CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN - A

Đối với người Do Thái, Lề luật có tầm quan trọng số một. Thái độ trước lề luật chính là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá một con người. Đức Giêsu cũng được các đồng bào Người đánh giá và chấp nhận dựa trên tiên chuẩn này; vì thế mà Người lên tiếng tuyên bố: “Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” lề luật.
Không ai có quyền bãi bỏ luật lệ, trừ chính vị ra luật hay nhà lập luật. Trong Ít-ra-en, chỉ mình Đức Chúa Gia-vê có quyền này; ngay cả Môsê cũng không, vì ông chỉ là người truyền đạt cho dầu luật có mang tên ông. Luật này cũng không cần được ai kiện toàn vì nó đã hoàn hảo; có chăng chỉ là giải thích và đó là bổn phận dành riêng cho các luật sĩ. Hiểu như thế thì lời công bố của Đức Giêsu có thể bị coi là lộng ngôn, vì không ai có quyền bãi bỏ cũng như không ai được phép ‘kiện toàn’ - sửa chữa bộ luật Môsê đã truyền lại.
Thông thường thì người ta sẽ coi như phá luật những kẻ không cặn kẽ tuân giữ lề luật. Rõ ràng nhóm Biệt Phái và luật sĩ đã nhận xét Đức Giêsu là như thế, do đó đã liệt Người vào hạng tội lỗi, vì cho rằng Người có thái độ coi thường, bất tuân luật thánh, cụ thể trong việc giữ ngày Sa-bát và các nghi thức tẩy rửa.
Về phần Đức Giêsu, Người luôn khảng định việc căn kẽ giữ luật là cần thiết “một chấm một phết trong lề luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành”. Các môn đệ hiểu rõ điều đó cho nên sau này, kể cả khi Đức Giêsu đã về trời, họ vẫn tuân giữ căn kẽ mọi lề luật Môsê. Các tông đồ còn muốn mọi tín hữu (nhất là các người gốc Do Thái giáo) phải tiếp tục giữ trọn luật pháp theo lời Chúa dạy: “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời”. Tuy nhiên, sứ mạng đích thực của Đức Giêsu không nhằm kêu gọi dân chúng giữ luật. Điều này đã được các Pharisêu, các luật sĩ và Gioan Tiền hô làm bằng nhiều cách. Người khảng định: “Thầy đến… để kiện toàn luật Môsê!” Và không chỉ Người, mà bất cứ kẻ nào tin vào Người cũng phải kiện toàn lề luật như thế: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vài Nước Trời”. Tác giả Matthêu thẳng thắn muốn các tín hữu gốc Do Thái (đối tượng chính của sách Tin Mừng ông viết) phải hiểu rằng: Đức Giêsu và các lời Người dạy tuy không chống lại nhưng cao trọng hơn luật Môsê rất nhiều, “Luật xưa dạy rằng…. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…” Thế thì ta phải hiểu điều các khảng định này theo ý nghĩa nào?
Trước hết ở đây ta không được hiểu Đức Giêsu tự giới thiệu mình là một nhà lập pháp mới (legislator novus), theo nghĩa giao ước mới thì đòi phải tuân giữ luật mới, cũng như giao ước cũ phải tuân giữ luật cũ của Môsê. Không! Giêsu không phải là người làm luật, nhưng là người làm cho mọi luật được nên trọn. Không có Người, luật lệ cho dầu có thể là rất tốt, rất hoàn chỉnh, vẫn chưa có thể được coi là trọn; và duy nhất chỉ một mình Người mới làm được điều đó. Ai tin vào Đức Giêsu, đặc biệt qua biến cố tử nạn và phục sinh của Người, đều có khả năng kiện toàn, hay làm cho nên trọn bất kỳ luật lệ nào họ nắm giữ (dầu là luật dân sự bất toàn hay luật tôn giáo thánh thiện). Lòng thương xót, từ ái cứu độ của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu mạc khải, mới là nền tảng duy nhất để canh tân và kiện toàn mọi thứ luật lệ. Chỉ cần nhìn vào các trường hợp được nêu trong bài Tin Mừng: không giết người, không ngoại tình, ly dị, thề gian dối… ta mới thấy chỉ Tin Mừng tình yêu Thiên Chúa mới có thể kiện toàn và làm cho chúng được nên trọn tới thế. Sự nên trọn này chắc chắn không hệ tại ở luật pháp hoàn hảo hơn hay kém, nhưng hệ tại ở thái độ bình an và tự do ta có khi nắm giữ các lề luật đó, trong tư thế của một người con được Chúa Cha yêu thương. Không tin tuyệt đối vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô Giêsu, ta sẽ không bao giờ có được thái độ này, và đương nhiên sẽ thấy khó có thể chấp nhận các đòi hỏi của luật pháp, kể cả những lề luật hoàn thiện và cao đẹp nhất.
Phaolô biết rõ hơn ai hết sự cao đẹp của luật Môsê, nhưng cũng chính vì thế mà ông càng xác tín hơn ai hết về giới hạn của nó so với Tin Mừng. Trong chương 3 thư gởi giáo đoàn Ga-lát ông lấy hình ảnh người giám hộ để chỉ luật Môsê rất thánh thiện (và bất cứ luật lệ nào khác, kể cả luật Hội Thánh), và hình ảnh con cái tự do để chỉ sự ‘kiện toàn - nên trọn’ của niềm tin vào Đức Kitô Giêsu. Tôi thiết nghĩ ông quả đã nắm bắt rõ vấn đề: “Khi đức tin đến, thì chúng ta không còn ở dưới quyền giám hộ nữa… vì tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa…” (Gl 3,25-26)
Ôi, niềm tin Kitô hữu vào tình yêu Thiên Chúa nhân ái thứ tha có khả năng nâng chúng ta lên cao biết mấy, vượt xa sự kiểm tỏa của luật pháp, cũng như mọi lo lắng sợ hãi của thưởng phạt nghiêm minh!
Trong tư cách là công dân Việt Nam, là Kitô hữu, là tu sĩ - linh mục... con phải khoác lên mình biết bao nhiêu thứ luật lệ. Con thâm tín một điều rằng không một luật lệ nào trong số đó tự nó có thể cứu thoát được con. Lạy Chúa từ nhân! Xin cho con được như Phaolô xác tín rằng: chỉ có niềm tin vào Chúa cứu độ và từ nhân mới giúp con làm cho các luật trên được nên trọn, đồng thời biến con thành con cái tự do đích thực của Cha trên trời. A-men

