôn luôn phù hợp với đường lối giải quyết của Thiên Chúa.

Vừa qua, HĐGMVN cũng như một số giáo phận trong cả nước đã ra thông báo kêu gọi mọi tín hữu cầu nguyện đồng thời đưa ra những hướng dẫn cụ thể về việc phòng chống dịch bệnh do chủng virút Corona-2019 gây ra. Việc này cho thấy Hội thánh các nơi không tỏ ra “vô cảm” trước tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp và rất nguy hiểm này. Đức tin của chúng ta luôn là một đức tin sống động, nhạy bén, rất thích hợp với từng hoàn cảnh, vì đức tin luôn phải có việc làm để được tỏa sáng. [2] 

Được biết, từ cuối tháng 1-2020, ĐTC Phan-xi-cô đã kêu gọi mọi tín hữu trên toàn thế giới cầu nguyện cho bệnh dịch sớm chấm dứt và cho các nạn nhân do dịch gây ra, đồng thời Tòa Thánh cũng đã gửi 700 ngàn khẩu trang trợ giúp vùng dịch bên Trung Quốc. Các Hội thánh Châu Á như Trung Quốc, Hồng Công, Singapore, Hàn Quốc cũng nhanh chóng kêu gọi các tín hữu cầu nguyện và giúp đỡ các địa phương và các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Điều đặc biệt hơn là tại Hồng Công và Singapore, Hội thánh địa phương đã áp dụng biện pháp “cứng” chưa từng có, đó là tạm dừng tất cả thánh lễ Chúa nhật, kể cả phụng vụ lễ Tro (ngày 26-2-2020) nhằm tránh lây lan trong cộng đoàn. Tất cả cũng là để bảo vệ mạng sống con người và giúp con người sống bình an trong tình hình dịch bệnh diễn biến căng thẳng và phức tạp. [3] 
Từ những thông tin và cảm nhận trên, chúng ta có thể rút ra 2 điều sau:

1- Bình an nhờ sự tín thác vào sự quan phòng của Chúa

Trong cuộc sống, chúng ta sẽ có được bình an là nhờ biết tín thác vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Tín thác có nghĩa là chúng ta xác tín rằng Chúa biết hết mọi sự đã, đang và sẽ xảy ra, đồng thời Người có những đường lối riêng mà chúng ta không thể biết tường tận, nhưng chỉ cảm nhận bằng đức tin.

GLHTCG viết: “Việc Thiên Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ luân lý là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa soi sáng nhờ Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết và sống lại để chiến thắng sự dữ. Đức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa sẽ không cho phép có sự dữ xảy ra nếu Người không rút được sự lành từ chính sự dữ, bằng những con đường mà chúng ta chỉ biết được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu” (số 324). 

Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác của đức tin, chúng ta lại thấy rằng sự quan phòng của Thiên Chúa không tước đi tự do và quyền quyết định của chúng ta. Thánh Au-gus-ti-nô đã nói: “Thiên Chúa dựng nên con người không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người”.

Khi bị bệnh thì ta phải uống thuốc, khi đói thì phải làm việc để có cái ăn, khi ra đường phải đội mũ bảo hiểm để phòng chấn thương do tai nạn, khi bão lụt thì phải tránh, khi chiến tranh xảy ra thì phải di tản vv. 

ĐGM GB Bùi Tuần trong bài “Đừng đổ thừa cho Chúa” đã viết như sau: 
“Tôi có thói quen hay cắt nghĩa tất cả mọi sự đều do Chúa định. Thói quen đó được tôi dùng như một giải pháp đạo đức dễ dàng trấn an lương tâm.

“Chẳng hạn tôi nghèo. Tôi cũng bảo là do Chúa muốn. Nhưng thực ra cũng có thể là do tôi không biết làm ăn. Tôi thấy chiến tranh tàn phá làng tôi, cướp mất gia đình tôi. Tôi cho là do Chúa định. Nhưng thực ra cũng có thể là do tội những người lãnh đạo chiến tranh. Tôi thấy xứ đạo tôi, địa phận tôi, Giáo Hội tôi có những khuyết điểm lớn nhỏ. Tôi cho là Chúa an bài như vậy. Nhưng thực ra cũng có thể là tại lỗi lầm của tôi, của các bề trên tôi, của anh chị em đồng đạo và của cả cộng đoàn Ki-tô hữu …” [4] 
Cầu nguyện trong phó thác và hành động trong khôn ngoan, đó là điều kiện giúp ta sống bình an.

