Chọn Lựa Khôn Ngoan

                                             CHỌN LỰA KHÔN NGOAN



Đau khổ trong cuộc sống con người không phải là định mệnh.  Đó là khẳng định của đa số các tôn giáo.  Thiên Chúa không bao giờ là tác giả của sự dữ, vì bản tính của Ngài là tốt lành.  Kinh Thánh Cựu ước khẳng định: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1,13).  Lời khẳng định cho thấy rằng: quả là Thiên Chúa có thể cho phép sự dữ xảy ra, nhưng sự dữ không bao giờ có nguồn gốc từ Thiên Chúa.

 

Hiểu như trên, chúng ta không đổ lỗi cho Thiên Chúa về sự dữ hay điều bất hạnh xảy đến xung quanh mình.  Hiện hữu trên đời, mỗi chúng ta có tự do chọn lựa và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa này.  Trong Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa đã chúc phúc cho những ai tin tưởng phó thác nơi Chúa, và Ngài thấy nỗi bất hạnh của những kẻ tin tưởng người đời.  Ngài cũng đặt song song hai sự chọn lựa để cho thấy sự khác biệt: Tin vào Chúa giống như cây trồng bên suối nước, bốn mùa hoa trái tốt tươi; tin người trần gian giống như cây giữa sa mạc, quanh năm khô cằn tàn lụi.  Thánh vịnh 31 trong phần Đáp ca diễn tả cùng một ý tưởng với Bài đọc I.  Tác giả còn nhắc đến những hậu quả mà ác nhân sẽ phải lãnh nhận.  Họ sẽ như những vỏ trấu bị gió cuốn trôi và biến mất.  Bài Tin Mừng theo thánh Lu-ca ghi lại giáo huấn của Chúa Giê-su về hai hạng người, là những người sẽ được hạnh phúc và sẽ phải đau khổ.  Có người hiểu cách nói của Chúa Giê-su là lời chúc dữ.  Thực ra, Chúa không chúc dữ cho con người, nhưng Chúa cảm nhận được nỗi bất hạnh khốn khổ khi con người chỉ chạy theo những lạc thú và lợi lộc vật chất mà quên đi những giá trị vĩnh cửu.  Người cũng dạy chúng ta phải thận trọng suy xét những hành động và quyết định trong cuộc sống hằng ngày, để cuộc sống không trở nên vô ích, nhưng tìm thấy niềm vui và hạnh phúc giữa những bon chen của đời thường.

 

Như trên đã nói, con người có tự do lựa chọn điều tốt hay điều xấu cho bản thân mình, cho hiện tại và cho tương lai.  Cuộc sống này cũng giống như một bàn cờ khổng lồ, mà mỗi chúng ta đều đang là những người chơi cờ.  Có những nước cờ đem lại chiến thắng vẻ vang; nhưng cũng có những nước cờ đem lại thất bại ê chề.  Mỗi nước cờ đã đi, người chơi phải mang trách nhiệm, không thể làm lại được.  Cuộc đời cũng thế, mỗi chúng ta phải khôn ngoan chọn lựa để không phải lãnh hậu quả tai hại về danh dự, nhân phẩm, của cải và nhất là hạnh phúc đời sau.

 

