Suy Niệm Chúa Nhật 20 Thường Niên B

 

ĂN THỊT VÀ UỐNG MÁU

 


Trong quá khứ, đã có những tranh luận giữa các Ki-tô hữu liên quan đến giáo huấn về sự hiện diện của Đức Giê-su trong Bí tích Thánh Thể.  Câu hỏi được đặt ra là: Đức Giê-su hiện diện thật sự trong Hình Bánh và Hình Rượu, hay đó chỉ là biểu tượng?  Giáo hội Công giáo nhấn mạnh đến thuật ngữ “Biến đổi bản thể”, và thuật ngữ này được giải thích như sau: “Biến đổi bản thể là việc bản thể bánh và rượu biến đổi thành bản thể Mình và Máu Chúa Giê-su Ki-tô, sau khi linh mục đọc lời truyền phép, tuy những đặc tính tùy phụ hữu hình (tùy thể) của bánh và rượu như màu sắc, hương vị vẫn tồn tại” (Từ Điển Công giáo).  Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo khẳng định: “Trong Bí tích Thánh Thể, Đức Ki-tô toàn thể (totus Christus), hiện diện một cách đích thực, thật sự, và theo bản thể” (số 1374).

 Thánh Cy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem (313-387) đã diễn tả sự hiện diện đích thực của Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể một cách rõ ràng và dễ hiểu như sau: “Bánh này không còn là bánh, dù bằng chứng của vị giác thế nào đi nữa, nhưng là thân mình Chúa Ki-tô.  Rượu này không còn là rượu dù giác quan có nói thế nào đi nữa, nhưng chính đây là máu Chúa Ki-tô” (Giáo Lý nhiệm huấn IV, 9).

 Mặc dù giáo lý về sự hiện diện đích thực của Đức Giê-su đã được Giáo Hội Công giáo tuyên tín, nhất là trong công đồng La-tê-ra-nô (Tk 13) và công đồng Tren-tô (Tk 16), những tranh luận thần học vẫn chưa kết thúc. vVì thế, một số giáo phái Ki-tô vẫn cho rằng sự hiện diện này chỉ mang tính biểu tượng.

 Thực ra, những tranh luận này đã có từ thời Chúa Giê-su, khi Người diễn giảng về Bánh Hằng Sống. Trong Phúc Âm hôm nay, thánh Gio-an ghi lại cuộc bàn luận sôi nổi giữa người Do Thái.  Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”  Họ có lý khi tranh luận và nghi vấn, vì theo lẽ thường, không ai ăn thịt người, trừ một vài bộ lạc thời cổ đại xa xưa.  Ở đây, Chúa Giê-su cho biết, những gì Người nói không phải là so sánh hay một biểu tượng, mà là sự thật.  Người tuyên bố: “Thật, tôi bảo thật các ông, nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.  Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.  Vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.”

 Trong Phúc Âm, cụm từ “Thật, tôi bảo thật các ông” được dùng cho một tuyên bố rất quan trọng, mang tính khẳng định dứt khoát.  Trong văn mạch, Chúa Giê-su đã khẳng định rõ ràng, chứ không phải ở thể văn so sánh hay biểu tượng.  Sự ngỡ ngàng dẫn tới phản đổi gay gắt của những người đồng bào, cho thấy lời khẳng định của Chúa Giê-su lúc đó là chắc chắn.

 “Ăn Thịt và uống Máu!”, cụm từ này dễ làm người ta ghê sợ và liên tưởng tới một thời hoang dã, nhưng lại là thật.  Đức tin của Ki-tô hữu sống và lớn lên nhờ Thịt và Máu Chúa.  Khi lãnh nhận Mình Thánh Chúa Giê-su (rước lễ), chúng ta được bổ dưỡng thiêng liêng và được nên giống Người.

 Đức Giê-su là quà tặng của Chúa Cha cho loài người.  Vào đêm tiệc ly, Người lại biến đổi chính bản thân mình làm quà tặng cho nhân loại, mà đại diện lúc đó là các môn đệ.  Các ông đã đón nhận quà tặng này với lời dặn: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.”  Như thế, bất kỳ ở nơi đâu, khi có thánh lễ được dâng, thì ở đó có Mình và Máu Chúa Giê-su.