2- Bình an là do ta biết hành động theo ý Chúa 

Ý Chúa luôn là tốt lành và thiện hảo. Trong cuộc sống, có rất nhiều biến cố mà ta phải “đọc” ra ý Chúa là gì ẩn chứa trong đó. Khi nhận ra được ý Chúa như thế nào, ta sẽ hành động đúng và sẽ được sống trong bình an.

Khi ta ốm đau bệnh tật, ta phải đi khám bệnh. Thầy thuốc chỉ định ta phải làm cái này, phải uống thuốc kia, phải theo dõi như thế nào, nếu ta làm theo như vậy là ta đã theo ý Chúa rồi. Tất nhiên ta không loại trừ một số trường hợp xấu, chẳng hạn gặp thầy thuốc dỏm, dùng thuốc giả, bị lừa gạt, tống tiền vv. Lúc đó, nếu chúng ta tin tưởng và cầu nguyện, Chúa sẽ soi sáng ta nhận ra thực hư. 

Thiên Chúa luôn nói với chúng ta ngang qua Lời Chúa trong Thánh Kinh, qua các giáo huấn của Hội thánh, qua lề luật Chúa và Hội thánh, qua các lời dạy và hướng dẫn của người có trách nhiệm, qua các biến cố thường nhật vv...  

Để biết được ý Chúa, điều quan trọng nhất là chúng ta phải cầu nguyện và biết lắng nghe tiếng Chúa. Cầu nguyện để Chúa thông đạt ý của Người cho chúng ta, một cách thâm sâu. Lắng nghe để chúng ta chìm sâu vào mầu nhiệm Lời Chúa. “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6, 9-10). Khi Chúa Giê-su dạy chúng ta cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha, Ngài muốn đưa chúng ta vào tương quan mầu nhiệm giữa Thiên Chúa Cha và chúng ta là con cái Người, để chúng ta hiểu rằng “dưới đất” và “trên trời” cùng một mối liên hệ “phụ tử” thân mật. Không còn khoảng cách nào để chúng ta phải ở ngoài quỹ đạo của tình yêu chăm sóc của một người Cha luôn quan tâm đến con cái mình. 

Khi dịch bệnh xảy ra, chúng ta lo lắng, bối rối, lo sợ. Chúa biết. Có nhiều nơi không có thánh lễ như bình thường, kể cả Chúa nhật, lễ trọng. Chúa biết. Có nhiều nơi linh mục chủ tế, lễ sinh, ca đoàn và giáo dân phải đeo khẩu trang khi đến dự thánh lễ. Chúa biết. Có nhiều nơi giáo dân không dám đến nhà thờ dự thánh lễ, tham gia sinh hoạt, học/ dạy giáo lý vì sợ nhiễm bệnh. Chúa biết. Có nơi giáo dân được cho phép tham dự thánh lễ online và rước lễ thiêng liêng. Chúa biết hết.

Vì chúng ta biết Chúa biết hết, nên chúng ta an tâm. Dịch bệnh có thể sẽ còn xảy ra và gia tăng mức độ thiệt hại, nhưng Cha chúng ta ở trên trời sẽ có cách “mạc khải” cho chúng ta biết kế hoạch của Người. Kế hoạch của tình thương chứ không phải kế hoạch của trừng phạt. Kế hoạch của cứu độ chứ không phải kế hoạch của hư vong. 

Thiên Chúa khôn ngoan lại đầy quyền năng cho nên trong việc quan phòng của Người, Người hành động một cách kỳ diệu, lạ lùng mà trí khôn ta không thể thấu suốt được. “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của Ta cũng không phải là đường lối của các ngươi”(Is 55,8). Vì thế đối với những việc xảy ra cho mình, dù tốt hay xấu, người tín hữu cũng vẫn một lòng tín thác vào tình thương của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã nhắn nhủ các tín hữu: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định ” (Rm 8, 28) ./.
  