Đối với Ki-tô hữu, sự chọn Đức Ki-tô là một chọn lựa khôn ngoan.  Người là mẫu mực và là lý tưởng cho chúng ta trong lời nói cũng như việc làm. “Ki-tô hữu” vừa có nghĩa là người được xức dầu như Chúa Giê-su, vừa là người phấn đấu để nên giống như Người.  Thánh Phao-lô đã khẳng định (Bài đọc II): Đức Ki-tô không phải một gương mẫu giống như những vĩ nhân ở trần gian, nhưng Người là Con Thiên Chúa, Đấng quyền năng.  Quyền năng ấy đã chứng minh qua sự phục sinh vinh quang.  Giáo huấn của thánh Phao-lô cho thấy những tranh luận thời bấy giờ về việc Đức Giê-su phục sinh.  Nhiều người đã phủ nhận sự kiện này, trong khi thánh Phao-lô lại coi đó là nền tảng đức tin cho đời sống Ki-tô hữu.  Tình trạng này cũng vẫn tồn tại trong thế giới của chúng ta.  Nhiều người coi việc Đức Giê-su sống lại là điều ảo tưởng, do các môn đệ của Người bày đặt ra.  Lý do là họ chưa bao giờ chứng kiến một người đã chết mà ba ngày sau sống lại.  Lập luận như thế là không hiểu mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa.  Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể, vì Ngài đã dựng nên mọi vật từ hư vô và Ngài vẫn đang điều khiển công trình tạo thành của Ngài từng giây từng phút, nhờ đó mà mọi vật hiện hữu và chuyển vận theo một trật tự chung.

 

Tin vào Đức Giê-su là một chọn lựa cá nhân.  Chọn lựa ấy càng ngày càng rõ nét và triệt để, từng bước thăng tiến với tuổi tác của chúng ta.  Chọn lựa Đức Giê-su không phải chỉ là khẩu hiệu hay nhãn mác bề ngoài, nhưng là một lý tưởng, một đường hướng sống.  Sự chọn lựa ấy sẽ chi phối lời nói, tư tưởng và hành động của Ki-tô hữu.  Một khi đã chọn lựa Đức Ki-tô thì phải chuyên cần thực thi giáo huấn của Người và cố gắng nỗ lực để trở nên giống như Người trong hành động và lời nói.  Khi chọn lựa Đức Ki-tô và tuân theo giáo huấn của Người, chúng ta sẽ là những người có phúc.

 

Trong cuộc sống, chọn lựa nào cũng đòi hỏi phải hy sinh.  Quả vậy, người ta không thể tìm thấy niềm vui và hạnh phúc khi vừa tôn thờ Thiên Chúa vừa có những thực hành không phù hợp với giáo huấn của Ngài.  Đó là sự tôn thờ ngẫu tượng, hay là lối sống dối trá, giả hình, vu khống và làm hại người khác.  Người chọn lựa Chúa Giê-su và đi theo làm môn đệ của Người sẽ luôn dành cho Người những ưu tiên trong đời sống những thực hành của đời sống hằng ngày.  Hạnh phúc hay bất hạnh, được cứu rỗi hay bị trầm luân, được khen thưởng hay bị kết án… tất cả đều do chúng ta tự do chọn lựa.  Trước mặt chúng ta luôn có hai con đường.  Nếu chúng ta chọn lựa con đường thánh thiện, Chúa sẽ luôn đồng hành và chúc phúc cho chúng ta.

 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 

Lễ Đức Mẹ Lộ Đức

 

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

 


Lộ Đức (Lourdes) là một tỉnh nhỏ khoảng 6000 dân nằm giữa thung lũng Pyrênê, gần suối Gave.  Hôm ấy là ngày 11 tháng 2 năm 1858.  Trời lạnh lẽo.  Vào buổi trưa, Bernadetta, cô gái 14 tuổi vui tươi, thiếu ăn và quê mùa cùng với mấy người bạn đi lượm củi khô ở bờ suối Gave.

 

Bỗng một bà mặc đồ trắng hiện ra với cô, trên một tảng đá bao quát cả hang Massabielle.  Vừa sợ lại vừa vui, cô lần chuỗi và không dám tới gần theo lời Bà mời.

 

Chẳng ai muốn tin cô.  Bị rắc rối chính cha mẹ cô không muốn cho cô trở lại hang đá nữa.  Nhưng có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó.  Cô trở lại hang đá.  Các cuộc thị kiến vẫn tiếp diễn.  Bà lạ nói chuyện và kêu gọi cầu nguyện, rước kiệu và xây dựng một đền thờ tại đây.

