KHI KHÔNG CÒN TÌNH NGƯỜI

Con người không được tạo dựng để sống chơ vơ một mình trong nội bộ thế giới con người, nhưng được mời gọi để mở ra với các loài khác. Sách Sáng Thế đã mặc khải cho chúng ta biết rằng, trước khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dựng nên các loài khác, tô điểm và trang hoàng thế giới và vũ trụ bao la này, hệt như để chuẩn bị cho con người có chỗ cư ngụ thoải mái, và yên vui. Ngay sau khi dựng nên con người có nam có nữ theo hình ảnh của mình, Thiên Chúa đã trao cho con người một sứ mạng cao cả là “lao tác và làm chủ” muôn loài. Thiên Chúa cũng đã khôn khéo sắp đặt cho các loài khác phải phục tùng con người, giúp cho sự sống của con người được no ấm và thăng hoa trong hạnh phúc.

Những vờn mây trên trời đổ mưa xuống tưới gội mặt đất. Đất bắt đầu trổ sinh những cây xanh thuộc mọi giống. Những hàng cây nô đùa trong gió, làm vui mắt con người, nhưng còn cung cấp cho con người lượng thực phẩm vô vàn từ sản phẩm của nó. Lá cây có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Thân cây có thể được dùng để dựng nhà. Những con sông uốn lượn mang đến nguồn nước con cho người sinh hoạt. Từng đàn cá tung tăng cũng là một loại lương thực bổ dưỡng để hưởng dùng. Quy luật của tự nhiên đã được Tạo Hóa sắp xếp thật khôn khéo với cơ chế tự điều hòa. Những đợt luân chuyển của khí tạo ra những cơn gió mát. Quá trình quang hợp của cây xanh giúp có bầu không khí trong lành. Những chất cặn bã biến thành dinh dưỡng sống cho cây… Rồi cây lại tiếp tục cho ta nguồn thực phẩm. Khắp nơi nơi, một màu xanh của bình an và hạnh phúc trải rộng. Hòa hợp với thiên nhiên, cuộc sống của con người cũng được đảm bảo và ngày một yên ấm hơn.

Thế nhưng, một thảm trạng đáng buồn đang diễn ra ngay trên trái đất này. Những báo động của tổ chức sức khỏe thế giới về việc những khí thải ảnh hưởng đến sự sống con người dường như chưa đủ để đánh thức lương tri. Tầng Ozon bảo vệ trái đất đang bị những khí độc chọc thủng. Những cánh rừng xanh bạt ngàn đang từ từ mất đi vẻ nguyên sơ. Những cây non chưa kịp lớn lên đã bị hạ xuống. Những loài thảo dược quý giá đang dần mất đi bởi sức tàn phá vô nhân đạo của con người. Những loại động vật quý hiếm giúp cân bằng hệ sinh thái đã bị con người săn bắt cách vô tội vạ, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng. Các nhà máy xí nghiệp mọc lên khắp nơi, thải vào không khí và vào nguồn nước những làn khói độc và biết bao hóa chất có hại, gây ra những căn bệnh quái ác cho những ai mắc phải. Những con sông mới vài năm trước thôi còn xanh nguyên với cỏ cây mọc hai bên bờ và từng đàn cá tung tăng bơi trong nước, nay đã trở nên đen ngòm, không còn loài nào có thể sinh sống. Bờ biển đẹp, đại dương mênh mông với biết bao loài sinh vật sinh sống đang thoi thóp kêu cứu con người… Không biết, chỉ vài chục năm sau, thế hệ con cháu chúng ta có còn được hưởng nếm bầu không khí trong lành, có còn được được vui đùa bên các con thú, có còn nơi để tung tăng chạy nhảy nữa không…