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty

LỰA CHỌN

Trong cuộc sống thường nhật ta thường có những sự lựa chọn với nhiều phương diện khác nhau như: thái độ đối với bản thân-tha nhân, tình cảm, mục tiêu, tương lai, nghề nghiệp, ước mơ, ý nghĩa cuộc đời… Nhưng những lựa chọn, quyết định đó có giúp ta thăng tiến bản thân hay những người xung quanh không? Có thể hiện sự tôn trọng hoặc bảo vệ tư cách, đạo đức của bản thân ta và người khác không? Đó là những vấn đề cần đặt ra cho sự lựa chọn.
Lựa chọn giữa điều tốt-điều xấu đã khó, giữa điều tốt và tốt hơn lại càng khó khăn hơn. Vì vậy ông bà thường dạy con cháu: “làm người phải đắn phải đo/ phải toan phải tính phải dò nông sâu” (Ca dao Việt nam).
1.Bản chất của sự lựa chọn
Ngay từ “lựa chọn” cũng đã thể hiện bản chất của nó, “lựa” rồi sau đó mới “chọn”. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Có những lựa chọn làm ta đắn đo, giằng co, cân phân kỹ càng để tránh những lầm lẫn đáng tiếc. Vì sau những sự lựa chọn sẽ tạo ra những khúc quanh mới cho cuộc đời, và “kết quả cuối cùng của ta khi sống trên đời này, sẽ luôn là tổng số của những chọn lựa do ta đặt ra trong khi sống” (Shad Helmstetten).
Bản chất của sự lựa chọn đã là vấn đề, và không lựa chọn cũng là một chọn lựa. Tùy từng vấn đề, sự việc mà ta có từng tiêu chuẩn lựa chọn riêng, khi so sánh trên cùng một hay nhiều bình diện, để có cùng một giá trị hay không? Và giá trị đó là gì? Như sống trong thời hậu Khai Minh người ta cho rằng: “Tư duy khoa học là chìa khóa cho mọi vấn đề quan trọng trong thế giới này”. Nhưng thế giới giá trị hoàn toàn khác so với thế giới khoa học. Độ dài, cân nặng, khối lượng không thể so sánh với những giá trị đạo đức, tình yêu, công bình, bác ái…Do đó, dùng phương án tương đương khi so sánh trên nhiều phương diện, đó mới là chọn lựa khả dĩ.
Ngoài ra, khi đối diện với những lựa chọn khó, nó thường khai thác sức mạnh tiềm ẩn trong ta. Chính khi hội tụ đủ các yếu tố ngoại tại và nội tại, đến lúc thuận lợi nó sẽ tạo nên hiệu ứng mà ngay chính bản thân ta cũng không ngờ. Với lựa chọn khó ta có thể phản chiếu những yếu tố của nó vào bản thân, vào lý tưởng sống, mục đích sống của ta, và thông qua lựa chọn đó ta trở thành con người đó với chính căn tính của mình. Bởi vì những chọn lựa khó là:“nấc thang cho bậc anh tài, là kho tàng cho người khôn ngoan và là vực thẳm cho kẻ yếu đuối ”.
Và rồi, việc lựa chọn đúng hay sai không quan trọng cho bằng qua lựa chọn đó ta hiểu rõ hơn về: sự vật, hiện tượng, vấn đề quanh ta, và càng quý giá hơn là đào luyện bản thân, và hiểu rõ về bản ngã của mình. Vì “Tự biết mình” là điều quan trọng nhất, cấp thiết nhất, và cũng là triết lý mà triết gia Socrate cả đời đã rao giảng.
2.Thái độ khi lựa chọn
-Tham khảo ý kiến từ người khác. Chính ta cần chủ động trong những lựa chọn lớn nhỏ hằng ngày. Cuộc sống sẽ thành hay bại, ý nghĩa hay vô nghĩa, tầm thường hay cao quý đều do ta lựa chọn. Nhưng có nhiều thái độ khi đối diện với sự lựa chọn. Để tránh bớt những sai lầm, ta có thể đi bàn hỏi từ những bậc thầy thông thái, nhất là những người có kinh nghiệm chuyên môn về vấn đề ta đang cần suy tính. Qua đó ta có thêm kiến thức, kinh nghiệm, sự khôn ngoan để rồi quyết định lựa chọn của ta được thành công tốt đẹp.
