ĐỜI SỐNG CHUNG

Ngạn ngữ Anh quốc có câu: “không ai là một hòn đảo”. Thật vậy, con người sinh ra đâu chỉ sống cho chính mình nhưng còn là sống cho, sống với người khác. Mọi việc cá nhân thực hiện đều có ảnh hưởng đến người khác.

Đời sống cộng đoàn là nét đặc trưng của đời sống tu trì. Nét đặc trưng ấy được thể hiện cách cụ thể qua đời sống yêu thương hiệp nhất trong cộng đoàn; và đó cũng là dấu chỉ cho người môn đệ của Đức Kitô (x. Ga 13,35). Khi sống yêu thương hiệp nhất thì cộng đoàn tu trì đã phát triển hết tất cả sự phong phú của mình. Thật vậy, khi ấy cộng đoàn sẽ không là cộng đoàn thuần túy nhân loại, không là một thực tại tầm thường nhưng mang tính thiêng liêng vì cộng đoàn ấy được tham dự vào mầu nhiệm tình yêu Ba Ngôi. Tuy nhiên để có thể xây dựng cộng đoàn hiệp nhất, yêu thương, thiết nghĩ cần nhận diện được những thách đố đặt ra cho đời sống ấy. Trong viễn tượng ấy, bài viết dưới đây là những suy tư cá nhân về những khó khăn mà đời sống cộng đoàn có thể gặp phải dưới khía cạnh những tương quan (tự nhiên) trong cộng đoàn.
1.       
Đời sống cộng đoàn bắt nguồn từ mầu nhiệm Ba Ngôi. Chính Ba Ngôi là suối nguồn tình yêu. Tình yêu ấy được thể hiện trong tương quan Cha-Con-Thánh Thần. Người sống đời thánh hiến sẽ thông phần tình yêu ấy cách đặc biệt nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần và mỗi người chỉ có thể sống mầu nhiệm Ba Ngôi trong cộng đoàn khi yêu thương bằng chính tình yêu của Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần được đổ xuống trong lòng: “vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Ngài đã ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Khi sống yêu thương là mỗi người được hiệp thông và góp phần họa lại mầu nhiệm ấy trong cộng đoàn. Bởi vì, một mặt đời sống cộng đoàn phải là họa ảnh của tình yêu Ba Ngôi giữa lòng trần gian, đồng thời, chính nếp sống cộng đoàn sẽ giúp mỗi thành viên sẽ sống đời tận hiến cách trọn hảo hơn. Vì thế, nhiệm vụ của người sống đời thánh hiến là sống và làm chứng cho tình yêu ấy chính nơi đời sống cộng đoàn của mình.
2.       
Không ít người thường quan niệm đời tu là một thiên đàng trần thế. Chính vì vậy mà nhiều người bước vào đời sống tu trì (cộng đoàn) với những đợi chờ từ hình ảnh một cộng đoàn lý tưởng trong tâm trí mình: mọi người sống yêu thương và hiệp thông trong tình huynh đệ từ đời sống tinh thần đến đời sống vật chất. Tuy nhiên, trong thực tế ngoài những người đã tìm được niềm vui, sự hiệp thông trong đời sống cộng đoàn, vẫn còn đó không ít người chỉ thấy nét tiêu cực và đời sống chung là một gánh nặng cho bản thân. Có thể nêu ra một số thực trạng: thiếu thống nhất trong cuộc sống và những tác động tiêu cực từ môi trường xã hội.
Thật vậy, nhiều người sống đời thánh hiến đã tách biệt đời sống cộng đoàn với việc mục vụ. Cuộc sống trong cộng đoàn như là một sự hiện diện thụ động, không “ăn nhập” với đời sống chung. Họ tự phân mảnh đời sống của họ, tách rời chính mình với đời sống cộng đoàn. Điều này gây ra những tác động tiêu cực đến từng cá nhân và cả cộng đoàn vì cuộc sống con người gồm nhiều phương diện: thể lý, đạo đức, tinh thần… những khía cạnh ấy hòa quyện chặt chẽ với nhau làm nên một tổng thể hữu cơ. Đời sống của một cá nhân chỉ triển nở khi họ chú ý phát triển đúng đắn và hài hòa mọi phương diện trong đời sống nhất là đời sống chung trong cộng đoàn.
Một thế giới năng động nhưng cô độc và trống vắng đang xâm nhập nhà tu. Xã hội hiện đại đa phức, bận bịu của cuộc sống, mê cung của các trào lưu làm người sống đời thánh hiến dễ bị phân mảnh và cuốn vào dòng chảy ấy với nguy cơ lạc mất chính mình. Người sống đời thánh hiến sẽ lạc mất chính mình và làm biến dạng đời sống yêu thương của cộng đoàn khi không chấp nhận mình và đón nhận nhau; khi không biết đối thoại và lắng nghe nhau; khi sống thờ ơ với nhau và không dành thời giờ quan tâm đến nhau.
3.       