Thiên nhiên cũng có giới hạn chịu đựng của nó. Huỷ hoại tự nhiên không bao giờ mang đến cho con người một lợi ích nào cả. Chỉ khi nào con người biết tôn trọng nó, nó mới có thể phục vụ cho đời sống của con người. Có những người tự cho mình quyền muốn làm gì thì làm. Họ chỉ quan tâm đến việc mình sẽ kiếm lợi được bao nhiêu. Còn người khác chịu thiệt thòi đau khổ thế nào, họ chẳng màng chi tới. Con người là một giống loài thật kỳ lạ. Càng có nhiều tiền của, người ta càng trở nên nghèo nàn: nghèo nhân đức, nghèo tình thương. Càng phát triển, con người càng trở nên nhỏ bé: nhỏ bé trong phán đoán, trong lối suy nghĩ. Càng có học, con người càng hành xử như những kẻ không có chút chất xám trong đầu. Công nghệ hiện đại là để giúp con người có thể nối kết với nhau, nhưng con người lại tự biến mình thành những hòn đảo cô độc. Đến một ngày nào đó, khi ta không thể thở được, khi ta không còn gì để ăn, khi ai nhìn ta cũng bĩu môi khinh rẽ, ta sẽ thấy một núi tiền mà ta đang nắm giữ trong tay chẳng khác nào một đống rác.

Việc con người khinh thường và xâm hại đến tự nhiên không chỉ nói đến việc thiếu ý thức và trách nhiệm của mình đối với công trình tạo dựng của Tạo Hoá, nhưng đâu có còn phản ánh tình trạng lạnh nhạt vô nhân tính mà con người dành cho nhau. Quả vậy, nếu người ta yêu thương nhau, hẳn là người ta đã không làm gì để gây tổn thất cho nhau, người ta sẽ ngay lập tức sửa lại những lỗi sai mình đã phạm chứ không cố tình lấp liếm, che giấu nó. Thay vì tôn trọng nhau, con người lại sử dụng nhau như bàn đạp để giúp mình đạt được lợi ích bản thân. Người ta vô tình đến độ không còn rung cảm gì nữa trước tiếng khóc than của thiên nhiên, của bao nhiêu con người nghèo khốn khổ. Đã từ bao lâu rồi, khi con người lại mất đi tính người đến thế? Chẳng phải con người được dựng nên trỗi vượt hơn mọi giống loài khác sao, cớ gì lại tự xếp mình vào hàng thấp bé đến vậy? … Rồi sẽ được chi? Trên cao còn có Trời, bên dưới còn có Đất, trong lòng còn có tiếng lương tâm, đời có Luật Vay – Trả. Ai hả hê trước nỗi đau của nhân loại, người đó sẽ sớm thấy được hậu quả của những gì mình gây ra.

Mẹ Thiên Nhiên đang khóc, chưa hẳn vì con người làm hại Mẹ, nhưng có lẽ là vì con người không còn biết nghĩ đến nhau.

Khi không còn tình người, thì con người sẽ huỷ diệt tất cả, chứ đừng nói gì đến thiên nhiên! Thật đáng buồn!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
http://dongten.net/