Tự mình phân định. Ta có thể tự mình suy xét, lọc lựa, phân tích những lựa chọn. Nhiều người thường chia tờ giấy làm hai và liệt kê những phương án với thông tin, dữ liệu gồm ưu điểm, khuyết điểm; tích cực, tiêu cực…xét trên cùng một, hay nhiều phương diện, để rồi đưa hết lên bàn cân giá trị, và chọn ra một phương án khả thi nhất. Phương cách này khả quan, nhưng đòi ta xem xét sự lựa chọn này trong thái độ cụ thể, rõ ràng, khách quan.
Tin vào vận may. Cũng có người lo sợ lựa chọn của mình sẽ làm cuộc sống bế tắc nên đành phó mặc cho vận may rủi của nhân duyên. Họ có thể tung đồng xu lên và quan niệm rằng: “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, hay theo kiểu: “ai nói sao tôi làm vậy” để rồi “vâng lời tối mặt”. Với quan niệm chủ quan này họ là người trôi giạt, vì cho phép sự hên xui, hay người khác viết lên kịch bản cuộc đời mình. Lối sống này dần thui chột óc sáng tạo, khả năng tư duy phán đoán. Tệ hơn nữa là đánh mất chính mình. Bởi vì lựa chọn khó có những cơ hội quý giá của nó. Vì vậy: “Người bản lĩnh thì tin vào bản thân mình, người tầm thường thì tin vào vận may” (Benjamin Disraeli).
Do dự vì muốn “bắt cá hai tay”. Có người muốn “bắt cá hai tay”, muốn chọn cả hai phương án. Nhưng khi tình thế đòi buộc chọn một trong hai thì họ lại đắn đo do dự. Có khi họ biết rõ những giá trị đích thực con đường phải đi nhưng lại không đủ can đảm để lựa chọn. Để rồi hậu quả tổn thất là lẽ đương nhiên. Trong bài hát Gieo bước hành trình có câu: “đừng phân vân, bi quan sẽ làm tất cả muộn màng, cuộc sống quanh ta luôn vội vã”. Vì vậy, khi tình trạng do dự kéo dài một nguồn năng lượng lớn trong ta nhanh chóng bị tiêu hủy. Để rồi chẳng được gì mà lại tổn thất hư hao, tệ hơn nữa có thể là mất trắng.
Sợ thất bại. Có nhiều người sợ thất bài đến nỗi không dám chọn lựa. Người xưa thường nói: “Tiên cũng có khi đọa, thánh cũng có khi lầm”. Abraham Lincoln đã kinh qua hết thất bại này đến thất bại khác trong suốt 28 năm. Năm 1833, ông mắc chứng suy nhược thần kinh và bị thua cuộc khi ra ứng cử chức vụ phát ngôn viên. Năm 1848, ông bị thua cuộc tái nhiệm chức vào Quốc Hội và bị gạt bỏ chức nhân viên đất đai (land officer) vào năm 1849. Năm 1854, ông bị thua trong cuộc bầu cử vào Thượng Nghị Viện. Hai năm sau ông lại bị thua trong cuộc bổ nhiệm vào chức phó tổng thống và một lần nữa thất bại trong cuộc bầu cử cho Thượng Nghị Viện năm 1858. Tuy nhiên, lòng ông vẫn kiên định, bất chấp những thất bại. Năm 1860, ông đắc cử tổng thống và đi vào lịch sử là một trong những tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ. Vì vậy, hãy cứ mạnh dạn, can đảm bước đi trên con đường ta đã lựa chọn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng từng thổn thức: “Ai nên khôn không khốn một lần…dậy mà đi…” vì vậy “cứ đi ắt sẽ đến” (Ts. Alan).
3.Tình yêu là nền tảng của sự lựa chọn
Tình yêu là giá trị cao cả nhất. Bởi vì điều quan trọng làm nên cuộc sống cao đẹp không phải là: những tài sản lớn lao, học vị tiến sĩ, kỹ sư, chồng giỏi, vợ đẹp, con khôn hay được mọi người vỗ tay ca tụng…Nhưng, “vì Thiên Chúa là tình yêu nên giá trị lựa chọn chính yếu cũng là tình yêu. Tôi sẽ đưa giá trị đó vào trong những công việc rất bình thường của đời sống hằng ngày, để rồi lựa chọn hay làm việc tất cả đều phát xuất từ tình yêu mến Chúa và tình yêu thương anh chị em ” (x. HTXHCG, số 580).
4. Cầu nguyện trước những lựa chọn.