Bước vào tu là bước vào hành trình sửa đổi để mỗi ngày nên tốt hơn. Tiến trình sửa ấy không phải ngày một ngày hai nhưng là suốt đời. Nhất là sửa trong đời sống chung vì mỗi người có những đặc điểm và lịch sử cá nhân khác nhau. Khi hiểu và chấp nhận của người khác, mỗi người sẽ trưởng thành và làm phong phú ơn gọi riêng của mình. Thật vậy, mỗi người đều có một nét đặc thù và khác biệt riêng về: tâm lý, văn hóa, tính tình, khả năng và mỗi người là một bông hoa với vị trí riêng trong cộng đoàn, góp phần làm nên vẻ đẹp chung của cộng đoàn sống đời thánh hiến. Cộng đoàn người sống đời thánh hiến cần đến sự đa dạng của các thành viên “không có sự chia rẽ trong thân thể, trái lại, các bộ phận đều lo lắng cho nhau” (1Cr 12,25). Nên điều tiên quyết là mỗi người cần phải đổi mới cách nhìn và lối sống để trở nên người đồng hành của nhau. Cụ thể, cần khiêm tốn chấp nhận chính mình và đón nhận anh chị em với tất cả con người của họ. Chấp nhận chính mình với những điểm yếu, khiếm khuyết và tập đón nhận cái yếu đuối của anh chị em. Những điểm giống nhau giúp hiểu nhau nhưng chính việc đón nhận những khác biệt giúp yêu thương và làm phong phú cho nhau. “Sự hiệp nhất và đa dạng kết hợp với nhau thành sự phong phú. Mỗi người mang những gì Thiên Chúa đã ban cho riêng mình để làm cho người khác trở nên phong phú… cộng đoàn như một dàn nhạc trong đó tất cả cùng chơi chung với nhau trong sự hòa hợp nhưng âm sắc của mỗi nhạc cụ không bị xóa bỏ mà trái lại đặc tính riêng của từng nhạc cụ sẽ đạt đến mức tối đa” (ĐGH Phanxicô, Yết kiến chung, ngày 09/10/2013).
Ngoài ra, mỗi thành viên cần ý thức giới hạn để cần sự trợ lực của người khác. Mỗi người có một nét độc sáng trong chương trình của Thiên Chúa. Cộng đoàn là những người tìm kiếm và kinh nghiệm về Thiên Chúa. Do đó, mỗi người đều cần sự trợ lực. Khi một người biết chấp nhận chính mình sẽ dễ dàng mở rộng tâm hồn đón nhận những trợ lực nơi anh chị em của mình.“Một nhân cách vững mạnh nhưng bình thản nhẹ nhàng, được xây dựng trên việc vui lòng chấp nhận sứ mạng độc nhất và giới hạn duy nhất của mình. Chỉ khi nào một người chấp nhận chính thực tại của mình thì mới thấy được bình an nơi chính mình.”(Adrian Van Kaam, C.S.Sp., Religion and Personality, New York: Englewood Cliffs, 1964; Nhân cách tôn giáo, Ngô Văn Vững dịch, trang 73-74). Khi ấy, mỗi người sẽ sống dưới và cho những đòi hỏi của ân sủng; biết lấy khuôn mẫu hành xử của Thiên Chúa với chính mình cư xử với anh chị em. Nhờ vậy, đời sống cộng đoàn sẽ trở nên phong phú và triển nở. Đức Giê-su là Thiên Chúa tương quan. Mỗi người được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên con người cũng phải xây dựng chính mình qua mối tương quan ấy với Thiên Chúa và  tha nhân.“Đức tin là một cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su và chúng ta phải làm điều Đức Giêsu đã làm là gặp gỡ người khác” (ĐGH Phanxicô, Lời huấn dụ dành cho các phong trào giáo dân, ngày 18/05/2013). Anh chị em là bước đầu để gặp gỡ Đấng Tình quân; và lắng nghe nhau là bước đầu để thiết lập mối tương quan với anh chị em trong cộng đoàn.
4.       
Sống tinh thần phục vụ và hăng say cho sứ vụ là đòi hỏi quan trọng nhưng đời thánh hiến đâu chỉ là như thế. Đời sống người thánh hiến trên hết và trước hết là sự gắn bó với Đức Kitô nên phải dành giờ để lắng nghe và gặp gỡ Người (x. Lc 10, 39) để rồi đến với anh chị em trong cộng đoàn. Tuy nhiên, do những ảnh hưởng khác nhau, người sống đời thánh hiến ngày càng khó ra đi để gặp gỡ anh chị em. Lý do có thể là nhiều người thường có thái độ nhìn anh chị em với cặp kính tối màu; hoặc việc “làm ngơ”, “bịt mắt bịt tai chẳng thèm nghe” xem như không có sự hiện diện của anh chị em trong cộng đoàn. Với thái độ như thế, người sống đời thánh hiến không thể hiệp thông. Khi ấy cộng đoàn nên như hỏa ngục và anh chị em là gánh nặng cho nhau.
Để phá vỡ tình trạng chiến tranh lạnh ấy, khả năng đối thoại và lắng nghe nhau là điều rất quan trọng. Đó là chiếc cầu để đi vào thế giới của người khác. “Phải đi ra luôn luôn! Chúng ta hãy làm điều này với tình yêu thương và dịu hiền của Thiên Chúa trong sự tôn trọng và kiên nhẫn”(ĐGH Phanxicô, Yết kiến chung, ngày 27/3/2013). Con người cần lắng nghe nhau hơn là nói. Vì thế mỗi người cần “một đôi tai thật to và một cái miệng nhỏ”. Bí quyết để đối thoại và lắng nghe hiệu quả là sự kiên nhẫn, quên mình, lắng nghe với cả con tim chân thành và đến với anh anh chị em với tất cả con người chứ không bằng những mặt nạ.“Tự bản thân con người là không hoàn hảo, con người cần phải có tương giao. Con người cần phải lắng nghe. Chỉ như vậy, con người mới có thể nhận biết chính mình, mới trở thành chính mình” (x. Bài nói chuyện của ĐGH Bê-nê-đi-tô, đăng trong bản tin tổng hợp trên trang web: hđgmvietnam.org ngày 28/2/2010).
5.       