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN - C

Chúa Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem để chịu khổ hình, hoàn thành việc cứu độ. Chính lúc đi ngang qua Samaria, nhất là qua việc cứu chữa mười bệnh nhân phong, Chúa cho thấy một vài đặc điểm của ơn cứu độ.
Ơn cứu độ là phổ quát.
Chúa muốn cứu độ hết mọi người không loại trừ ai. Nên Chúa đi qua Samaria. Samaria là vùng đất cấm kỵ đối với người Do Thái. Đó là vùng đất ngoại đạo. Đó là vùng đất ô uế. Người Do Thái và người Samaria không giao thiệp với nhau. Nhưng Chúa đã vượt qua ranh giới cấm kỵ đó. Chúa muốn đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Tại Samaria Chúa còn gặp gỡ mười người phong cùi. Lại một cấm kỵ nữa. Người phong cùi vốn bị coi là hạng người tội lỗi, ô uế. Ai gặp họ đều trở nên ô uế. Họ bị loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Tại Samaria, những người phong cùi là những người ở tầng lớp cuối cùng của xã hội. Chúa đem ơn cứu độ cho mọi người, kể cả những người bị khinh miệt nhất, bị quên lãng nhất, bị hất hủi nhất. Ơn cứu độ Chúa ban cho tất cả mọi người. Trước mặt Chúa mọi người đều bình đẳng.
Ơn cứu độ là nhưng không.
Không ai dám nghĩ đến việc mời Chúa xuống trần gian. Không ai có công trạng gì khiến Chúa phải xuống trần gian để tưởng thưởng hay để đền đáp. Chúa xuống trần gian hoàn toàn do lòng nhân từ yêu thương của Chúa. Cũng thế, người Samaria hoàn toàn bất ngờ khi Chúa đến miền đất của họ. Những người phong cùi lại càng không bao giờ dám mơ tưởng tới. Bản thân họ đã bị lên án, bị loại trừ rồi. Ngay việc gặp một người bình thường đã không được phép, huống chi là gặp gỡ Chúa. Nhưng Chúa đã đến gặp gỡ họ, ban ơn cứu chữa họ. Hoàn toàn nhưng không. Họ chẳng có công gì. Họ chẳng có quyền đòi hỏi gì. Họ chỉ có nỗi đau khổ tột cùng. Chính nỗi đau khổ đó đã khơi dậy lòng yêu thương của Chúa. Vì Chúa là tình yêu thương.
Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm tin.
Tuy ơn cứu độ được ban rộng rãi và nhưng không, nhưng để đón nhận đòi phải có niềm tin. Những người phong cùi hôm nay đã bày tỏ niềm tin qua hai thái độ. Thái độ thứ nhất là đồng thanh lớn tiếng kêu cầu danh Chúa Giêsu: “Lạy Thày Giêsu, xin cứu chúng tôi”. Danh Thánh Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu. Từ cùng tận nỗi đau khổ, những người phong cùi đã kêu van bằng tất cả tấm lòng tha thiết và với niềm tin vững chắc. Chỉ có Chúa mới thương xót họ. Chỉ có Chúa mới đủ quyền năng cứu chữa họ. Thái độ thứ hai là đi trình diện với thày tư tế. Chúa không chữa họ ngay nhưng bảo họ đi trình diện với thày tư tế. Dù chưa được khỏi, nhưng họ vẫn tin tưởng lên đường. Đang khi đi đường thì họ được khỏi. Đức tin đã chữa họ.
Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm vui.
Đây là niềm vui trong mối tương giao giữa Thiên Chúa với con người. Cốt lõi của ơn cứu độ là thiết lập mối tương giao, cho con người được trở nên con cái Thiên Chúa, đồng hưởng hạnh phúc với Chúa. Đó là cội rễ của niềm vui, niềm hạnh phúc. Chín người bệnh không trở lại chỉ có niềm vui được khỏi bệnh, nhưng không có niềm vui trong mối tương giao với Thiên Chúa. Họ có đức tin cầu xin nhưng thiếu đức tin gặp gỡ với Thiên Chúa. Niềm vui được khỏi bệnh rồi cũng sẽ nhạt phai. Chỉ có một người trở lại tạ ơn. Anh trở lại vì mối tương giao. Anh nhận biết nguồn gốc niềm vui của mình. Anh sụp lạy Chúa vì biết nguồn gốc hiện hữu của mình. Anh đã tìm thấy nguồn cội ý nghĩa đời mình. Niềm vui của anh sẽ còn mãi mãi. Đời anh sẽ là một đời tạ ơn không ngừng.
Lạy Chúa, xin cho con biết tìm đến gặp gỡ Chúa để tạ ơn Chúa. Chính niềm vui tạ ơn này đem đến cho con hạnh phúc suốt đời con. Amen.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

BỔN MẠNG THÁNG 10


THÁNG 10

NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
01/10
Lễ Thánh Têrêxa HĐGS



* Chị Hằng
*Rửa tội: Dì Trưởng, Chị Cẩm, Chị Thảo, Chị Mỹ Tiên (TSức),  Chị Giêng, Chị Loan, Chị Trâm, Chị Hường, C. Ngọc Thảo ( TS)
* Bổn mạng các em Tuyển Sinh

04/10
Lễ T. Phanxico Assisi

* Chị Khiêm

05/10
Lễ T. Faustina
* Chị Tuyết
07/10 



lễ Mẹ Mân Côi   




* Bổn Mạng Hội Dòng
* Chị Thủy Tiên
* Rửa tội: Chị Lan,  Chị Mỹ Tiên,
Chị Khiêm, Chị Hoạt

15/10
Lễ  T. Têrêsa Avila
* Chị Cần
16/10 
Lễ thánh Maguerite
* Chị Tươi .