 Ki-tô hữu, khi rước Mình Thánh Chúa, phải chuẩn bị tâm hồn, và phải nỗ lực cố gắng để nên hoàn thiện.  Trong nghi thức thánh lễ, các linh mục chủ sự thánh lễ vẫn đọc trước khi rước lễ: “Chớ gì việc rước Mình và Máu Chúa đừng nên cớ cho con bị xét xử và luận phạt, nhưng nhờ lòng Chúa nhân lành, xin gìn giữ và cứu chữa hồn xác con.”  Quả vậy, chỉ khi nào sống trong tình trạng ân sủng, tức là không mắc tội trọng, người tín hữu mới được rước lễ.  Thánh Phao-lô khuyên tín hữu Ê-phê-sô như sau: “Đừng sống như những kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan… chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới trụy lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí.”

 Mỗi ngày, Giáo hội đều chuẩn bị và mời gọi chúng ta đến bàn tiệc Thánh Thể.  Nội dung Bài đọc I trong sách Châm Ngôn diễn tả điều ấy: “Hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế.”  Thánh Thể không phải hình ảnh hay một biểu tượng, mà là sự hiện diện thực sự của Con Thiên Chúa. Mình và Máu Người sẽ ban sức mạnh cho chúng ta.

 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 

Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời

 

TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA BA NGÔI DÀNH CHO MẸ QUA SỰ KIỆN MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

 


Trong các ân sủng lớn lao mà Mẹ được Thiên Chúa ban như ân sủng làm Mẹ Thiên Chúa, ân sủng Vô Nhiễm Nguyên Tội v.v…, thì ân sủng được về trời cả hồn lẫn xác phải kể là một ân sủng hết sức đặc biệt mà Thiên Chúa dành cho Mẹ.  Đặc biệt ở chỗ: Mẹ là thụ tạo duy nhất được Chúa cho về trời cả hồn lẫn xác.  Ở đây, xin nhấn mạnh là: Chúa đã cho Mẹ lên trời, vì Mẹ không thể tự mình lên trời được (như một số người lầm tưởng), chính Thiên Chúa Toàn Năng đã cất nhắc Mẹ lên vì Mẹ là người hoàn toàn xứng đáng; khác với Chúa Giêsu, Ngài là con người thật, nhưng cũng là Thiên Chúa thật, nên tự thân Ngài có thể lên trời cách dễ dàng.


Mẹ đã được Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương vô cùng.
 Mỗi ngôi vị đều dành cho Mẹ một tình yêu hết sức tuyệt vời, mà ở đây chúng ta chỉ xét đến sự thể hiện tình yêu đó qua sự kiện Mẹ được về trời cả hồn lẫn xác.


Tại sao Chúa Cha đã thương cho Mẹ hồn xác về trời?
 Thưa, bởi vì chính người tỳ nữ Maria của Cha đã rất đẹp lòng Cha khi nói lên lời “xin vâng” với Cha để thánh ý của Ngài được thể hiện “dưới đất cũng như trên trời.  Ngoài ra, nhờ sự tin tưởng tuyệt đối của Mẹ vào quyền năng của Thiên Chúa nên Mẹ đã được Chúa Cha trao vào lòng Mẹ người Con yêu quý duy nhất của Ngài.  Chính vì thế, Chúa Cha đã không nỡ để cho thân xác vẹn tuyền của Mẹ, người đã được Chúa Cha chọn để sinh ra chính Con Một của Ngài nơi trần thế, phải hư nát trong mồ.  Maria là người không thể chịu chung số phận với những xác phàm khác được, vì chính thân xác này đã cưu mang Con Một của Cha, cũng là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa.