“ Hoạt động mà không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa. Máy móc tự động có thể làm tốt hơn ta” (x. Số 117 Đường Hi Vọng). Thật vậy, sống là hoạt động, mà sự hoạt động được hòa điệu trong tâm tình cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là phương cách giúp ta thoát ly nỗi lo lắng, sợ hãi,  nhưng cầu nguyện là thái độ sống tin yêu, phó thác. Khi cầu nguyện ta không mong Chúa đổi ý, cứu ta thoát khỏi những khổ ải, phiền não hay sự chết, nhưng cầu nguyện chính là gặp gỡ Chúa với nỗi lo lắng, giằng co của thân phận con người, mỏng giòn yếu đuối, để từ đó ta bình tâm và xác tín rằng : “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.” (Rm 14,8)
Đi vào cầu nguyện, Ta sẽ đặt ý Chúa lên trên hết, nhất là trong những sự lựa chọn. Để rồi, nội tâm ta chan hòa sức sống, can đảm, mạnh mẽ, dễ chỗi dậy trong mọi tình trạng, vì tâm hồn luôn có Chúa ở cùng, chính Ngài sẽ nâng đỡ và làm cho ta những điều kỳ diệu (1V 19,1-8). Chúa muốn nói với ta như đã từng nói với Giôsuê rằng, “Ta há không có dặn ngươi sao? Hãy mạnh dạn và can đảm lên. Đừng sợ sệt, đừng chán nản, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi sẽ ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi” (Gs 1,9).
5. Lựa chọn trong đức tin .
Không phải lúc nào ta cũng hiểu hết con đường mình đã chọn, vì vậy chỉ cần tiên đoán hơn một nửa là may mắn lắm rồi. Phần còn lại ta tiếp tục trải nghiệm, khám phá với tất cả bản lĩnh tài năng của mình” (Thiền sư Minh Niệm). Lựa chọn, đây là quyết định để đi vào một cuộc hành trình và càng tuyệt vời hơn khi ta biết tin tưởng, phó thác đời mình trong tay Chúa. Để chính Ngài hoạch định nên cuộc đời ta “như ta là”. Vì mỗi người là một công trình riêng biệt của Thiên Chúa, mà Chúa Thánh Thần đang âm thầm xây dựng.
Đức tin giúp chúng ta tiến bước và hiện hữu” (x. Is 7,9), và châm ngôn: “Crede ut intellias” nghĩa là “Tin để hiểu”. Tin thác vào Chúa để hiểu Chúa hơn và thấy được Chúa đang đồng hành với ta trong những chọn lựa, quyết định để rồi ta càng có thêm những kinh nghiệm mới về chính mình và về Thiên Chúa, bởi vì “những kinh nghiệm mới về Thiên Chúa được định hình nhờ đức tin có sẵn” (Nhà thần học Ormond Rush).
Nhìn lại lịch sử cựu ước và tân ước, có nhiều mẫu gương đáng để ta học hỏi trong vấn đề chọn lựa. Nổi bật là tổ phụ Apraham. Khi đã 75 tuổi, Ngài ra đi về vùng đất mà Thiên Chúa chỉ định với sự vâng phục trong đức tin. Khi phải đem người con duy nhất lên núi hiến tế, Ngài cũng một lòng ký thác nới Thiên Chúa…Ngài có tự do để lựa chọn theo ý riêng mình. Nhưng đức tin dẫn dắt sự chọn lựa, để rồi Apraham được đẹp lòng Thiên Chúa và được lưu danh hậu thế như là cha của vô số dân tộc, là cha của kẻ tin. Mẹ Maria cũng vậy, đối diện với những sự lựa chọn: cưu mang Đấng Cứu Thế, làm Mẹ Thiên Chúa, đồng công chuộc tội nhân loại…Có thể xem những chọn lựa của Mẹ là đi vào cuộc phiêu lưu, mà có thể nguy hai đến cả tính mạng. Nhưng từ tiếng “xin vâng” trong đức tin, Mẹ đã vâng phục Thiên Chúa cách triệt để (x. Lc 1,45). Để rồi Mẹ được Thiên Chúa vinh thưởng với biết bao danh hiệu cao vời, và đời đời ca tụng.
Tóm lại, “ta đừng quá lo lắng cho con đường mình đã chọn hay phải chọn, vì thái độ bước đi trên con đường đó mới thực sự quan trọng” (x. Hiểu về trái tim). Thái độ đó là: “can đảm bước đi trên những lựa chọn của mình với tất cả trí tuệ, sức mạnh của con tim và niềm tin tưởng lạc quan nơi quyền năng của Thiên Chúa, Đấng tác tạo và hướng dẫn muôn vật theo kế hoạch yêu thương nhiệm màu của Ngài”  (x. Đường vào thần học về tôn giáo- Nguyễn Thái Hợp, O.P).