Ngạn ngữ Anh quốc có câu: “không ai là một hòn đảo”. Thật vậy, con người sinh ra đâu chỉ sống cho chính mình nhưng còn là sống cho, sống với người khác. Mọi việc cá nhân thực hiện đều có ảnh hưởng đến người khác. Nếu quan tâm đến chính mình quá sẽ khiến người sống đời thánh hiến loại trừ tất cả khi đó đường về nhà Chúa với họ sẽ bị mất hút trong bụi cây ích kỷ. Thái độ quy ngã sẽ làm giảm bớt sự cởi mở và tham gia với anh chị em. Quả vậy, đời sống của mỗi thành viên phải mở rộng với thực tại và hiện diện đầy đủ với mọi người. Thần học gia Karl Rahner trong tác phẩm Doctrine anh Life, đã nói: “không thể có cảm nghiệm về Thiên Chúa, nếu không được một cảm nghiệm về thế giới làm trung gian. Cái là trung gian cho cảm nghiệm về Thiên Chúa chủ yếu là liên hệ của con người với những con người khác”. Nhiều người chỉ biết chăm chăm chú chú cho việc của riêng mình hơn là lo cho việc chung với phương châm “việc ai người ấy làm”. Vì bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cá nhân, con người ngày trở nên ích kỷ, nhiều cộng đoàn trở nên như nhà trọ; mỗi người chỉ biết đời sống riêng tư của mình và lao vào mọi thứ công việc dưới danh yêu thương và phục vụ vì cộng đoàn nhưng thật ra là chỉ đi tìm bản thân và làm theo ý mình. Đây là mối đe dọa hàng đầu cho sự hiệp thông trong cộng đoàn. Do đó, mỗi thành viên cần phải quan tâm đến anh chị em của mình. Vì đời sống cộng đoàn là một đời sống đặt trên sự tương quan: tương quan giữa cá nhân và cộng đoàn. Đó là một tương quan hai chiều và cả hai cùng hỗ tương cho nhau: “chúng ta liên đới với nhau như những bộ phận của một thân thể” (Rm 13,5).
6.       
Nhiều người sống đời thánh hiến có nguy cơ là tín đồ của “căn bệnh thờ ơ”: cùng sống trong cộng đoàn mà chẳng biết điều gì đang xảy ra với anh chị em và cộng đoàn. Trong cộng đoàn sẽ có những thành viên “yếu nhược về thể lý hoặc rã rời về tinh thần”. Nếu không quan tâm cộng đoàn sẽ “biến” họ trở thành những khách trọ hay những con chiên bị bỏ mặc, cô đơn và lạc lõng ngay chính trong cộng đoàn. Điều này khiến họ bị đẩy họ ra xa và sống tách biệt với cộng đoàn. Họ là những người cần được khích lệ và giúp đỡ nhất. Trớ trêu thay và nghịch lý thay! Bởi vì “Chính nhờ tình yêu của Thiên Chúa được đổ tràn trong tâm hồn chúng ta mà cộng đoàn tu trì khởi đầu và được xây dựng thành một gia đình thực sự, trong đó mọi người quy tụ với nhau nhân danh Chúa.” (Bộ Tu sĩ, Đời sống huynh đệ cộng đoàn, số 8).  Những thành viên khác cần quan tâm đến những anh chị em này cách đặc biệt để họ cảm thấy họ thuộc về cộng đoàn và tích cực trong việc xây dựng cộng đoàn qua việc kết hợp với Chúa Ki-tô chịu đau khổ. “Lắng nghe quan tâm câu chuyện của những người đang chịu đau khổ, nâng đỡ bước chân của những người không thể tự mình bước đi. Hãy gạt bỏ mọi hình thức ngạo mạn, hầu biết cúi xuống với tất cả những ai mà Thiên Chúa đã trao ban” (ĐGH Phan-xi-cô, Giáo hội giàu lòng thương xót, NXB Tôn giáo 2015, trang 106, bản dịch việt ngữ của Augustine Nguyễn Minh Triệu S.J).
Không chỉ với những anh chị em ấy, mà bệnh thờ ơ cũng xảy ra với chính những thành viên “bình thường” khác. Đôi khi, mỗi người chỉ “gặp” nhau trong công tác mà chưa gặp được chính con người của nhau. Người sống đời thánh hiến cần phải cân bằng giữa sứ vụ và đời sống cộng đoàn. Những công việc bên ngoài đã chiếm hết thời gian cho nhau và cho đời sống cộng đoàn. Khi ấy, các thành viên sẽ tham gia các sinh hoạt chung mang tính chiếu lệ. Sống như thế là xem thường tinh thần trách nhiệm với tập thể mình đang sống. Để xây dựng cộng đoàn phát triển, mỗi cá nhân cần phải hiện diện đích thực như những con người sống động, dấn thân với tất cả tâm hồn vào công việc và trách nhiệm chung trong cộng đoàn. Nếu không, người sống đời thánh hiến dễ rơi vào nguy cơ: có thể rất thành công trong công việc mục vụ nhưng lại mất đi căn tính của đời tu. Người viết thiển nghĩ: mỗi người cần phải tự vấn: tôi sẽ làm gì cho cộng đoàn chứ không phải cộng đoàn sẽ đem đến cho tôi điều gì?
 Kết luận
Chiều kích cộng đoàn là yếu tố quan trọng trong đời tu. Chiều kích này tuy phong phú tùy từng cộng đoàn nhưng cùng quy về một mục đích theo sát gót Đức Giêsu.  Thiếu yêu thương và hiệp nhất trong cộng đoàn tu trì sẽ làm cộng đoàn thiếu thuyết phục khi làm chứng tá cho tình yêu Chúa và sự sống động của Tin mừng. Do đó, mỗi thành viên trong cộng đoàn cần phải tích cực góp phần xây dựng đời sống cộng đoàn hiệp thông trong huynh đệ: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Cần phải phối hợp hài hòa và nhịp nhàng giữa sứ vụ và cộng đoàn. Trách nhiệm của mỗi thành viên trong cộng đoàn phải cố gắng cộng tác, xây dựng tích cực để bầu khí cộng đoàn tu trì trở nên đầm ấm và được tràn ngập tình huynh đệ hiệp nhất yêu thương. 