 

Các bậc khôn ngoan chống đối.  Dân chúng lại xúc động.  Công an thẩm vấn Bernadetta.  Cô bình thản trả lời và không hề nao núng trước những lời đe dọa.  Cô cũng không bị vướng mắc vào những tiểu xảo của người thẩm vấn.  Các nữ tu dạy học cũng bất bình.  Nhưng Bernadetta vẫn khiêm tốn lịch sự.

 

Ngày 25 tháng 2, một đoàn người cảm kích theo cô sau khi cầu nguyện, Bernadetta đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rổi quì xuống.  Theo lệnh bà lạ, cô cúi xuống lấy tay cào đất.  Một dòng nước vọt lên.  Cứ 24 tiếng đồng hồ là có khoảng 120.000 lít nước chảy ra.

 

Ông biện lý cho gọi Bernadetta tới.  Ông chế giễu, tranh luận và đe dọa cô nữa.  Cuối cùng ông kết luận:

 

-         Cô hứa với tôi là sẽ không tới hang đá nữa chứ?

 

Nhưng Bernadetta bình tĩnh trả lời cách rõ ràng.

 

-         Thưa ông, cháu không hứa như vậy.

 

Cha sở lo âu, ngài cấm các linh mục không được tới hang.  Bernadetta tới gặp ngài và nói:

 

-         Bà lạ nói: Ta muốn gặp người ta rước kiệu tới đây.

 

Ngài liền quở trách và gằn từng tiếng:

 

-         Con hãy nói với bà ấy rằng, đối với cha sở Lộ Đức, phải nói cho rõ rệt.  Bà muốn những buổi rước kiệu và một nhà nguyện à?  Trước hết bà phải cho biết tên là gì và làm một phép lạ đã chứ.

 

Làm xong nhiệm vụ, Bernadetta bình thản ra về.

 

Đã có những phép lạ nhãn tiền: một người thợ đẽo đá mù lòa đã thấy được ánh sáng, một phụ nữ bại tay sáu năm nay bình phục, báo chí công kích dữ dội và cho rằng: đó chỉ là ảo tưởng.

 

Nhưng dòng nước vẫn chảy thành suối.  Dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau tới, những kẻ hoài nghi phải chùn bước.  Một em bé hai tuổi bệnh hoạn đang hấp hối trước những cặp mắt thất vọng của cha mẹ.  Họ nghèo lắm, bà hàng xóm đã dọn sẵn cho một cái quách.  Người cha thở dài:

 

-         Nó chết rồi.

 

Người mẹ chỗi dậy.  Không nói một lời nào, bà ôm đứa trẻ chạy thẳng ra hang đá, dìm nó vào trong dòng nước giá lạnh.  Dân chúng cho rằng bà đã điên lên vì buồn khổ.  Tắm em bé trong 15 phút xong, bà ẵm em về nhà.  Sáng hôm sau, em hết bệnh.  Ba bác sĩ đã chứng thực chuyện lạ này.

 

Bernadetta vẫn giản dị vui tươi tự nhiên.  Hàng ngày cô trở lại hang đá.

 

Ngày 25 tháng 3 cô quì cầu nguyện và khuôn mặt bỗng rỡ nên rạng rỡ.  Rồi cô quay lại nói với vài người có mặt:

 

-         Bà nói: “Ta là Đấng Vô Nhiễm thai”

 

Vài phút sau, lời Đức Trinh Nữ đã được truyền từ miệng người này sang người khác.  Đám đông cất cao lời cầu khẩn :

 

-         Lạy Đức Mẹ Maria chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Đức Mẹ.

-          

Bernadetta hỏi một người chị bạn thân:

 

-         Vô nhiễm thai là gì nhỉ?

 

Và cũng không bao giờ cô phát âm đúng chính xác từ ngữ này.