Giuse Nguyễn Minh Đức

VẬN MAY HAY VẬN RỦI

Có con chuột bị sa vào hũ gạo đầy ắp. Ban đầu, nó đau đớn khóc lóc vì bị té đau. Nhưng sau đó lại hết sức vui mừng vì phát hiện ra chung quanh mình toàn là gạo thơm.

Ta thường cầu chúc cho mọi người gặp được nhiều may mắn. Nhưng ít khi ta tự mình trầm tư suy nghĩ: thật ra, may mắn có nghĩa là gì? Hẳn đó là một mong ước cho người ta có được những điều tốt đẹp trong cuộc sống, được thành tựu những gì mình khát khao. Cầu chúc người ta may mắn là chúc cho người ta được hưởng phúc lành từ trời, để thụ hưởng một cái gì đó vô cùng tuyệt vời nằm ngoài những phán đoán và tính toán của người ta. Nếu không, đó sẽ không còn là “may” nữa, nhưng chỉ là kết quả của một quá trình phấn đấu nỗ lực của người ta mà thôi.

Sự may mắn làm cho người ta rất thích thú, vì nó là cái “bỗng dưng” xảy đến với mình, mang cho mình sự ngạc nhiên. Ta gọi mình may mắn hơn người khác khi ta có được cái mà người khác không có, dù người ta hơn mình mọi đàng. Ta như thể thấy mình được chọn lựa giữa nhiều người để thụ hưởng đặc ân này. Ta tự hào về mình, cho rằng chắc có lẽ mình “nhỉnh” hơn người ta một chút, hay mình “nhân đức” hơn người chút xíu mới được Trời thương, thưởng cho hồng phúc này. Từ đó, ta thấy được ý nghĩa sự hiện hữu của mình, thấy mình được bao phủ bởi hồng ân. Niềm hạnh phúc cũng từ đó mà bừng lên trong tim thật mạnh mẽ.
Nhưng cuộc đời có quy luật cân bằng vay trả. Đạo gia có nói về nguyên lý: trong dương có âm, trong âm có dương. Trong cái rủi có cái may, nhưng trong cái may cũng có cái rủi. Chẳng có gì từ trên trời rơi xuống cho ta cách không không. Nhận điều gì, ta cũng mang vào mình một sứ mạng, một lời mời gọi, nếu không, chính cái mà ta vừa lãnh nhận và cứ ngỡ là phần thưởng ấy, sẽ quay lại làm hại ta. Thậm chí, nhiều khi, chính cái vận may ấy lại điều báo trước cho cái không hay sắp xảy đến.