Felicitas


CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN - A

Tích xưa kể rằng: Hàn Tín thời Hán Cao Tổ, thuở hàn vi phải đi câu cá đổi gạo mà ăn. Thế mà có những lúc không đủ ăn. Có bà thợ giặt cảm thương đã mời Hàn Tín đến dùng cơm tại nhà. Hàn Tín đi đâu cũng mang thanh gươm kè kè bên mình.
Một hôm, có tên đồ tể Ác Thiểu muốn hạ nhục Hàn Tín, chận đường thách:
Chú thường mang gươm, chả biết để làm gì! Bây giờ tôi không cho chú đi. Chú có gan thì sẵn thanh gươm đó hãy chém tôi đi, bằng không thì phải lòn trôn tôi mà đi.
Hàn Tín chẳng chút do dự, lòn trôn tên hạ tiện đó mà đi, vì tự nhủ: "Giết thằng này thì được rồi, nhưng mà lấy mạng mình đổi mạng nó, thì không đáng tí nào!"
Sau Hàn Tín nhờ có công giúp Hán Cao Tổ dựng nước mà được phong làm Vua Tam Tể. Lúc bấy giờ, Hàn Tín bèn mời bà thợ giặt đến biếu nghìn lạng vàng để tạ ơn. Rồi không những không thèm trả thù tên đồ tể mất dạy xưa, lại phong cho hắn chức Trung Huý. Ác Thiểu rất ngạc nhiên, khúm núm nói: "Lúc trước tôi ngu lậu thô bỉ, đã dại dột xúc phạm đến oai nghiêm ngài, nay tội ấy được tha chết là may, còn dám mong đâu ban chức tước?
Hàn Tín ôn tồn bảo: "Ta chẳng phải là kẻ tiểu nhân hay cố chấp, đem lòng thù hận. Hành động của ngươi ngày xưa tuy quá đáng, nhưng cũng là bài học luyện chí cho ta. Vậy nhà ngươi chớ tị hiềm mà hãy nhận chức ta ban".
Lối báo đền ân oán của Hàn Tín thật là hay. Đối với người ân thì ban thường, song đối với người oán cũng vẫn ban thưởng chớ không trả thù. Thật là một người quân tử.
Là người con của Chúa, Chúa dạy chúng ta hãy làm hoà trước để khỏi xảy ra điều tai hại hơn. Đây là một lời khuyên quan trọng: chẳng những không được làm hại ai hay có ý mưu hại ai, mà còn phải đi trước một bước mà làm hoà. Nói rõ hơn, trước một điều bất công, vô tình hay hữu ý, thiên hạ gây cho ta: như xỉ nhục, xỉ vả, chê cười, nói hành, vu vạ, cáo gian... Tất nhiên lòng tự ái chúng ta bị va chạm, không thể nhịn được, lòng chúng ta như muốn trả đũa ngay. Đó là tính tự nhiên của con người. Nhưng Chúa muốn chúng ta sống khác hơn, sống cao thượng hơn. Chúa muốn chúng ta tha thứ và làm hoà. Tha thứ và làm hoà là điều kiện phải có để đến với Chúa. Không thể đến với Chúa mà lòng còn ngổn ngang những tức giận, ghen tương, đố kỵ. Nhân vô thập toàn, ai cũng có những lầm lỗi, ai ai cũng cần được tha thứ, thế nên cũng cần phải biết tha thứ cho nhau. Người ta vẫn thường nói để sống với Chúa cần có đức tin để mình tin tưởng, phó thác cậy trông vào Chúa giữa những phong ba của dòng đời, và để sống với tha nhân, cần phải có lòng độ lượng, để mình sống bao dung và tha thứ cho người khác. Nếu chúng ta không có lòng độ lượng có lẽ mình sẽ chẳng sống được với ai, và cũng chẳng ai sống được vời mình. Đây cũng là điều mà Chúa mời gọi chúng ta phải công chính hơn những người biệt phái trong tình yêu tha thứ. Không chỉ yêu kẻ yêu mình mà còn yêu cả kẻ ghét mình. Không chỉ quý mến kẻ thi ân cho mình mà còn làm ơn cho kẻ làm hại chính mình. Bởi vì, oán báo oán thì oán chập chùng. Chúa mời gọi chúng ta hãy tha thứ cho kẻ thù, hãy làm hoà cùng kẻ thù và hãy cầu nguyện cho kẻ thù. Chính Chúa đã sống tình yêu đó trên thập tự giá, nơi đó người ta đã tuôn đổ sự tàn ác trên thân thể Ngài, thế mà Ngài vẫn xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm. Tình thương Chúa không dừng lại ở việc tha thứ mà còn thi ân cho mọi người, kẻ lành cũng như người dữ. Kẻ thờ phượng Chúa cũng như kẻ chống đối lại Chúa.
Ước gì mỗi người chúng ta hãy sống tình thương bao dung đó cho anh em của mình. Hãy quên đi những xúc phạm của nhau. Hãy làm hoà để thêm bạn bớt thù. Hãy tha thứ để tìm được sự bình an tâm hồn cho bản thân và cho những người chung quanh. Xin Chúa là Đấng hằng thương xót và tha thứ, xin giúp chúng ta biết tha thứ lỗi lầm của anh em, như Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Amen.