Aug. Trần Cao Khải
______________ 
[4]ĐGM GB Bùi Tuần – Nói với chính mình - NXB VH-VN – Năm 2015 trang 111-112


LỜI AI VANG VANG…


Tại sao một số tu sĩ hôm nay khi nói và viết về đời sống thánh hiến thì mang một màu sắc có vẻ bi quan? Có lẽ là do nhìn thấy con số ơn gọi ngày càng giảm sút? Hay phải chăng là do thấy thế hệ tu sĩ trẻ bây giờ không có những biểu hiện “ngoan ngoãn” ? Cũng có thể là do hoàn cảnh xã hội hôm nay đã và đang tiếp tục bị tục hóa?...... Có quá nhiều lý do để lo lắng cho tương lai đời tu.
Trong bối cảnh như thế, lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxico thật đáng để những người đang sống đời thánh hiến cần phải suy nghĩ. Thật vậy, Đức Thánh Cha mời gọi các tu sĩ trở thành những người “đánh thức thế giới”. Cụm từ này ngay lập tức làm ta suy nghĩ rằng thế giới này đang ngủ quên, do đó mới cần được dánh thức. Vậy cần đánh thức như thế nào? Nói thôi đã đủ chưa? Câu trả lời là chưa đủ. Nói là một điều cần thiết nhưng sống điều mình nói còn cần thiết hơn. Người ngôn sứ là người như vậy, phải làm được cả hai điều này thì mới là người ngôn sứ đích thực. Vậy người ngôn sứ cần nói gì và sống gì đây? Trả lời được câu hỏi này thì cũng trả lời được cho vấn nạn cho tương lai đời tu.
1.     Khởi đi từ các lời khấn
Để “đánh thức thế giới”, người tu sĩ nói chung và người nữ tu nói riêng cần phải vượt qua được những thách đố trong đời sống của mình. Thách đố này quan trọng, vốn đã cũ nhưng với xã hội hôm nay thì đòi buộc người tận hiến phải can đảm vượt qua. Đó chính là những thách đố liên quan đến các lời khuyên phúc âm mà các tu sĩ tuyên khấn.
Thật vậy, bản chất cảu lời khấn tuân phục là ta từ bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa qua các bề trên chính thức và hợp pháp của Dòng. Khi nói lên lời cam kết này, tu sĩ đã chấp nhận để cởi bỏ nơi mình sự tự do để định đoạt đời mình. Đây là một điều khó khăn, nhất là trong bối cảnh xã hội hôm nay, con người đẩy tự do của mình lên tới đỉnh điểm để khẳng định cái tôi của mình. Thật ra, đề cao tự do là một giá trị tốt gắn liền với việc tôn trọng con người. Ở đây, người tu sĩ sống đức vâng phục nhằm giới thiệu Đức Kitô là một gương mẫu trong việc tuân phục Chúa Cha và đó là một sự tuân phục trong tự do thật sự.
Nền văn hóa hưởng thụ ngày nay giản lược tính dục thành một thứ trò chơi và gây ra vô số hậu quả về luân lý, đạo đức và tâm lý. Trong hoàn cảnh đó lại nổi bật lên chứng tá sống động của các tu sĩ, đặc biệt là nữ tu, khi họ cam kết chỉ sống trọn vẹn cho Thiên Chúa và từ chối hưởng thụ nhục dục. Đây là một chứng tá cần thiết cho con người hôm nay hơn cả và dành cho mọi thành phần trong xã hội. Điều mà con người cho là không thể thì chính các nam nữ tu sĩ đã cho thấy là có thể và họ đang nêu lên những gương sáng sống động khi họ không đặt tình yêu của mình vào một con người nhưng là mọi người, họ vẫn quân bình trong đời sống, trái tim vẫn đập những nhịp đồng cảm với nhân loại. Nơi các nữ tu thì điều này càng rõ ràng hơn, có lẽ vì Thiên Chúa phú bẩm cho họ có trái tim nhạy cảm và tình mẫu tử sâu sắc. Đời sống độc thân của người tu sĩ hệ tại ở việc họ đón nhận được tình yêu từ Thiên Chúa và từ tình yêu đó, họ được huấn luyện để am tường việc thế nào là yêu thương người khác cách sâu sắc. Chính đời sống và việc làm của các nữ tu như săn sóc người già, trẻ em mồ côi, chăm sóc và nâng đỡ những chị em lầm lỡ….đã và đang trở nên lời ngôn sứ cho thế giới này.