Còn lý do vì sao Chúa Giêsu, Thiên Chúa Ngôi Hai, lại đưa Mẹ về trời cả hồn và xác thì quả không có gì là khó hiểu.
 Cả một đời Mẹ cưu mang, thương yêu và chăm sóc cho Chúa Giêsu, nên không lẽ Ngài lại để cho thân xác của Mẹ Ngài tan thành bụi đất, trong khi Ngài là Thiên Chúa quyền năng và lại hết lòng hiếu thảo yêu thương Mẹ.  Không những thế, Mẹ là người thấu hiểu và thông cảm được hết những đau khổ mà Chúa phải chịu trong cuộc tử nạn của Ngài, Mẹ đã hiệp thông và chia sẻ với con của Mẹ từng giây từng phút trên con đường tiến lên Núi Sọ.  Vì vậy, Mẹ xứng đáng được chia phúc vinh hiển bên Chúa Kitô Phục Sinh, xứng đáng được Chúa Giêsu dành cho ân sủng đặc biệt này: ân sủng hồn xác lên trời.


Nhờ vào quyền năng của Chúa Thánh Thần, và đồng thời cũng nhờ vào sự cộng tác (thể hiện ở sự vâng phục Thiên Chúa) của Mẹ, Chúa Giêsu trở nên con người bằng xương bằng thịt giữa chúng ta.
 Ngài đã chịu chết trên cây thập tự, làm giá cứu chuộc cho chúng ta, làm hy lễ đền thay cho toàn thể nhân loại.  Thiên Chúa không thể không rước hồn xác Mẹ về trời, bởi lẽ chính thân xác Mẹ đã sinh ra Con Một Thiên Chúa, nên không thể bị sự giới hạn của thời gian và không gian sao.  Vì nếu bị sự giới hạn này quả không xứng với Ngài là Đấng vượt trên thời gian và không gian, Thiên Chúa vô thủy vô chung đầy uy quyền.


MẸ LÀ NGƯỜI XỨNG ĐÁNG LÃNH NHẬN ÂN SỦNG HỒN XÁC VỀ TRỜI.


Đối với Chúa Cha, Mẹ là một người con rất đẹp lòng Ngài.
 Sự vâng phục và trung tín của Mẹ đã chiếm được sự ưu ái của Chúa Cha.  Suốt một đời sống xin vâng và trung thành với lời xin vâng ấy, cô “nữ tỳ Maria của Thiên Chúa” xứng đáng được Ngài ban cho phần thưởng trọng hậu.


Đối với Chúa Con, Mẹ là một người Mẹ đầy tình mẫu tử.
 Mẹ đã cưu mang chính Thiên Chúa Ngôi Hai trong lòng mình, đã nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ trong suốt hơn 30 năm, để rồi đến một ngày lại xót xa thấy con mình chịu chết tủi nhục trên thập giá.  Tình yêu của Mẹ dành cho Chúa Giêsu, cùng với những nỗi vất vả lo toan và đau khổ của Mẹ, chẳng lẽ lại không xứng đáng được Ngài dành cho Mẹ phúc ân vinh hiển lên trời hồn xác với Ngài?


Đối với Chúa Thánh Thần, Mẹ thật đúng là một hiền thê.
 Mẹ đã kết hiệp mật thiết với Chúa Thánh Thần để thực hiện hoàn hảo thánh ý của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ của Ngài.  Mẹ đã dâng hiến cả hồn xác, cả cuộc đời Mẹ cho Thiên Chúa.  Mẹ đã hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào quyền năng của Chúa Thánh Thần.  Vì thế, không có ai xứng đáng hơn Mẹ để được Chúa Thánh Thần thương yêu và đón về trời cả hồn và xác.


Để kết thúc bài viết này, tôi muốn mời độc giả cùng với tôi dành vài phút suy niệm mầu nhiệm thứ 4 Năm Sự Mừng để kính dâng lên Mẹ diễm phúc của chúng ta:


Lạy Mẹ Maria, Mẹ đầy ân sủng.
 Thiên Chúa đã không để cho thân xác vẹn tuyền của Mẹ phải biến thành tro bụi, Ngài đã ban cho Mẹ một ơn phúc vô cùng tuyệt diệu, một ân sủng lớn lao mà chỉ mình Mẹ xứng đáng trong muôn loài thọ tạo, là được về trời cả hồn lẫn xác.  Chúng con trân trọng từng lời kinh Kính Mừng trong mầu nhiệm này để tiến dâng lên Mẹ.  Xin Mẹ, là Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng con, cầu cho chúng con là những kẻ có tội.  Xin Mẹ giúp chúng con sống xa đàng tội lỗi, luôn biết sống noi gương Mẹ, để vào giây phút lâm chung cuối cuộc đời, chúng con được an nghỉ trong bàn tay dịu hiền của Mẹ.  Amen.