 

Luôn giữ mình khiêm tốn, Bernadetta đã ẩn mình trong một tu viện.  Lúc 3 giờ chiều ngày 16 tháng Tư năm 1879, cô từ trần, được 36 tuổi.

 

Dòng nước ở hang Massabielle vẫn chảy.  Người ta lũ lượt tuôn đến cầu nguyện và không biết bao nhiêu ơn lành Đức Mẹ đã ban cho các tâm hồn thiết tha cầu khẩn.  Đức Giáo Hoàng Lêo XIII cho phép mừng việc Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, vào ngày 11 tháng 2, để ghi nhớ 18 lần mẹ đã hiện ra với Bernadetta, kể từ ngày 11 tháng 2 tới ngày 16 tháng 7 năm 1858.

 

Năm 1907, Đức Piô X cho phép toàn thể Giáo Hội mừng lễ này.  Cùng với Giáo hội, chúng ta kính nhớ biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức và đừng quên chạy đến Mẹ là nguồn suối chảy tràn muôn ơn phúc.

 

Lm Phaolo Phạm Quốc Túy

 

Ơn Gọi Cuộc Đời

 

ƠN GỌI CUỘC ĐỜI

 

Chúa thương chọn gọi ai thì Chúa biến đổi người ấy.  Isaia (x. Is 6, 1-2a. 3,8), Phêrô (x. Lc 5,1-11) và Phaolô (1Cr 15,1-11) là ba chứng nhân về điều nói trên.  Cả ba đều thú nhận mình bất xứng, nhưng Thiên Chúa yêu họ và họ đã đáp trả cách quảng đại.  Đúng là tình yêu Chúa biến đổi phận người.

 


Ơn gọi của Isaia

Trong một thị kiến uy nghi, Isaia được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa và nghe tiếng các Thiên Thần sốt mến luân phiên tung hô: “Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, trời đất đầy vinh quang Chúa” (x. Is 6,2).  Điều đó khiến ông run sợ và cảm thấy mình bất xứng, nên đã thốt lên lời: “Vô phúc cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn” (x. Is 6,3).  Trước sự khiêm tốn ấy, Chúa sai sứ thần đến thanh tẩy ông bằng than lửa hồng, ông trở nên thanh sạch và được Chúa tuyển chọn, ông đã can đảm đáp lại: “Này  con đây, xin hãy sai con” (x. Is 6,8).  Tình yêu Chúa đã biến đổi Isaia thành đại ngôn sứ của Thiên Chúa.

 

Ơn gọi của Phêrô

 

Simon Phêrô đang ở trên thuyền đánh cá cùng đồng nghiệp, bỗng Chúa Giêsu bước xuống thuyền của Simon, rồi ngồi trên thuyền mà giảng dạy dân chúng, có Simon ở bên để giữ cho thuyền khỏi tròng trành, còn Chúa Giêsu thì cố gắng giảng dạy đám đông.  Về phương diện thể lý, Simon gần Chúa hơn, ông nghe Chúa rõ lời Chúa và lời Chúa thấm nhập vào ông.  Vừa giảng xong, Chúa Giêsu bảo ông Simon: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá” (Lc 5,4).  Phản ứng của Simon là: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5,8).  Lời Chúa Giêsu đặt ông vào tình thế phải thả lưới bắt cá tiếp, dù kinh nghiệm ngư phủ là không thể.  Phêrô tin vào lời Chúa Giêsu, đức tin được nuôi dưỡng bằng tình Thầy trò, đức tin tái tạo cái mới và tôn vinh khả năng của con người.  Ông tin Chúa, nên bắt được một mẻ đầy cá.