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

TÌNH YÊU LÀ GÌ?

Chúng ta thường nghe nói là người ta có thể nghĩ ngợi những việc trên trời nhưng lại kém cỏi những việc dưới đất. Đó là điều mà chúng ta không thể qui trách Thiên Chúa được. Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa quan tâm đến trần thế. “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3, 16). Đó là Chúa Giêsu và “Ngài đã trở nên xác thịt và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14).
Tình yêu bằng xương bằng thịt
Chúa kêu gọi chúng ta sống một tình yêu có tính cách trần thế, hữu hình, bằng xương bằng thịt và mang đặc tính thiết thực. Tình yêu đó không bị gò bó trong khuôn khổ luật lệ. Bạn có thể tuân giữ mọi luật lệ mà bạn bắt buộc phải giữ, nhưng rồi bạn cũng sa ngã trong những tội trọng.
Ân ái trong hôn nhân là một thí dụ. Ân ái trong hôn nhân được luật lệ cho phép. Trong thực tế, chính đó là thời gian duy nhất được phép, miễn là người ta không tìm kiếm sự khoái lạc “thái quá”! Tôi thiết tưởng đó là từ ngữ được sử dụng trong những sách thần học luân lý cổ xưa. May mắn thay, quan điểm đó đã được duyệt xét lại.
Trong hôn nhân, ân ái có thể bị cưỡng chế. Như vậy, tuân giữ luật lệ cũng chưa đủ. Tình yêu, chứ không phải luật lệ, mới là trắc nghiệm của hôn nhân. Nói theo ngôn từ của Chúa Giêsu: cứ dấu nầy mà thế gian biết được anh là chồng của em, do bởi tình yêu của em đối với anh; hay ngược lại.
Điều có ý nghĩa nhất mà chúng ta có thể thực thi trong cuộc sống hằng ngày, theo như Chúa Giêsu, là “thực thi tình yêu.” Nhờ có thực hành mới nên trọn hảo. Tuy nhiên, chúng ta phải rất thận trọng trong việc “thực hành như thế nào.”
Đa số trong chúng ta sống với những người mà chúng ta không bao giờ nói với họ là chúng ta yêu thương họ. Chúng ta không bao giờ nắm tay họ. Chúng ta không bao giờ làm cho họ cảm thấy thoải mái với chính họ. Chúng ta không bao giờ khen họ một tiếng. Mark Twain đã nói: “Tôi có thể viết một lời khen tặng trong hai tuần lễ.”
Những bức thư tình
Có lần tôi nói chuyện ở sân trường học với một chị có chồng. Chị là mẹ của hai em học sinh nhỏ tuổi. Trước đó chị rời xa thành phố để thăm viếng mẹ già. Chị nói về chồng của chị như sau: “Khi con mở va-li ra, con thấy một bức thư tình ngắn mà anh đã nhét vào trong đó để cho con đọc mà thôi. Bức thư tình đó làm con sung sướng nhất trong ngày.”
Rồi bằng một cái chớp mắt, chị nói thêm: “Trước khi rời nhà, con cũng để lại cho anh một bức thư tình ngắn, dưới cái gối được quấn lại trong bộ đồ ngủ của anh, cùng với một gói sô-cô-la mà anh ưa thích.”
Tôi thiết nghĩ anh chị đó đã thắng cuộc. Họ đang thực thi tình yêu và đã thành công. Đó là một tình yêu đang mang dấu ấn của một tương giao vợ chồng thắm thiết.
Hẳn bạn đã kết hôn? Lần cuối cùng bạn viết thư tình cho chồng hay vợ đã xảy ra bao lâu rồi? Có phải đó là lần trước khi bạn sắp làm đám cưới? Một tình yêu không mang sắc thái cá nhân và có tính cách thiết thực thì không phải là một tình yêu đậm đà cho lắm.
Nhiều đôi vợ chồng ngày nay gọi nhau bằng “Ba” hay “Mẹ’ hoặc “Ông” hay “Bà”. Họ không gọi nhau bằng chính tên riêng của người đó. Thật là kỳ dị và chói tai biết bao, bởi vì chúng ta thích nghe người khác gọi đích danh chúng ta. Tôi chắc chắn không âm thanh nào đầy xúc động và có tác dụng tâm lý mạnh mẽ cho bằng khi gọi người phối ngẫu bằng chính tên thật của họ.