Xã hội và con người hôm nay đang ngủ quên trên những của cải vật chất và do đó, ai có nhiều tiền bạc và của cải thì có tiếng nói và quyền lực. Thế mà các tu sĩ vẫn can đảm thưa lên lời đáp trả với tất cả ý chí và tự do, đó là sống khó nghèo theo gương Đức Giêsu. Lời khấn khó nghèo tự bản chất là việc người tu sĩ chấp nhận từ bỏ ước muốn được sở hữu mọi của cải vật chất. Để nói và sống được điều này không phải là dễ, vì xã hội hôm nay cái gì cũng nại đến tiền bạc và nó trở nên thước đo giá trị con người. Sống khó nghèo là người tu sĩ chấp nhận sống nghịch lại với nền văn hóa này và đồng thời đó cũng là lời phản bác lại với những gì mà nền văn hóa này cho là cốt yếu và hạnh phúc. Khi sống khó nghèo, tu sĩ trở nên lời ngôn sứ bằng việc chia sẻ với người nghèo, không chỉ trong phương diện vật chất mà còn cả trong phương diện tinh thần.
Những lời khuyên Phúc âm hôm nay cần được hiểu nhiều hơn về phương diện ý nghĩa đối với đời sống thánh hiến cũng như sứ vụ mà đời sống này lăn xả vào. Lời khấn Tuân phục được hiểu rộng hơn qua từ ngữ “lắng nghe”, như thế tu sĩ không chỉ làm theo cách máy móc mà còn biết lắng nghe từ Đấng ban Lời và dám làm theo cũng như dám chịu trách nhiệm. Lời khấn Khó nghèo được đặt trọng tâm ở sự trung thực và lời khấn Khiết tịnh là ở việc mỗi tu sĩ trở thành con người yêu thương hơn và mở ra hơn.
2.     Đời sống cộng đoàn – một chứng tá hữu hiệu
Hầu hết các tu sĩ đều sống cộng đoàn. Đó có thể là một cộng đoàn hiểu theo nghĩa chặt, là các tu sĩ sống và làm việc cùng với nhau. Nhưng cộng đoàn cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là các anh chị em thuộc các Tu hội đời, họ sống ở gia đình và làm việc theo nghề nghiệp riêng của mình. Tuy nhiên, tất cả đều là một môi trường lý tưởng để trở thành người “đánh thức thế giới”.
Thật vậy, chính trong môi trường này mà những lời khấn có một ý nghĩa thực tế hơn. Nói cách khác, đây là nơi mà mỗi tu sĩ thực thi Lời khấn của mình. Đó là một sự chia sẻ thời giờ, năng lực, cả con người và những gì chúng ta có như Đức khó nghèo mời gọi. Đức khiết tịnh lại là một qui chiếu về một thái độ sẵn sàng yêu thương, mở rộng mối tương quan mà các buổi họp cộng đoàn đã khơi lên. Đây cũng là nơi mà Đức vâng phục tìm thấy một sinh lực sống mới mẻ như một lời đáp trả cho tiếng gọi của Thiên Chúa và của tha nhân. Cộng đoàn không chỉ là nơi mà những con người sống với nhau để cùng thực thi một tác vụ nhưng còn là nơi mà những người sống trong đó được mời gọi để chia sẻ cùng một tầm nhìn và sẵn sàng cố gắng hết sức để tầm nhìn đó được thực hiện.
Năm 1850, Hội dòng Đaminh Đức Mẹ Rất Thánh Mân Côi Monteils được thành lập. Cha Gavalda nhìn thấy tình trạng mù chữ và sự phân biệt giàu – nghèo trong xứ sở nên đã mời gọi sự cộng tác của cô cháu gái là Alexandrine và cũng tiếp tục với tầm nhìn đó, các nữ tu trong những ngày đầu thành lập và cho đến bây giờ vẫn cùng nhau chung sức đồng lòng để làm cho tầm nhìn đó trở thành những việc làm cụ thể: dạy chữ cho người nghèo, không phân biệt kì thị giai cấp, ngôn ngữ, tôn giáo…, ngôi nhà các Soeur ở phải là ngôi nhà ở giữa làng và hướng về làng.
Hôm nay khi trở thành một nữ tu Đaminh Monteils, tôi cũng được mời gọi chung tay với chị em trong Hội dòng để thực thi sứ vụ trở thành ngôn sứ. Bản lề của đời tu không gì khác hơn chính là Lời khấn, Linh đạo và Cộng đoàn. Để sống và rao giảng trong xã hội hôm nay, tôi không chỉ cần nắm được những lý thuyết và tuân giữ đầy đủ mà quan trọng hơn là tôi hiểu được ý nghĩa và thường xuyên cật vấn mình là tại sao mình sống như thế. Luôn bám chắc vào bản lề trên, tự khắc tôi và bạn sẽ cảm thấy được sự cần thiết của việc thinh lặng, cầu nguyện, khổ chế và hi sinh.
Vai trò ngôn sứ của các tu sĩ phải trải dài suốt cả đời thánh hiến. Sẽ không thiếu những bước thăng trầm, không được lắng nghe nhưng lời ngôn sứ vẫn phải vang vọng không ngừng. Đảm nhận vai trò ngôn sứ đồng nghĩa với việc đón nhận sự chống đối, sự bách hại…như Thầy Giêsu đã từng nói với các môn đệ năm xưa. Cần lắm một tấm lòng thủy chung của các nữ tu đối với Đấng Lang Quân. Các nữ tu đã từng được coi là “ái nữ của Giáo hội”, và vẫn mãi giữ được vị trí này. Đời tu còn tồn tại hay không chờ đợi chính câu trả lời nơi chứng tá và sứ vụ của các tu sĩ hôm nay.
HOA ĐẤT