 

Bảo Phêrô: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu“, là Chúa muốn ông bước ra ngoài sự an toàn, thói quen, chắc chắn, “và thả lưới bắt cá.  Ðứng trước sự lạ lùng ấy, Simon Phêrô đã không ôm choàng lấy Chúa Giêsu để bầy tỏ lòng biết ơn vì thu lượm được nhiều cá quá sức mong đợi.  Nhưng, theo như thánh sử Luca ghi lại, ông đã quỳ xuống trước mặt Người và thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con đi, bởi vì con là một kẻ tội lỗi(Lc 5,8).  Chúa trấn an: “Ðừng sợ, từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta” (Lc 5,10); ông đã từ bỏ tất cả để đi theo Người.

 

Chúa Giêsu thật nhân lành!  Phêrô, kẻ chài lưới được Chúa gọi và trở nên nhà hùng biện đáng được ca ngợi nếu ông hiểu được công việc chài lưới người.  Đó là tại sao thánh Phaolô gửi cho các tín hữu tiên khởi và nói: “Hãy coi, hỡi anh em, việc anh em được kêu gọi!  Hẳn không có mấy người khôn ngoan xét theo xác thịt, không mấy người quyền thế, không mấy người tôn quí.  Nhưng chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ.  Những điều thế gian cho là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không không, để hủy ra không những điều có” (1Cr 1,26-28).

 

Vì nếu Chúa Giêsu chọn người hùng biện trước, người ấy có thể nói, “Tôi đã được chọn vì tài hùng biện của tôi.  Nếu Chúa chọn một thượng nghị sĩ, thượng nghị sĩ có thể nói, “Tôi được chọn vì cấp bậc của mình.  Sau cùng, nếu Chúa chọn một hoàng đế, hoàng đế có thể nói, “Tôi được chọn vì khả năng của mình.

 

Ơn gọi của Phaolô

 

Phaolô, khi nhớ lại rằng mình đã từng là một kẻ bách hại Giáo hội, ông thú nhận mình không xứng đáng được gọi làm tông đồ, nhưng ông nhìn nhận rằng, Chúa Giêsu Phục Sinh đã thương ông và đã thực hiện nơi ông những điều kỳ diệu, bất chấp giới hạn con người của ông, Chúa còn trao cho ông nhiệm vụ và vinh dự được loan truyền Tin Mừng (x. 1Cr 15,8-10).  Há chẳng phải lòng thương xót Chúa biến đổi con người ông sao?

 

Ơn gọi mỗi người chúng ta

 

Trong cả ba kinh nghiệm kể trên, chứng tỏ con người dù nghèo nàn và bất xứng, giới hạn và tội lỗi, kể cả mỏng giòn.  Nhưng nếu gặp được Thiên Chúa tình yêu, Chúa sẽ biến đổi con người.  Isaia, Phêrô và Phaolô đã làm gương cho tất cả những ai được Chúa gọi thì hãy nhìn vào Chúa và lòng khoan nhân của Người, để thay lòng đổi dạ và hân hoan từ bỏ tất cả mọi sự vì Người.

 

Từ ơn gọi của các tiên tri, đến ơn gọi của các Tông đồ và cuối cùng là ơn gọi của mỗi người chúng ta.  Câu chuyện ơn gọi của ngôn sứ Isaia, Phaolô, Phêrô là mẫu số chung cho ơn gọi của mỗi người.  Ngày chúng ta được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta được Chúa chọn để trở thành Kitô hữu, sứ giả loan báo Tin mừng.  Đôi lúc chúng ta nghĩ rằng mình không xứng đáng.  Nhưng Chúa chọn gọi ai là Người biến đổi như đã biến đổi tiên tri Isaia, Phaolô, Phêrô, dù chúng ta bất xứng.  Thánh Irênê nói: ai nhận thức được bản chất tội lỗi của mình, thì người ấy có khả năng nhận biết tình trạng tạo vật của mình nữa.  Chỉ có những người như Phêrô, mới chấp nhận những giới hạn của chính mình và nhận những thành quả tông đồ của mình.  Chúa đã kêu gọi các Tông Đồ để trở thành kẻ lưới người, nhưng ngư dân đích thực là chính Chúa: trò giỏi không chỉ giỏi chài, mà còn bắt cá người giỏi.  Điều này chỉ có hậu nếu chúng ta liều bỏ tất cả để theo Chúa.  Mong sao, mỗi người chúng ta ý thức được trách nhiệm, bổn phận cao quý của mình là trở nên sứ giả Tin Mừng của Thiên Chúa giữa đời hôm nay.