Có con chuột bị sa vào hũ gạo đầy ắp. Ban đầu, nó đau đớn khóc lóc vì bị té đau. Nhưng sau đó lại hết sức vui mừng vì phát hiện ra chung quanh mình toàn là gạo thơm. Nó thầm tạ ơn Trời rồi từ từ gặm lấy từng hạt gạo ngon. Nó tự nhủ từ đây nó sẽ không cần phải đi đâu để kiếm ăn, cũng không cần phải tranh giành với con chuột nào nữa. Nó tự thấy mình may mắn hơn biết bao nhiêu con chuột khác đang phải vất vả ngoài kia. Nghĩ thế, nó mỉm cười hạnh phúc! Rồi từng ngày trôi đi, hũ gạo vơi dần, chỉ còn lại vài hạt dưới đáy. Con chuột phát hiện ra rằng nó không thể nào ra khỏi cái hũ. Khi gạo còn nhiều, chạm tới miệng hũ, nó chỉ cần phóng một cái là có thể ra ngoài. Nhưng giờ đây, gạo đã nằm hết trong bụng nó, còn nó thì chẳng thể làm gì hơn ngoài việc nằm chờ chết trong chính cái hũ mà nó đã từng cho là “vận may” của nó.

Một câu chuyện khác. Có con gà kia vô tình chui vào trong một căn nhà kho đầy thóc. Cũng như con chuột trong câu chuyện trên, nó vô cùng hạnh phúc vì vô tình tìm thấy cái cần tìm. Nó ăn cho thoả thích, bù lại cho những ngày đói khát ngoài kia. Ăn nhiều đến nỗi mập ú lên, bụng căng tròn, không thể nào ăn được nữa. Thoả mãn, nó nghĩ đến việc ra ngoài để thong dong dạo mát và tận hưởng cuộc sống của mình. Nó tìm đến cái lỗ mà từ đó nó đã chui vào. Nhưng với thân mình mập mạp hiện nay, nó không thể nào chui lọt qua cái lỗ nữa. Nó không biết làm gì, chợt nhận thấy căn nhà kho đầy thóc lúa này hoá ra giống như ngục tù giam hãm nó. Không còn cách nào khác, nó đành phải nhịn ăn trong nhiều ngày, để thân hình trở nên ốm yếu nhỏ bé lại mà chui qua cái lỗ kia ra ngoài.

Hai câu chuyện trên làm tôi nghĩ đến những người vô tình trúng số độc đắc, hay bỗng dưng có được một khối tài sản khổng lồ trong tay mà không phải do công sức của mình. Họ sẽ dễ dàng bị ru ngủ trong những gì mà mình vừa nhận lãnh. Đó có thể là phúc nhưng cũng có thể là bắt đầu của cái hoạ. Cái may mắn mỏng manh đó hàm chứa bên trong một khối đen khổng lồ của “cái xui”. Ông Trời có thể giúp người ta bằng cách ban cho họ có một khởi điểm thuận lợi, nhưng nếu người đó không có tâm tình biết ơn, không biết cố gắng làm lời từ nó, họ như tự đào lỗ để chôn mình.

Ngược lại, nhiều cái rủi lại trở thành con đường dẫn ta đến cái may. Ta có thể buồn thì điểm kém, vì gia đình có trục trặc, vì sự ra đi của người thân, vì phải chia xa người ta yêu mến, vì mất sự nghiệp, vì đường tình dang dở, vì phải chịu một thiệt thòi. Nhưng ta được mời gọi để tin rằng cuối mùa đông sẽ là mùa xuân rạng rỡ, cuối đường hầm sẽ là con lộ ngợp ánh quang. Bởi thế, dù rủi hay may, dù xảy ra điều làm ta vui hay không ưng ý, điều quan trọng nhất là phải biết làm chủ chính mình, chính cuộc sống của mình. Đừng bao giờ đánh mất đi niềm hy vọng, đừng bao giờ từ bỏ một cái nhìn lạc quan, càng đừng chỉ trông chờ vào cái gì đó nằm ngoài tầm tay ta kiểm soát.
Ơn gọi cao quý của con người là trở thành người làm chủ: làm chủ muôn vật, làm chủ hoàn cảnh, và đặc biệt là làm chủ chính mình. Khi đã nắm trong tay quyền kiểm soát bản thân và mọi hoàn cảnh chung quanh rồi, ta sẽ thấy mọi sự xảy đến đều là cơ hội để ta xây đắp niềm vui và mọi sắc màu của cuộc sống đều được bàn tay nghệ sĩ của ta sử dụng để phác hoạ nên bức tranh cuộc sống thật lộng lẫy và huy hoàng.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ


Đức Thánh Cha phân tích những yếu tố tác động đến sự trung tín trong đời sống dâng hiến

Trong cuộc gặp gỡ với văn phòng phụ trách đời sống thánh hiến, Đức Thánh Cha đã đưa ra một số hướng dẫn giúp những người nam nữ trong đời sống thánh hiến biết cách gìn giữ, cũng như làm cho ơn gọi của họ luôn tươi mới.
Cuộc gặp gỡ diễn ra tại Roma bàn về sự trung tín và bền bỉ không chỉ cho những người trong đời sống tu trì, mà cho cả những ai đã chuyển hướng.
ĐHY João Braz De Aviz, chủ tịch Thánh Bộ Đời Sống Thánh Hiến
“Thưa Đức Thánh Cha, chúng con chân thành cám ơn về niềm vui lớn lao Đức Thánh Cha đã dành cho chúng con trong buổi gặp gỡ này.”
Đức Thánh Cha thể hiện mối quan tâm đến sự trung tín của những người dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa và đưa ra những yếu tố quan trọng để làm cho sự bền bỉ này được phát triển mỗi ngày.
Đức Thánh Cha
“Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự trung tín, trong đó thật khó để có sự dấn thân nghiêm túc và dứt khoát”
Đức Thánh Cha đã đề cập đến nhiều yếu tố khiến cho nhiều người không trung tín với đời sống dâng hiến của họ.
Đầu tiên là bối cảnh xã hội. Cụ thể, đó là “lối văn hóa tạm bợ” khiến nhiều người luôn tìm kiếm “những cổng phụ” mở ra những khả thể khác nhau trong đời sống, nhưng để lại một cách sống vô nghĩa.
Một khó khăn khác là người ta phán xét mọi thứ, “theo một sự tự nhận thức không theo giá trị của Tin Mừng.”
Ngài than phiền về những ước ao quảng đại của những người trẻ đôi khi bị chìm đắm bởi “sự tìm kiếm thành công với bất cứ giá nào”
Thách đố cuối cùng là những người nam và nữ trong đời sống thánh hiến trở thành “gương mù gương xấu” và khiến cho sự trung tín của riêng họ và của những người khác trong đời sống thánh hiến ngày càng khó khăn hơn. Đức Thánh Cha nói, họ là những người bị dẫn dắt bởi:
– Lề thói
– Sự mệt mỏi
– Gánh nặng của việc quản lý cơ cấu
– Sự chia rẽ nội bộ
– Tìm kiếm quyền lực
– Sự độc đoán
– Quyền cho phép làm mọi thứ
Bên cạnh đó, Đức Thánh Cha cũng đề nghị một số giải pháp cho những người đang trải qua những cuộc khủng hoảng tự nhiên. Ngoài việc đào sâu mối tương quan với Thiên Chúa, ngài đề cập đến sự quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên trong cùng một Hội Dòng. Hướng dẫn của Đức Thánh Cha bao gồm:
– Cầu nguyện chung
– Suy niệm Kinh Thánh
– Tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận bí tích hòa giải
– Đối thoại và hiệp thông chân thành
– Sửa lỗi cho nhau
– Thương cảm với những người đang có lỗi phạm
– Chia sẻ trách nhiệm
Chuyển ngữ: Đức Thiện SJ.
Nguồn: Romereport, 30/01/2017