THÁNG 1


THÁNG 1


NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
01/01
Lễ Mẹ Thiên Chúa
Bổn Mạng Tu Viện
MẸ THIÊN CHÚA
03/01
Lễ Thánh Genevièvè
Chị Chúc
25/01
Lễ thánh Phaolô TĐ Trở lại
Dì Cẩm
27/01
Lễ thánh Angèle Merici
Chị Lành
31/01
Thánh Gioan Boscô, Lm
Chị Vy

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN


NGÀY
LỄ GIỖ

27/01

 

27/01/2009

(02/01/2009 ÂL)

Ông cố Antôn - Thân phụ chị Hữu

Bà cố Anna - Thân mẫu Dì Nhơn

31/01/2007

(13/12/2006 ÂL)

 

31/01/2016

(22/12/2015 ÂL)

Ông cố Giuse - Thân phụ Chị Phương (Lourdres)

Bà cố Catarina – Thân mẫu Dì Nga


  

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

Chúa Giêsu chịu phép rửa năm A
Lời Chúa: Mt 3,13-17


Chúng ta có ngạc nhiên không khi nghe nói Chúa Giêsu chịu phép rửa? Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng hoàn toàn thánh thiện không liên lụy với tội lỗi, thế nhưng sao Ngài lại đến xin Gioan làm phép rửa cho Ngài?
Phép rửa của Gioan chỉ là phép rửa trong nước, là một hình thức ăn năn thống hối, không có hiệu lực tha tội. Ngài muốn chịu phép rửa không phải để xin ơn tha tội, nhưng là muốn hòa mình vào đám người đang đến với Gioan, nghe lời ông giảng và tỏ lòng ăn năn thống hối. Chúa Giêsu muốn chứng tỏ rằng Ngài đến là để kêu goi người ta ăn năn thống hối để đón nhận ơn cứu độ Ngài mang đến cho họ.
Chúa Giêsu đến xin ông Gioan làm phép rửa cho Ngài, làm cho ông sững sờ, vì ông biết ai đang xin ông làm phép rửa: “Chính tôi mới cần được Thầy làm phép rửa…” Gioan công nhận mình là người tội lỗi và cũng công nhận Chúa Giêsu là Đấng vô tội. Nhưng cần phải… giữ trọn đức công chính, tức là làm theo ý Chúa.
Trước mặt Chúa, tất cả chúng ta đều là kẻ tội lỗi. Chúng ta cần đươc thanh tẩy. Và Chúa Giêsu đã đến mang lại cho chúng ta, không phải một phép rửa bằng nước mà trong Thánh Thần. Chúa Giêsu được dìm trong dòng nước chứng tỏ Ngài trở thành như chúng ta để nâng chúng ta lên. Đây phải chăng là một cách diễn tả lại mầu nhiệm Nhập Thể? Ngài lên khỏi dòng nước và một điều xảy ra, nhiệm mầu, mà thánh sử xem như trời mở ra. Chúa Giêsu mở cửa trời cho tất cả những ai nhìn nhận mình tội lỗi và thành tâm thống hối theo vết chân Ngài. Từ nay cửa trời không còn đóng kín nữa và một thời mới đã mở ra cho chúng ta. Thánh Thần Chúa đổ xuống trên Ngài dưới hình thức chim bồ câu. Điều đó chứng tỏ Chúa Giêsu tràn đầy Thánh Thần. Sứ vụ của Ngài là mang ơn cứu chuộc đến và con người tội lỗi chúng ta sẽ được Thánh Thần thanh tẩy để trở thành con người mới trong Thánh Thần như thánh Phaolô nói.