Nữ Vương hồn xác lên trời, cầu cho chúng con.


Don Bosco Trần Đức Quý

 

Chấp Nhận Ý Chúa Khi Thất Vọng

 

CHẤP NHẬN Ý CHÚA KHI THẤT VỌNG

 


“Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.  Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên.  Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người.  Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.” (Tv 34:1-5)


Trong nhiều loại cảm xúc, thất vọng được liệt kê dưới dáng vẻ của nỗi buồn và sự xấu hổ.  Sự thất vọng kéo dài có thể chuyển sang cảm giác mất tinh thần hoặc không hài lòng.  Những từ đồng nghĩa này tiết lộ nhiều điều cho tâm hồn đang gặp rắc rối.  Trong các chu kỳ tôn giáo, nơi tâm linh tươi sáng được đề cao, sự thất vọng bị che giấu, bị vô hiệu, bị làm ngơ.  Tuy nhiên, hầu như mọi Kitô hữu đều trải qua sự thất vọng ở một mức độ nào đó trong cuộc sống.

 

Cách đây không lâu, con gái lớn của tôi muốn bày tỏ cảm giác thất vọng khi một người họ hàng gần quyết định từ chối chuyến thăm đã được lên kế hoạch từ nhiều tháng trước.  Con gái tôi đã hủy chuyến đi theo đúng nghĩa đen một tuần trước khi chuyến bay đến Indiana.  Nói Felicity thất vọng sẽ đánh giá thấp cảm xúc của con gái; nó đã bị tàn phá, bị nghiền nát.  Theo yêu cầu của con gái, chúng tôi đã tìm cách chia sẻ cảm xúc của nó một cách trung thực và cởi mở.  Phản ứng mà con gái tôi nhận được là “Mọi người đều thất vọng trong cuộc sống.  Bạn sẽ phải học cách đối phó với nó.”

 

Đôi khi chúng ta hiểu cùng một thông điệp này khi chúng ta thất vọng về ý Chúa đối với cuộc sống của chúng ta.  Có thể chúng ta đã mong đợi một kết quả khác với lời cầu nguyện của mình hoặc được yêu cầu “có thêm đức tin” rằng Thiên Chúa sẽ ban một phép lạ.  Khi điều có vẻ trái ngược với phúc lành làm suy sụp niềm tin của chúng ta vào lòng nhân lành của Thiên Chúa, thì thật khó để tiếp tục theo cách tương tự.  Chúng ta cảm thấy bị lừa dối và kiệt quệ, xa rời việc cầu nguyện – như thể bí ẩn vĩnh cửu về cách thức và lý do Thiên Chúa chọn hoặc cho phép những hoàn cảnh nào đó tạo ra vực thẳm nghi ngờ trong chúng ta.

 

Ở đây, Thánh Vịnh gia biết rõ về sự thất vọng.  Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nhảy vượt từ việc thực hiện ước mơ của mình đến một nơi vui mừng và ca ngợi Thiên Chúa.  Thay vào đó, đức tin của chúng ta linh hoạt hơn và thường lên xuống khi chúng ta vật lộn với những gì Chúa có thể yêu cầu chúng ta chịu đựng.

 

Phần đầu của Tv 34 sử dụng cách đặt liền nhau giữa người nghèo và người giàu.  Thánh Vịnh gia không viết về sự giàu có hay nghèo khó về vật chất, mà nói đến người nghèo về tinh thần.  Điển hình như trong thực tại tâm linh, chúng ta thấy một nghịch lý – người nghèo thực sự là người giàu, trong khi người giàu lại thiếu những gì quan trọng nhất.