 

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ gợi lên nơi mỗi người chúng con lòng ước muốn thưa “Xin Vâng” với Chúa trong vui sướng hân hoan.  Amen!

                                                          

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Bổn Mạng Tháng 2

 

THÁNG 2

 


NGÀY

LỄ

QUAN THẦY

05/02

Lễ thánh Agathe

Chị Thùy Dung 

10/02

Lễ thánh Scholastique

Chị Thiên Hằng 

11/02

Lễ Notre-Dame de Lourdes

Chị Phương (Lourdes)

18/02

Lễ thánh Bernadette

Chị Thư

20/02

Lễ thánh Jacinta

Chị Nguyệt

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

 

NGÀY

LỄ GIỖ

07/02

(29/12 ÂL)

- Giỗ Thân phụ mẫu của ACE trong Dòng

- Bà cố Maria - Thân mẫu Dì Thủy

10/02

(03/01 ÂL)

Ông cố Gioan - Thân phụ chị Hoạt

11/02

11/02/1988

(24/12/1987 ÂL)

Bà cố Anna - Thân mẫu chị Diễm Lan

Ông cố Giuse - Thân phụ chị Thùy

12/02/2021

Ông cố Phêrô - Thân phụ chị Hoa

14/02/2003

(14/01/2003 ÂL)

Bà cố Maria - Thân mẫu chị Hằng - chị Nhung

17/02

Bà cố Anê - Thân mẫu chị Hữu

18/02/1988

(02/01/1988 ÂL)

Bà cố Anna - Thân mẫu chị Thật

22/02

Giỗ Đức Cha cố Đaminh Nguyễn Văn Lãng

24/02

(05/01 ÂL)

Ông cố Luca - Thân phụ chị Thảo (Martine)

27/02

Bà cố Anê - Thân mẫu chị Hải (Goretti)

Được Kêu Gọi Nên Những Vì Sao

 

                        ĐƯỢC KÊU GỌI TRỞ NÊN NHỮNG VÌ SAO

 

"Chúng ta được kêu gọi trở nên những vì sao chiếu sáng trong cõi trần u ám này."

 


Có người đã mô tả các tiên tri trong Kinh Thánh như những người an ủi những ai phiền não, và cũng là người gây phiền não cho những ai giầu sang, tự mãn.  Chẳng hạn như tiên tri Giêrêmia.  Vị tiên tri này sống vào thời kỳ Isael đang bị băng họai từ bên trong.  Và bị quân đội ngoại bang hùng mạnh đe dọa từ bên ngoài.  Tình hình như thế làm cho Giêrêmia hết sức đau xót vì Ngài yêu mến tổ quốc và đồng bào mình.  Có lẽ vì thế mà Chúa đã kêu gọi Giêrêmia làm ngôn sứ cho bạn hữu và láng giềng của ông.

 

Nhưng lần nào được Chúa kêu gọi, Giêrêmia cũng đáp lại một cách hết sức miễn cưỡng, vì ông biết rằng làm tiên tri nơi quê hương mình rất là khó khăn.  Nhưng rồi Giêrêmia cũng phải thuyết giảng, ông tuyên bố thẳng thắn với dân chúng con đường sống còn duy nhất của họ là phải canh tân đời sống hướng về Chúa và kêu cầu Ngài cứu giúp.