Một hiện tượng khác xảy đến, đó là Chúa Cha từ trời phán: “Này là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. Cả Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện trong biến cố này, chứng tỏ rằng việc cứu chuộc là việc của cả Ba Ngôi Thiên Chúa, chứ không riêng gì của Chúa Giêsu. Đây chính là một sự tỏ hiện rõ ràng tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta. Thánh Gioan đã nói: “Chúa Cha đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình cho thế gian”. Và đúng thế, Chúa Cha đã tuyên bố một cách minh nhiên cho chúng ta biết: “Đây là Con yêu dấu của Ta”. Không những Chúa Cha chứng thực mà chính Thánh Thần Chúa cũng chứng thực khi đến đáp trên Chúa Giêsu. Vì thế, nhờ Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần, chúng ta được nhận vào gia đình của Chúa Cha, chúng ta trở nên con Thiên Chúa.
Con Thiên Chúa! Chúng ta có cảm thấy vui mừng khi nghĩ rằng mình là con Chúa không? Đúng ra chúng ta hãy vui mừng cất lên lời tạ ơn như Đức Mẹ đã tạ ơn: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, lòng trí tôi nhảy mừng trong Chúa… Vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ”. Được làm con Thiên Chúa là một hồng ân lớn lao vượt quá trí tưởng tượng của chúng ta, vì thế một số đông trong chúng ta không cảm thấy gì cả. Nghe nói vậy thôi. Chúa đã đoái thương chúng ta, sai Con Một đến giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, mở cửa Nước Trời cho chúng ta, biến chúng ta thành con Chúa. Cả một tình thương trời bể mà chúng ta không ý thức đủ! Nguyện xin Chúa Thánh Thần soi dẫn tâm trí chúng ta, để chúng ta hiểu biết tình thương Chúa hơn và đáp lại.
Mấy người trong chúng ta vui mừng khi đọc kinh của Chúa Giêsu dạy: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”? Thánh Phanxicô Assisi, một ngày nọ đi với một thầy trong dòng. Vì đường còn xa, thánh nhân đề nghị với thầy là mình đọc kinh lạy Cha. Khi đến cổng nhà dòng, thánh nhân hỏi thầy: “Thầy đọc bao nhiêu kinh?” Thầy vui mừng đáp: “Thưa Cha, con đọc được hai trăm năm chục kinh. Thầy hỏi lại: “Còn Cha?” Thánh nhân đáp: “Tôi đọc chưa được một kinh”. Thầy ngạc nhiên, thánh Phanxicô mới giải thích: “Tôi chỉ nói được tiếng lạy Cha mà thôi, vì khi tôi nói tiếng lạy Cha, tôi vui mừng và cảm thấy hạnh phúc đến nỗi tôi không thể nói gì khác”. Ước chi chúng ta cũng cảm thấy hạnh phúc như thánh nhân khi nghĩ rằng chúng ta được gọi Chúa là Cha. Chúng ta có một người cha vô cùng đáng mến mà chúng ta không mấy yêu thương. “Hãy nên trọn lành như Cha anh em ở trên trời là Đấng trọn lành”. Chúa Giêsu ước mong như thế. Chúng ta đừng làm cho Ngài thất vọng, đừng để cho những gì Ngài làm cho chúng ta ra vô ích.
Để giúp chúng ta trở nên con của Chúa Cha, Chúa Giêsu không ngại liều mạng cho chúng ta. Ngài hóa thân thành một của ăn để cho chúng ta nuốt Ngài vào cơ thể chúng ta để cùng sống với chúng ta, giúp chúng ta trở nên những đứa con mà Chúa Cha yêu mến. Chớ gì khi nhìn đến chúng ta, Cha trên trời có thể nói: “Đây là con Ta rất yêu dấu, Cha hài lòng về con”.
Lm. Trầm Phúc