 

* Ghi Chú:         

Từ ngày31/10 đến 02/11: Làm tuần tam  nhật, Mừng Kính Thánh Martino Porres.  Đấng Bảo Trợ Dự-Tỉnh.


 

LỄ GIỖ CHA MẸ CHỊ EM

       TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

NGÀY
LỄ GIỖ

16.10

Bà cố Maria- Thân mẫu Chị Cẩm





Ghét một người…


Ghét một người,
Là không thích nhìn mặt,
Là không muốn tiếp xúc,
Là không thèm quan tâm,

Ghét một người là đưa người đó ra khỏi thế giới của mình, là đối với mình, người đó không tồn tại, người đó có sống chết thế nào, ta cũng chẳng bận tâm. Ghét là không dành cho người ta sự đồng điệu, là cho rằng người ta khác với mình và không thể có nét gì giống mình được. Ghét là đẩy người ta ra xa mình, là quay mặt đi – quay lưng lại với người ta, là bĩu môi khi người ta nói, là gạt đi ý kiến của người ta, là có khi chỉ cần nghe nhắc đến cái tên thôi, là ta đã thấy lòng trào tràn những cảm xúc tiêu cực rồi. Có thể vì không ưa, vì không hợp tính cách, vì không chung quan điểm. Cũng có thể vì người đó xấu tính, người đó đã làm chuyện gì sai, hoặc người đó đã gây ra tai hại gì đó cho mình. Hoặc, có đôi khi, ghét chỉ vì không thích, thế thôi!

Nhưng cảm xúc của con người lại rất phức tạp. Ghét một người chưa hẳn là không để ý tới người đó. Phải có sự để ý đến người đó, ta mới thấy người đó có cái gì đó không hợp, không “cùng tông” với mình chứ! Phải có sự để ý đến những gì người ta nói, mình mới “bĩu môi”, mới “gạt đi” được chứ! Tuy không đúng hoàn toàn, nhưng ghét một người có đôi khi lại là vì quá quan tâm, quá yêu mến… rồi vì sự quan tâm và yêu mến của mình không được đền đáp, nên mình đâm ra ghét. Hận một người, đó chẳng phải vì quá yêu người đó mà không được đón nhận đó sao? Thù một người, đó phải chăng là do đã đặt quá nhiều tin tưởng vào người đó, nhưng niềm tin ấy bị phản bội?

Thật chẳng dễ chút nào để hiểu được từng dòng cảm xúc trong con người. Cuộc chiến nội tâm trong con người chưa bao giờ dừng lại. Thế giới cảm xúc lại rất nhạy cảm với hoàn cảnh bên ngoài, mà hoàn cảnh thì có bao giờ đứng yên đâu.Giữa yêu và ghét, giữa thương rồi hận, mến rồi thù… dường như chỉ có một đường ranh rất mỏng. Con người hạnh phúc rồi khổ đau, cười rồi khóc, sung sướng rồi đau khổ, cảm xúc cứ đong đưa như con lắc đồng hồ, hay như con lật đật chao đảo ngã nghiêng. Thậm chí, ta có thể nói rằng chẳng có một sự phân biệt rõ ràng nào giữa yêu và ghét, bởi cái ghét nằm trong cái yêu và cái yêu đã hàm chứa cái ghét. Bởi thế, ghét một người chưa hẳn là loại trừ người ta ra khỏi cuộc sống của mình. Trái lại, càng ghét ai, hình bóng người đó càng xuất hiện nhiều trong ta, chẳng qua chỉ là với một cung bậc khác.