Chúng ta có thể gọi người phối ngẫu bằng “cưng” hay “mìmh”, nhưng không có một chút căn bản nào để gọi bằng “Ba” hay “Mẹ”, “Ông” hoặc “Bà”. Nếu quí bạn có thói quen gọi như thế, tôi đề nghị bạn làm như sau:
Trước khi bạn ngủ, bạn hãy quay sang người phối ngẫu nằm bên cạnh và thay vì nói “Ba”, “Mẹ”, “Ông” hay “Bà”… “ngủ ngon!” thì hãy vỗ vào lưng người đó và nói: “Humphrey, ngủ ngon!” hay “Cathy, ngủ ngon!” Bạn chỉ làm như thế khi bạn thực sự ngủ với một người tên là “Humphrey” hay “Cathy”.
Hy vọng bạn hiểu ý tôi muốn nói. Điều nầy xem ra không phải linh thiêng cho lắm nhưng nếu bạn càng suy tư, bạn sẽ thấy thật linh thiêng trong đó. Thiên Chúa là tình yêu và ở đâu có tình yêu thì Thiên Chúa hiện diện nơi đó.
Một chút chú ý
Điều trên đây cũng áp dụng cho trẻ con nữa. Bạn thường nghe người ta nói: “Hết mọi trẻ con đều muốn được chú ý.” Vậy thì một chút chú ý có gì sai lầm trong đó? Chú ý là khởi điểm đưa vào tình yêu. Tình yêu là chú ý đến những nhu cầu và ước muốn của trẻ con.
Các trẻ con cũng phải chú ý đến cha mẹ. Cha mẹ bạn là song thân duy nhất mà bạn có trên đời. Bao lâu bạn lưu tâm tới điều đó thì bạn sẽ thấy cha mẹ bạn là những người tốt nhất trên trần thế. Vậy bạn nên nói với họ: họ là những người tuyệt vời nhất. Ít ra bạn hãy nói với họ mỗi ngày một lần như thế. Điều đó không làm mất mát gì cho bạn nhưng khiến cha mẹ bạn vui sướng khôn tả.
Hãy quan tâm đến những nhu cầu của những người làm chung sở với bạn. Chẳng hạn dịp sinh nhật của một đồng nghiệp! Bạn hãy gởi cho họ một tấm thiệp. Cũng không phải chuyện gì to tát lắm đâu. Điều đó không làm thâm thủng trương mục ngân hàng của bạn. Nhưng, Chúa biết, điều đó mang lại một sự khác biệt lớn lao.
Gỏi một tấm thiệp trong những trường hợp tương tự có thể không phải là một việc linh thiêng cho lắm, nhưng đó là một cử chỉ đơn giản, thanh lịch mà trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã khuyên bảo và thối thúc.
Tình yêu là thực tiễn, chứ không phải trừu tượng
Phúc Âm không kêu mời chúng ta đi vào một ý hướng mang nặng tính chất trí thức để vươn tới một ý niệm thiêng liêng. Phúc Âm mời gọi chúng ta yêu thương trong những cảnh ngộ thường tình xảy ra hằng ngày. Chúng ta được mời gọi yêu thương những người đối diện chúng ta trong cuộc sống thường nhật.
Không phải ai cũng dễ dàng trong việc bộc lộ tình cảm. Đối với nam giới xem ra khó khăn hơn nữ giới. Vậy nếu nam giới bộc lộ tình cảm trở thành một vấn nạn thì nên đánh rơi hình ảnh của một “đại trượng phu” và chấm dứt việc cư xử có tính cách câm nín thờ ơ.
Thoạt đầu, không dễ dàng gì để biểu lộ tình cảm. Có thể bạn xem ra vụng về lúng túng. Nhưng cứ tiếp tục, đừng buông xuôi. Hãy cố thực tập. Thực tập giúp trở nên hoàn hảo, nhất là khi bạn thực tập đúng cách.
Bất cứ ai cũng có thể nói: “Tôi tin tưởng Chúa.” Điều đó thật dễ dàng. Nhưng sống với tình yêu đó mới khó! Trên bình diện nhân sinh, chúng ta yêu nhau một cách hiện thực, hữu hình và có thể đụng chạm được thì chắc chắn chúng ta đang ở một cao tầng, tốt đẹp nhất và cao quí nhất, đồng thời “cùng hòa nhịp với cuộc sống” nữa.
LM Vincent Travers, OP
Hương Vĩnh chuyển ngữ