 

Nghe ông giảng thuyết như thế, đám dân liền nổi giận.  Họ lầm bầm kêu: "Ông nội Giêrêmia này dám nghĩ mình là ai mà bày đặt phê phán chúng ta, vì dầu sao chúng ta cũng là đồng bào của ông ấy?"  Tình trạng căm ghét này càng dâng cao đến nỗi có lần nhà cầm quyền đã công khai đánh đòn ông, lần khác thì cột ông vào trong bao, lần khác nữa thì xô ông vào một đống phân.

 

Chúa Giêsu cũng đã cảm nghiệm được những khó khăn và đau đớn ấy khi lãnh nhận sứ mệnh làm tiên tri ngay trong xứ sở của Ngài.  Ngài đã từng bị bạn bè láng giềng ruồng rẫy.  Chẳng hạn bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy những gì đã xảy ra khi Chúa Giêsu lần đầu thuyết giảng nơi quê nhà Ngài, sau khi lãnh nhận phép rửa từ sông Giodan trở về.  Khi Chúa đứng lên tuyên bố với bạn bè và láng giềng rằng: "Thần Khí Chúa ngự xuống trên Ngài và chính Ngài làm ứng nghiệm lời Thánh Kinh," thì lập tức họ cảm thấy khó chịu ngay.  Khắp hội đường đều nghi hoặc và dân chúng xầm xì bàn tán với nhau: "Anh ta không phải là con ông Giuse sao?  Anh ta nghĩ mình là ai mà dám tự nhận mình là tiên tri?  Đâu là bằng chứng cho thấy anh ta là Đấng Thiên Sai chứ không phải là tên mạo nhận?"  Lời xầm xì càng lúc càng lớn và chẳng bao lâu đám dân chúng bắt đầu la lên.  Rồi tình hình đột nhiên không thể kiềm chế được nữa.  Thánh Luca kể lại trong Phúc Âm như sau: "Dân chúng đứng dậy kéo Chúa Giêsu ra khỏi thành và dẫn Ngài lên đỉnh đồi trong thành phố dự tính xô Ngài lộn đầu xuống dưới.  Nhưng Ngài bước qua giữa họ và bỏ đi chỗ khác" (Lc 4: 29-30).

 

Bài mô tả của thánh Luca về khó khăn đầu tiên Chúa Giêsu gặp phải tại Nagiarét khiến cho người Kitô hữu đang hăng hái phấn khởi bỗng như bị "té cái bịch" xuống đất.  Nhưng sau khi suy niệm về Kinh nghiệm chua chát đó, chúng ta bỗng nhớ lại những lời phiền não cụ già Simeon đã thốt ra khi Chúa Giêsu được dâng vào đền thánh "Trẻ này… là một dấu chỉ cho người ta chống đối" (Lc 2:34).  Lời nói này sẽ còn vang đi vọng lại suốt thời kỳ giảng thuyết của Chúa Giêsu.  Nếu dân làng Nagiaret từng đòi Chúa Giêsu trưng ra bằng cớ xác minh Ngài là tiên tri thế nào, thì các nhà lãnh đạo tôn giáo Irsael cũng buộc Ngài chứng minh giáo lý của Ngài là chính thống y như vậy (Mc 2: 18).  Nếu dân làng Nagiaret từng tố cáo Chúa Giêsu là kẻ dối trá, là kẻ lộng ngôn phạm thượng thế nào thì bọn biệt phái cũng thẳng thừng buộc tội Ngài là khí cụ của chính ma quỉ y thế ấy (Mt 12:24).  Và nếu dân làng Nagiaret từng cố tìm cách giết Chúa Giêsu vì lời tuyên bố của Ngài như thế nào, thì đám dân thành Giêrusalem cũng hò hét khản cổ: "Đóng đinh nó đi!  Đóng đinh nó đi!" y hệt như vậy.  Thực sự mà nói, Chúa Giêsu quả là một kẻ bị nhiều người chống đối và khích bác.  Lời tiên báo của cụ già Simeon về con trẻ Giêsu sẽ theo sát Đức Giêsu trong suốt cuộc đời dương thế Ngài.