Khi ghét ai, người chịu thiệt thòi đầu tiên và nặng nề nhất là chính ta, bởi vì lòng ta lúc nào cũng ngập tràn những cảm xúc tiêu cực về người ấy. Cảm xúc tiêu cực làm ta khó chịu, bức bối không yên. Rồi nó làm ta mất giờ bởi cứ phải suy nghĩ về người ấy với những tư tưởng không hay, ta còn cầu mong những điều không may xảy ra cho người ấy mà chẳng biết người ấy có gánh chịu những điều tai hại từ sự chúc dữ của ta hay không. Khi cái ghét lên đến đỉnh cao, ta còn bày mưu tính kế để hãm hại họ. Và giả như kế hoạch của ta thành công, cái mà ta có được cũng chỉ là một chút hả hê đắc thắng, chứ không phải là một sự bình an thẳm sâu. Ta vẫn chẳng có thêm được gì nhưng lại chỉ mất thời gian và công sức cho những chuyện không đâu. Ta nghĩ rằng mình đã gỡ bỏ đi được một “kẻ thù” và cuộc sống của ta sẽ thoải mái hơn. Nhưng khi nhìn lại, ta thấy mình vốn dĩ đã bị mất mát nhiều, nay lòng hận thù càng đục khoét, nới rộng thêm những chỗ trống thương đau. Ghét một người, loại trừ một người, chưa bao giờ là phương thế giúp ta có được bình an.

Con người chúng ta được dựng nên là để chia sẻ tình thương. Càng mở ra, càng đón nhận người khác, càng phá bỏ đi những rào cản, ta càng cảm thấy cuộc sống này thật ý nghĩa. Khi ta được một ai đó đón nhận, ta cũng thấy có một niềm hạnh phúc dâng cao trong lòng. Đó chính là huyền nhiệm của tình yêu thương mà Tạo Hoá đã đặt để nơi vũ trụ và nơi từng thụ tạo của Người. Đã đành con người bị đẩy đưa bởi những cảm xúc vui buồn, yêu ghét. Nhưng con người cũng được ban cho sức mạnh giúp hướng về điều gì là tốt đẹp để mưu cầu hạnh phúc cho chính mình. Đừng vì những lý do không đâu mà ghét người ta: ghét vì ganh tỵ, ghét vì người đó giỏi hơn mình, ghét vì người đó ngăn cản thành công của mình… Những điều này chẳng giúp ta được điều gì ngoại trừ chỉ cho ta thấy mình là một con người kém cỏi, nhỏ mọn và hèn nhát ra sao.

Còn nếu cái ghét xuất phát từ một tình yêu quá lớn bị phản bội hay không được đền đáp thoả đáng hoặc không được đón nhận như mong chờ, một sự bình tĩnh là rất cần thiết. Biết rằng khi yêu thì ai cũng mong được yêu lại, và nếu không được như thế thì sẽ rất đau, nhưng một lòng hận thù nảy sinh lúc đó thì giải quyết được gì. Người ta phản bội mình, rồi thế nào người ta cũng gánh chịu hậu quả đã gây ra thôi. Còn nếu ta yêu người đó thật lòng thì hạnh phúc của người đó mới là điều quan trọng nhất, chứ không phải một sự chiếm hữu độc quyền của ta. Đừng vì việc người ta không đón nhận mình mà biến tình yêu cao đẹp thành sự thù oán chua cay. Luật đời có vay có trả. Ai cho đi tình thương thì sẽ nhận lại tình thương, còn ai sống trong thù hận thì chính sự thù hận đó đã là một hình phạt dày xéo tâm can người đó rồi. Nỗi đau khi mất đi một tình yêu đã đủ lớn rồi, đừng làm cho nỗi đau ấy lớn lên thêm chỉ vì sự thù ghét của ta. Thay vào đó, hãy xoa dịu nó bằng sự tha thứ và chân thành. Cuộc sống của ta mới có thể nở hoa được. Bởi thế,

Hãy dám nhìn nhau

Hãy tiếp xúc với nhau

Hãy quan tâm đến nhau để trao nhau và chia sẻ cho nhau tình thương mến!