SỐNG TRỌN KIẾP NGƯỜI

Khi cất tiếng khóc chào đời, chúng ta khởi đầu hành trình dương thế hay bước vào kiếp người. Hành trình cuộc đời của mỗi người dài ngắn khác nhau. Có những hành trình nhẹ nhàng êm ả, nhưng cũng có những hành trình gai góc gian truân. Dù ngắn hay dài, dù nhẹ nhàng hay vất vả, mỗi chúng ta đều phải cố gắng để sống trọn kiếp người.

Cuộc sống này đầy phong ba bão táp. Sống ở đời phải can đảm kiên trung và chấp nhận những thử thách ấy. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Chắng có ai sống trên cõi đời này mà không gặp gian nan. Những vĩ nhân được ca ngợi trong lịch sử, cũng như những vị thánh của Giáo Hội, đều là những người “từ đau khổ lớn lao mà đến”. Họ không nản lòng trước những khó khăn, nhưng bình tâm trước những vu khống, bao dung tha thứ cho những xúc phạm, sống hiền hòa kể cả với địch thù. Có người khi đứng trước khó khăn tưởng chừng như ngõ cụt của cuộc sống, đã tiêu cực tìm đến cái chết như một phương pháp giải thoát, để lại đau khổ cho những người thân. Người ta nói “Thử thách của can đảm không phải là dám chết mà là dám sống và thực hiện ước mơ của mình”. Tự kết liễu cuộc đời được xem như hèn nhát, nhất là trước những thất bại do chính mình gây ra. Nếu sai lỗi mà tìm đến cái chết, thì làm sao còn cơ hội để sửa lại? Những người kiên trì can đảm, vững vàng vươn lên sau vấp ngã, chắc chắn sẽ thành công để tiếp tục bước đi, để sống trọn kiếp người.

Giáo Hội công giáo thường phong thánh cho những tín hữu đã có một đời sống thánh thiện, mẫu mực. Việc phong thánh chỉ được thực hiện cho những người đã chết, vì sự thánh thiện chỉ được chứng minh và xác nhận khi một người đã sống trọn kiếp người nơi dương thế. Luật Giáo Hội cũng quy định, địa phương, nơi người tín hữu đó qua đời mới có quyền thỉnh nguyện xin Toà Thánh tôn phong. Lý do vì chỉ những ai chứng kiến người tín hữu ấy sống đạo đức cho đến hết đời mới chứng minh người ấy có thực sự thánh thiện hay không. Đơn cử trường hợp Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Ngài là người Việt, nhưng trong những năm tháng cuối đời, ngài làm việc tại Rôma. Vì thế Giáo phận Rôma được quyền làm hồ sơ và dâng thỉnh nguyện lên Đức Thánh Cha để ghi nhận sự thánh thiện và phong chân phước cho ngài. Hiện nay, tiến trình phong chân phước đã hoàn thiện ở cấp giáo phận Rôma. Ngài được gọi với danh xưng “Tôi tớ Chúa” và hồ sơ đã được trình lên Đức Thánh Cha cho những bước kế tiếp. Vị Hồng y đáng kính của chúng ta, cũng như biết bao tín hữu khác đang được xét duyệt để tôn phong, đã sống trọn kiếp người.

Ngôn ngữ Việt Nam gọi một người vừa qua đời là “mãn phần”, tức là đã đầy đủ, trọn vẹn thời gian và hoàn thành phận vụ của mình trên dương thế. Tuy vậy, có người mãn phần mà chưa trọn kiếp, nghĩa là những người chết mà còn những dang dở trăm chiều. Có người sống thất đức, suốt đời làm nhưng điều xấu xa, cuối đời không thể nhắm mắt. Người khác ra đi trong lúc còn vương vấn nợ đời. Đó là những món nợ vật chất, nhưng cũng là những món nợ ân nghĩa mà mình nỡ phủi tay theo kiểu “qua sông dìm đò”, “qua cầu rút ván”. Có những người sống vô trách nhiệm với gia đình và những người thân, đến cuối đời trăn trở một mối ân hận khôn nguôi. Họ muốn chuộc lại lầm lỗi nhưng quá muộn, chẳng còn cơ hội nữa. Rất may trong cuộc sống đầy bon chen này, thời nào cũng có những người cố gắng sống nhân hậu. Họ ý thức rằng “gieo nhân nào, gặt quả nấy”. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng họ vẫn cố gắng giữ cái tâm trong sáng, hiếu thảo với cha mẹ ông bà, chân thành với bạn bè lối xóm. Đến khi mãn phần, họ ra đi thanh thản, để lại cho hậu thế tiếng thơm. Đúng như người ta nói: “Hãy sống sao để khi ta sinh ra, ta cất tiếng khóc, mọi người cười, và khi ta ra đi, ta cười mãn nguyện trong lúc mọi người khóc”. Những người trút hơi thở cuối cùng khi đã chu toàn bổn phận với cuộc đời, thanh thản ra đi để lại những kỷ niệm đẹp, nhất là tình thương mến dạt dào nơi những người quen biết, đó là những người đã sống trọn kiếp người.