 

Làm sao áp dụng những điều nói trên vào cuộc sống của chúng ta?  Chính Chúa Giêsu đã từng nêu gương cho chúng ta trước.  Ngài từng bảo các môn đệ: "Nếu thế gian ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Ta trước… Đầy tớ không lớn hơn chủ mình.  Nếu họ đã bắt bớ Ta thì họ cũng sẽ bắt bớ các con" (Ga 15:18-20).  Bất cứ ai cố gắng sống đúng là Kitô hữu sẽ hiểu được những lời nói trên chân thực thế nào.  Chúng ta thử xét trường hợp những thanh niên đang học trung học hay đại học.  Cách đây không lâu, trong đám thanh niên có một số cảm nhận được những điều Chúa Giêsu đang đề cập đến.  Chúng ta hãy hỏi họ xem điều gì đã xảy đến cho họ khi họ cố gắng thật thà trong cuộc thi đang khi bạn bè xung quanh gian lận?  Điều gì đã xảy đến cho họ khi họ cố gắng giữ mình đúng đắn trong một buổi tiệc vui, đang khi chung quanh họ lũ bạn đang "quậy" tứ tung?  Điều gì đã xảy ra cho họ khi họ lên tiếng chống lại việc phá thai trong khi những người xung quanh họ lên tiếng ủng hộ việc ấy?  Điều gì đã xảy ra cho họ khi họ tuyên bố chống nạn kỳ thị chủng tộc, đang khi quanh họ người ta đang tìm cách tiêu diệt cá tính của những dân tộc thiểu sổ?  Điều gì đã xảy ra cho những thanh niên này thì cũng xảy ra tương tự cho những người lớn tuổi hơn.  Quả thế, nhiều lúc chúng ta đã từng bị ruồng bỏ và bắt bớ vì niềm tin của chúng ta.

 

Tuy nhiên chúng ta không nên vì thế mà từ bỏ lối sống lương thiện và trong sạch.  Không nên vì thế mà từ chối không dám bảo vệ quyền lợi trẻ em và nhóm người thiểu số.  Lý do thật rõ ràng là vì Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ trong bài giảng trên núi: "Các con là muối đất…  Các con là ánh sáng thế gian…  Người ta không đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng nhưng đặt nó trên giá đèn…  Cũng thế, ánh sáng của các con phải toả sáng trước mọi người để họ trông thấy việc thiện các con làm và ngợi khen Cha các con ở trên trời" (Mt 5:13-15).

 

Chúng ta là Kitô hữu được kêu gọi làm tiên tri của Chúa Cha cho thời đại chúng ta, cũng như Chúa Giêsu từng là tiên tri của Chúa Cha cho thời đại của Ngài.  Đây chính là sứ vụ mà chúng ta lãnh nhận khi chịu phép rửa tội và thêm sức.  Chúng ta hãy lập lại lời thánh Phaolô; "Người Kitô hữu chúng ta được Chúa kêu gọi để toả sáng như các vì sao giữa lòng thế giới tăm tối này" (Pl 2:15).

 

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện nói lên cảm nghĩ của bất cứ ai đã từng cố gắng trung thành bước theo Chúa Giêsu.

"Lạy Chúa xin ban cho chúng con tình yêu của Chúa, vì đôi khi chúng con bị cám dỗ căm thù đám người ruồng rẫy chúng con.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sức mạnh của Chúa.  Vì đôi khi chúng con như muốn ngã lòng trước những cảnh ngộ gai góc.

Lạy Chúa xin ban cho chúng con lòng dũng cảm vì đôi khi chúng con như muốn đầu hàng trước những gánh nặng đè lên chúng con.

Xin giúp chúng con là muối ướp mọi người, là đèn soi thế giới.  Xin hãy giúp chúng con toả sáng như những vì sao trong thế giới tăm tối này. Amen".

 

Lm. Mark Link, SJ