 

Có vẻ như Thánh Vịnh gia muốn chúng ta nhớ rằng, khi thất vọng hoặc nản lòng, chúng ta lớn lên trong ơn phúc của sự nghèo nàn về tinh thần.  Chúng ta trở nên trống rỗng về bản thân, và dù đau đớn đến đâu, chúng ta vẫn mở lòng để Thiên Chúa di chuyển tự do hơn trong chúng ta.  Trong Thánh Vịnh này, người nghèo là những người đã “tìm kiếm Chúa” và “kêu cầu” với Ngài.  Cũng vậy, chúng ta có xu hướng khuỵu gối trong nỗi tuyệt vọng và khóc lóc khi dồn dập có những sự mất mát.

 

Thật thú vị khi Thánh Vịnh gia muốn bắt đầu bằng việc ca ngợi Thiên Chúa, bởi vì điều đó có vẻ khó khăn hơn khi chúng ta chán nản và cố gắng chấp nhận ý Chúa dành cho chúng ta.  Tuy nhiên, khi chúng ta hành động trái với cảm xúc của mình và nhớ lại đường lối của Chúa rất rộng lớn, những điều kỳ diệu của sự sáng tạo của Ngài, và những phúc lành trong quá khứ mà chúng ta đã nhận được, điều đó tạo ra lời cầu được xây dựng trên đức tính kiên cường và sau đó có thể chịu đựng được đau khổ lớn hơn.

 

Ở đây, điều an ủi là Thiên Chúa thấy người đau khổ đang quay về với Ngài.  Chúng ta có thể không nhận được câu trả lời mà chúng ta đang tìm kiếm khi cầu nguyện.  Chúng ta có thể không có thập giá cụ thể nào bị loại bỏ khỏi cuộc đời mình.  Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng Thiên Chúa lắng nghe và không quên chúng ta.

 

Cuối cùng, ai kính sợ Chúa và kiên định thì tìm thấy phần thưởng của mình.  Thánh Vịnh gia nhắc nhở chúng ta rằng sự trung thành với Thiên Chúa là nền tảng khi chúng ta gần đến bờ vực thẳm của sự vô vọng và muốn bỏ cầu nguyện.  Kính sợ Chúa không phải là khiếp sợ Chúa như bạo chúa nhưng là khiêm nhường và nhận biết rằng những cách thức huyền bí và nghịch lý của Chúa đến từ nơi có tình yêu thương sâu sắc đối với chúng ta.

 

Giống như bất kỳ cảm xúc nào, sự thất vọng phải được nhận biết và chấp nhận chính điều đó.  Chúng ta có thể làm điều này mà không suy sụp, nhưng thay vào đó bằng cách vượt qua những thăng trầm trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa.  Như trong tất cả các mối quan hệ, thử thách và kiểm tra thường tạo ra kết quả tốt đẹp nhất – nếu chúng ta sẵn sàng đi đúng hướng và chịu đựng những gì gian khổ và khó khăn.

 

Jeannie Ewing

Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

 

Làm Hay Là?

 

LÀM HAY LÀ?

 


Lời tuyên bố gây sững sờ

Đoạn văn hôm nay mở đầu cho cuộc đối thoại dài giữa Đức Giêsu với đám đông dân chúng muốn tôn Người làm vua, sau khi họ được chứng kiến phép lạ hóa bánh ra nhiều.  Cuộc đối thoại này được gọi là diễn từ về bánh trường sinh, trong đó Đức Giêsu đáp lại việc tìm kiếm của đám đông dân chúng qua những tuyên bố quan trọng, nhưng họ không hiểu nổi.  Đức Giêsu cố gắng giải thích cho họ hiểu tầm mức sâu xa của những điều mới xảy ra.  Bánh Người vừa ban cho đám đông mới chỉ là một dấu chỉ, qua đó Người loan báo một thực tại còn sâu sắc hơn nhiều.  Thực tại ấy là nguồn mạch đích thực của sự sống, bởi vì nó không chỉ diễn tả tình yêu, nhưng chính là tình yêu.

 

“Tôi là bánh trường sinh”

Một tuyên bố đầy mâu thuẫn và có tính khiêu khích.  Lời tuyên bố này buộc các thính giả phải đặt mình vào một tầm mức hoàn toàn khác hẳn với cuộc sống thể chất.  Họ phải tự đặt câu hỏi cho chính mình: Đâu là khát vọng cơ bản đang thúc đẩy họ?  Phải chăng họ là những người đang ở trong tình trạng no nê, thoả mãn vì đã được ăn và bây giờ không còn đói?  Họ có cảm thấy khao khát một chuyện gì khác không, và chuyện đó là gì?