Cách nay hai ngàn năm, có một người đã đi trọn kiếp người trong sự thánh thiện và trong hy sinh tự hiến, đó là Đức Giêsu Kitô. Người là Con Thiên Chúa nhập thể để cứu độ con người. Thánh Gioan, tác giả của Tin Mừng thứ bốn, đã ghi lại lời Chúa Giêsu khi hấp hối: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30). Người đã hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, khi đón nhận thập giá và chết thảm thương như một người tử tội. Qua cuộc khổ nạn và cái chết của Người, lời Kinh Thánh từ ngàn xưa được ứng nghiệm. Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng trong tâm tình vâng phục Chúa Cha và yêu mến con người. Cái chết của Chúa Giêsu, cũng theo Tin Mừng thánh Gioan, được diễn tả như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo với Chúa Cha: “Người gục đầu trao Thần Linh” (Ga 19,30). Thần Linh là Ngôi Ba Thiên Chúa, xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con. Ngài cũng là Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Tình yêu ấy đã trở thành một ngôi vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Giờ đây, trên thập giá, Chúa Giêsu “trao Thần Linh”, tức là trao sự sống và tình yêu cho Chúa Cha. Đây vừa là một nghĩa cử hiếu thảo, vừa là một cử chỉ của tình yêu mến và vâng phục hoàn toàn. Trên thập giá, Đức Giêsu là mẫu mực cho mọi con người, là lời mời gọi hãy sống vì người khác, hãy cho đi mà không cần tính toán, hãy yêu thương mà không mong đáp đền. Vị Ngôn sứ thành Nagiarét đã sống trọn kiếp người

“Sống ở đời, Trời gọi ai, nấy dạ”. Câu nói bình dân này diễn tả huyền nhiệm của sự chết. Chẳng ai biết thời điểm của sự chết. Cũng chẳng ai biết sẽ chết trong hoàn cảnh nào. Dù trẻ hay già, dù sang hay hèn, Ông Trời gọi ai thì người ấy đi, chẳng ai đi thay được, cũng không ai nấn ná khất lần. Khi biết rằng cái chết là bất chợt, mỗi chúng ta hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Đó cũng là lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng (x. Mt 24,42-51). Dù không biết đó là lúc nào, nhưng chắc chắn giờ chết sẽ đến. Nếu giờ ấy là thời điểm kinh hoàng đối với những ai chủ quan sống trong đam mê hận thù, thì lại là giây phút hân hoan hội ngộ đối với những ai cố gắng sống trọn kiếp người.

Nghĩ về cuộc sống tương lai, mỗi chúng ta được mời gọi sống tốt hiện tại, vì tương lai là kết quả của những gì chúng ta đang cố gắng thực hiện ngày hôm nay. Tác giả của những câu chuyện ngụ ngôn người Pháp, ông La Fontaine, đã viết: “Hãy sống vô tư nhưng không khinh suất; vui tươi nhưng không ầm ĩ; can đảm nhưng không liều lĩnh; tin tưởng và vui vẻ cam chịu nhưng không theo thuyết định mệnh”. Cuộc sống hằng ngày đầy gian nan phức tạp, nhưng cũng là cơ hội để chúng ta rèn luyện bản thân và từng bước trưởng thành. Người tín hữu tin rằng, môi trường sống hằng ngày cũng là nơi họ được Chúa sai đến để làm chứng cho Ngài. Hiền hòa nhân hậu, bác ái khiêm nhường, bao dung tha thứ... những đức tính căn bản giúp này vừa giúp chúng ta phản ánh sự thánh thiện và lòng nhân từ của Thiên Chúa, vừa giúp cho chúng ta sống trọn kiếp người.


Gm Giuse Vũ Văn Thiên

NHÀM CHÁN! LỖI CỦA CHÍNH CHÚNG TA

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove, đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ.  Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh luôn dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó. Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

Nhưng không lâu sau khi trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân. Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa. Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạnh giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó.  Ngày nay, khi có trong tay những thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao? Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng.  Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta. Tại sao lại không? Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa. Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó. Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng. Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác. Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng. Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày. Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó. Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lỳ, và thông lệ. Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình.  Enstein đã nói thế đấy.

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.] Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững. Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị. Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị. Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự. Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.
 phanxicovn

J.B. Thái Hòa chuyển dịch