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN - A

Hạt muối Bé nói với hạt muối To: “Em đến chia tay chị, em sắp được hòa trong đại dương”. Muối To trố mắt: “Em dại quá, sao lại để đánh mất mình như thế. Em muốn thì em cứ làm, chị không điên!“.
Muối To thu mình co quắp lại, nhất định không để biển hòa tan. Muối To lên bờ, sống trong vuông muối. Nó vẫn ngạo nghễ, to cứng và nhìn chúng bạn bé tí ti đầy khinh khỉnh. Thu hoạch, nông dân gạt nó ra ngoài, xếp vào loại phế phẩm, còn những hạt muối tinh trắng kia được đội lên đầu, hay bê bên lưng rồi đóng vào bao sạch đẹp… Lần đầu tiên nó thấy mình bị xúc phạm!
Sau một thời gian lăn lóc hết xó chợ này đến xó chợ khác, cuối cùng người ta cho nó vào nồi cám heo. Phải hóa thân phục vụ cho lũ heo dơ bẩn này ư? Nó tủi nhục ê chề! Lòng kiêu hãnh không cho phép nó “tế thân” cho lũ heo hạ tiện. Nó thu mình co cứng hơn mặc cho nước sôi trăm độ cũng không lấy được, dù là cái vảy da của nó.
Khi rửa máng heo, người ta phát hiện nó, và chẳng cần nghĩ suy, ném nó ra đường lộ. Người người qua lại đạp lên nó!
Hạt muối là để hòa tan. Hạt Muối phải chịu tan biến chính mình mới thể hiện giá trị đích thực của hạt muối. Muối đã lạt và không còn khả năng hòa tan thì cũng bị quên lãng hay vứt bỏ ta đường cho người qua lại dẫm đạp mà thôi!
Con người không được sống cho chính mình. Con người phải biết dấn thân, hòa nhập với xã hội mới thể hiện vai trò giá trị của mình trong cộng đồng. Nhân loại cũng bỏ rơi những con người lười biếng, vô dụng, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội. Muối đã lạt thì vứt đi. Con người lạt tình người, lạt trách nhiệm sẽ trở nên vô dụng và bị bị lãng quên.
Chúa Giêsu mời gọi người tín hữu phải biết hòa tan trong cuộc đời. Như hạt muối hòa tan trong môi trường để ướp mặn cuộc đời. Như ánh sáng hòa tan trong không gian để xua tan bóng tối. Muối và ánh sáng đều phải chịu tan biến mới sinh ích cho con người. Là người ky-tô hữu cũng phải hòa tan cuộc đời mình trong dòng chảy tình yêu để mang lại sức sống cho con người.
Chính Chúa Giêsu đã chấp nhận hòa tan chính mình trong dòng chảy của cuộc đời. Ngài đã trở nên mọi sự cho mọi người. Ngài đã sống để dâng hiến và phục vụ con người trong yêu thương hết mình như thánh Gioan đã nói: “Ngài đã yêu thì yêu cho đến cùng”. Đỉnh cao của hòa tan là chấp nhận tiêu hao chính mình “như hạt lúa chịu mục nát để sinh nhiều bông trái”.
Năm nay Giáo hội mời gọi chúng ta “Phúc âm hóa” là dịp nhắc lại vai trò của người tín hữu giữa dòng đời. Là người tín hữu phải đem muối Phúc âm thẩm thấu vào trong thế gian. Là người tín hữu phải đem ánh sáng của Phúc âm dẫn dắt con người hôm nay đi trong chân lý. Thế nhưng, ở đâu dó vẫn có những tín hữu thiếu gia vị của tình yêu, thiếu cả gương sáng gây ô uế môi trường và gây gương xấu cho tha nhân. Ở đâu đó vẫn có những nhóm giáo dân thường co cụm chính mình mà ít cởi mở, thân thiện với tha nhân. Đó là lý do mà Giáo hội không thực sự có gía trị trong cộng đồng nhân loại. Làm sao Giáo hội có thể phúc âm hóa môi trường khi mà người tín hữu để muối đã lạt qua cách sống đạo hời hợt, đôi khi còn thiếu gia vị của tình yêu? Làm sao mà Giáo hội có thể Phúc âm hóa khi mà chính người ky-tô hữu vẫn còn làm gương xấu của gian dâm, của cờ bạc, rượu chè . . .
Ước gì đời sống của chúng ta luôn là lời ngợi ca và tôn vinh Chúa. Một đời sống thấm nhuần lời Chúa để đem tin mừng thẩm thấu vào trong thế gian. Một đời sống công bình bác ái như những ngọn đèn hải đăng thắp sáng trong bóng đêm của xã hội đầy bất công và hận thù. Một cuộc sống đi vào lòng nhân thế để phủ đầy ánh sáng của Phúc âm và hơi ấm của Tin mừng.
Xin Chúa giúp chúng ta luôn hoàn thành đời mình như muối mặn, như ánh sáng hòa tan cho thế gian sức nóng và tràn ngập ánh sáng của Tin mừng. Amen.
Lm Giuse Tạ Duy Tuyền