 

Lời tuyên bố của Đức Giêsu không có ý nói bánh ăn của con người không làm cho họ cảm thấy ngon miệng.  Người cũng không nói với họ là nhu cầu ăn uống không cần thiết nữa và phải loại bỏ.  Người có ý buộc họ phải đào sâu khát vọng của mình: họ có mong muốn được sống vĩnh cửu hay chỉ sống đời này?  Người cho họ hiểu rằng con người không thể sống được nếu không có mối liên hệ với thế giới đang nuôi dưỡng mình.  Con người không thể sống được nếu không có mối liên hệ với người khác cũng như với chính mình.

 

Đó là điều Đức Giêsu muốn đề nghị qua lời tuyên bố “Tôi là bánh trường sinh.”

 

“Việc Thiên Chúa muốn là các ông tin…”

 

Khi đám đông đến gặp Đức Giêsu, Người đã nói với họ: “Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.  Đức Giêsu biết dân chúng đi tìm Người không phải vì đã hiểu được dấu lạ hóa bánh ra nhiều, nhưng vì những mục đích phàm trần.  Trong thâm sâu, có lẽ Đức Giêsu muốn nói với họ rằng: “Việc các ông phải làm là đừng tìm kiếm thứ của ăn hư nát, nhưng là nhận ra trong dấu lạ tôi vừa thực hiện là hành động của Chúa Cha.  Chính Chúa Cha đã trao cho tôi làm thay và tôi là người do Chúa Cha sai đến.  Hãy tin vào tôi, đó là việc các ông phải làm.

Lời tuyên bố làm đám đông ngạc nhiên, chưng hửng.

 

Tin vào tôi tức là vào Đức Giêsu, người đang nói chuyện với đám đông.  Đây không phải là tin cách mù quáng nhưng là đi vào trong nhãn quan mới của người đang nói chuyện.  Tin Đức Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến có nghĩa là khám phá nơi chính bản thân mình ý nghĩa về cuộc sống của mình, về khát vọng cũng như lời mời gọi của mình.

 

Lời đề nghị của Đức Giêsu không bảo người ta phải rút lui, nhưng thúc đẩy họ đạt đến chân lý sâu xa đang ẩn giấu nơi tâm hồn con người, vì con người che giấu chân lý.

 

Về phần mình, qua hành động, qua cuộc sống và cái chết, Đức Giêsu buộc mỗi người phải đối diện với thực tại ấy.  Ai chấp nhận mở ra, người ấy vượt lên trên những biểu hiện bên ngoài, hiểu được nền tảng của thực tại và họ sống.

 

Cuộc đối thoại quyết liệt

 

Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và đám đông quả là một thứ bi kịch.  Đức Giêsu muốn bày tỏ những điều bí nhiệm, còn dân chúng lại cứ muốn hiểu theo nghĩa vật chất.  Các cử chỉ và lời lẽ của Đức Giêsu do thánh Gio-an thuật lại ghi nhận rằng mối căng thẳng từ bên trong mỗi lúc một tăng thêm.  Người ta phải đau đớn mà nhìn nhận rằng, giữa hai bên, không hề có sự thông cảm, khoan nhượng.  Một cuộc đối thoại quyết liệt.

 

Khởi đầu, đám đông đi tìm Đức Giêsu.  Sau khi được Người cho ăn bánh no nê, họ đã lạc mất Người, và họ đi tìm.

 

Nhưng họ đi tìm ai?  Có phải là tìm người vừa cho họ ăn bánh, hay là người sẽ giải quyết những vấn đề cụ thể của họ?  Sau khi được Đức Giêsu nuôi ăn, họ nghĩ rằng mình có quyền chiếm đoạt Người.  Gặp Đức Giêsu, họ đưa ra một loạt câu hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” – “Ông sẽ làm gì đây?” – “Ông làm được dấu lạ nào?”  Và cuối cùng, như một lệnh truyền: “Xin ban cho chúng tôi…”

 

Làm, đó là từ ngữ chính của đám đông.  Họ muốn Đức Giêsu phải luôn làm một điều gì đó, một điều gì mới với tư cách là một nhà ảo thuật đầy khéo léo.  Và họ sẽ đưa ra nhận xét về Đức Giêsu theo những việc Người làm.