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

http://dongten.net/

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN - C

Với trí tưởng tượng phong phú kết hợp với tài nghệ văn chương tuyệt vời, nhà văn Đan-mạch Hans Christian Andersen đã dựng nên một nhân vật rất độc đáo là “Chiếc bóng.”
Ai cũng có chiếc bóng đi theo mình. Chiếc bóng hoàn toàn lệ thuộc chủ: khi chủ đi, bóng đi theo, khi chủ chạy, bóng chạy; khi chủ dừng, bóng dừng; chủ đi đâu, bóng theo đến đó.
Vậy mà nhân vật “Chiếc Bóng” trong chuyện của Andersen lại tách ra khỏi người chủ của mình vốn là một nhà khoa học, để trở thành một nhân vật độc lập, đòi sống riêng không lệ thuộc chủ, rồi dần dà y dám gọi mày xưng tao với chủ Một thời gian sau, y lên mặt sai khiến cả chủ của mình, và thật trớ trêu, y tự tôn mình lên làm chủ và bắt chủ phải làm “chiếc bóng” của y và cuối cùng, y lập kế tống giam chủ mình vào ngục và sát hại người chủ ngay trong tù.
Tương quan giữa con người với Thiên Chúa cũng như bóng với hình. Thiên Chúa đã tạo dựng nên loài người và mọi người hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa, nhờ Chúa con người mới tồn tại được. Chúa là Chủ, con người là tôi tớ. Chúa là Hình, con người là bóng. Vậy mà nực cười thay, một số người lại làm như nhân vật “Chiếc Bóng” trong tác phẩm của Andersen. Họ đòi quyền làm chủ và bắt Thiên Chúa lệ thuộc họ. Họ đòi Thiên Chúa đáp ứng những đòi hỏi của họ mà không nghĩ rằng họ phải đáp ứng những đòi hỏi của Thiên Chúa trước đã.
Chẳng hạn khi yếu đau, người ta yêu cầu Chúa chữa họ cho lành. Khi túng thiếu, người ta đòi hỏi Chúa cho no đủ. Khi gặp thất bại trong cuộc đời, người ta yêu cầu Chúa đem lại sự thành công!… Nếu Chúa không mau mắn làm theo yêu cầu, người ta sẽ trách móc Chúa, oán ghét Chúa, loại trừ Chúa ra khỏi đời mình!
Vì yêu thương loài người, Thiên Chúa sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu chính đáng của họ, nhưng không phải vì thế mà con người có quyền đòi Thiên Chúa phải luôn luôn phục vụ mình mà quên rằng mình là người tôi tớ của Thiên Chúa nên phải lo phụng sự và thực hiện ý Chúa trước đã.
Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn đưa chúng ta trở về lại đúng vị trí của mình, vị trí của người tôi tớ và nhiệm vụ của người tôi tớ là lo phục dịch hầu hạ chủ mình mà không được kể lể công lao.
Chúa nói: “Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: "Mau vào ăn cơm đi", chứ không bảo: "Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau!? Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?
Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi."
Hai vị tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa
Một trong những nét đẹp của Mẹ Maria là Mẹ biết nhìn nhận mình là tôi tớ Thiên Chúa nên sẵn sàng vâng lệnh Chúa truyền. Khi được sứ thần Gáp-ri-en cho biết Thiên Chúa muốn trao cho Mẹ một sứ mạng thật cao cả nhưng cũng đầy khó khăn, Mẹ sẵn sàng vâng phục vì ý thức mình chỉ là tớ nữ hèn mọn của Thiên Chúa. Mẹ thưa với sứ thần: “Nầy tôi là tớ nữ của Chúa. Tôi xin vâng như lời Chúa truyền.” Vì thế, Mẹ làm đẹp lòng Thiên Chúa và được Thiên Chúa nâng lên địa vị tối cao.
Ngay cả Chúa Giêsu, “vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa Cha, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ,… Người lại còn hạ mình vâng lời Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự…”(Philip 2, 6-8)
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Thiên Chúa quyền năng mà còn hạ mình làm tôi tớ, vâng phục Chúa Cha trong mọi sự cho dù phải chết trên thập giá và Đức Maria là hiền mẫu của Chúa, dù được diễm phúc làm Mẹ của Chúa, mà vẫn sẵn sàng phụng sự Thiên Chúa Cha như nữ tỳ khiêm tốn, thì xin cho chúng con là người phàm hèn mọn, luôn biết nhìn nhận mình chỉ là tôi tớ thấp hèn của Thiên Chúa và hết lòng phụng sự Chúa cho phải đạo làm tôi.

Lm. Ignatiô Trần Ngà