 

Để đáp lại từ làm của đám đông, Đức Giêsu nói: “Tôi là.

 

Họ hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?”

 

Đức Giêsu đáp: “Việc Thiên Chúa muốn các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

 

-         Xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.

-         Chính tôi là bánh trường sinh.  Hãy đến và hãy tin.

 

Đây chính là trọng tâm của bi kịch; không có ánh sáng Thần Khí, không thể nào vượt qua được.  Không có thái độ sẵn sàng, làm sao có thể hiểu được là là quan trọng nhất, và “tôi làm” chỉ là một hình thức của “tôi là?

 

Quả thật, người ta không thể nói rằng mình yêu mến Thiên Chúa mà trong thực tế lại ghét anh em mình.  Nhưng người ta càng không thể coi điều này hơn điều kia để rồi không sống chính sự sống của Đức Kitô, không sống tình yêu Người trao tặng qua cuộc sống của Người.

 

Trong thực tế, người ta thường bỏ qua khó khăn này.  Người ta dễ dàng quả quyết Đức Giêsu là bánh trường sinh, nhưng lại không nhìn nhận đó là lương thực của mình.  Người ta rất ao ước đón nhận Bánh trường sinh, nhưng lại không muốn tiến đến với Đức Kitô, không muốn nhận lấy thập giá và bước đi theo Người.

 

Cuối cùng, người Do-thái chẳng hiểu được Đức Giêsu muốn nói với họ.  Họ chỉ mong muốn Đức Giêsu làm cho họ có bánh ăn, chứ không muốn Đức Giêsu là bánh cho họ.

 

Bánh là chính Thiên Chúa

 

“Tôi là bánh trường sinh.”

 

Đây là một khẳng định quan trọng Đức Giêsu gửi đến mỗi chúng ta.  Qua câu nói này, Đức Giêsu muốn nói với chúng ta: “Hãy đến với tôi, anh em sẽ không còn đói; hãy tin vào tôi và anh em sẽ không còn khát.”

 

Thật thế, chúng ta đói, chúng ta thiếu, không phải chỉ bánh ăn; chúng ta khát không phải chỉ nước uống.  Chúng ta còn đói, còn khát tình bạn.  Chúng ta cần gặp được một cái nhìn, cần được nâng đỡ cách thân tình qua sự trợ giúp đầy tình huynh đệ.  Chúng ta cần biết, cần thấy rằng chúng ta được người khác hiểu biết, thông cảm, và nhất là được người khác yêu mến.

 

Sau nữa, chúng ta còn đói khát điều căn bản hơn là chính Thiên Chúa.  Cơn đói khát này, chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể làm thoả mãn.  Vì thế, Thiên Chúa đã đến với chúng ta, không chỉ như một sự kiện, nhưng nơi một con người là Đức Giêsu Kitô.

 

Chìa khoá mở ra tương lai của chúng ta chính là Đức Kitô, và chỉ một mình Người.

Chúng ta phải tiến đến với Đức Kitô, chứ không phải là đi tìm bánh.

Chúng ta phải đáp lại sự hiện diện của Đức Kitô không chỉ bằng từ ngữ, nhưng bằng thái độ sẵn sàng do Thần Khí thúc đẩy, Người sẽ giúp chúng ta nói lên:

 

“Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin hãy đến.

Chúa thực là bánh trường sinh,

là bánh từ trời xuống.”

 

**********************

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con,

xin ban cho chúng con Người Con của Chúa.

Xin cho chúng con được ăn

thịt và máu Người.

Xin cho chúng con được hưởng

tất cả những gì Người đã nói và đã làm giữa chúng con.

Người thường hay nói lương thực của Người là thi hành ý Chúa.

Xin dạy chúng con

đừng chỉ tìm sống cho riêng mình

để biết mến yêu người khác,

và như vậy,

được bước từ cõi chết sang cõi sống.  (theo F. Cromphout)

 

Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

 

Suy Niệm Chúa Nhật 19 Thường niên B

 

TÍCH CỦA HIỆP THÔNG

 


Chúa nhật XIX Thường niên là Chúa nhật thứ ba, trong chuỗi 5 Chúa nhật liên tiếp của Phụng vụ năm B, đều có cùng một chủ đề chính là Thánh Thể.  Điều này cho chúng ta thấy việc tôn sùng yêu mến Thánh Thể quan trọng như thế nào trong đời sống Ki-tô hữu.

 

Công đồng Vatican II đã viết: “Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Ki-tô hữu” (x. LG 11).  Sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo khẳng định: “Tất cả các Bí tích khác đều quy hướng về Bí tích Thánh Thể như về cùng đích” (số 1211).  Những khẳng định này cho chúng ta thấy, đời sống hiện tại cũng như tương lai của Ki-tô hữu, cá nhân cũng như tập thể, đều hướng về Chúa Giê-su Thánh Thể, bởi trong Bí tích này, Chúa Giê-su đang hiện diện giữa chúng ta.  Thiên Chúa ở giữa loài người.  Việc tôn sùng Thánh Thể sẽ cho chúng ta cảm nhận hạnh phúc thiên đàng ngay khi còn ở dưới thế.

 

Ngôn sứ Ê-li-a đang bị vua A-kháp săn đuổi, sau khi ông chiến thắng trong cuộc thách chiến với các tiên tri của thần Ba-an.  Trong lúc mệt mỏi chán chường, ông tìm về hướng núi Hô-rép, là nơi Thiên Chúa đã ban Luật Giao ước cho con cái Ít-ra-en qua ông Môi-sen.  Trong hành trình chạy trốn này, Thiên Chúa đã nuôi sống ông bằng cách sai một con quạ hàng ngày mang bánh và nước đến cho ông, nhờ đó ông đủ sức đi đến núi Hô-rép.  Ở đó ông đã được gặp Chúa, và ông đã tìm lại được bình an.

 

Từ rất sớm, cộng đoàn Ki-tô hữu đã nhận thấy qua sự kiện này hình ảnh của Bí tích Thánh Thể.  Con đường dương thế vừa xa vời vừa nhiều chông gai cám dỗ.  Bí tích Thánh Thể là lương thực thần linh, giúp sức cho người tín hữu, nhờ đó họ được gặp gỡ Chúa ngay trong cuộc đời hiện tại, và cũng là bảo đảm sẽ được gặp gỡ Chúa trong hạnh phúc Nước Trời.

 

Thánh Thể là Bí tích của hiệp thông, hiệp thông với Chúa và hiệp thông với anh chị em.  Thánh Phao-lô đã viết cho giáo dân Cô-rin-tô như sau: “Chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa, chẳng phải là thông hiệp với máu Chúa Ki-tô sao?  Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là thông phần vào Mình Chúa đó sao?  Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh” (1Cr 10,16-17).  Qua những lời này, thánh Phao-lô đã diễn tả cả hai chiều kích hiệp thông nơi Bí tích Thánh Thể, đó là liên kết với Chúa và liên kết với anh chị em.  Khi rước Thánh Thể, chúng ta có sức sống thần linh nơi con người phàm hèn của chúng ta, để rồi sức sống ấy giúp chúng ta gắn bó với anh chị em mình.

 

Trong giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta thường đọc thấy cụm từ “Cộng đoàn Thánh Thể.”  Một gia đình, một hội đoàn, một giáo xứ được kêu gọi trở nên cộng đoàn Thánh Thể.  Điều này có nghĩa, mọi sinh hoạt của đời sống thường ngày nơi gia đình, nơi hội đoàn và nơi giáo xứ đều bắt nguồn từ Thánh Thể và phản ánh ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể.  Mọi sinh hoạt ấy phải giúp các cá nhân gặp gỡ Chúa Giê-su, liên kết với Chúa Giê-su, sống khiêm hạ, sẵn sàng phục vụ anh chị em mình, như Chúa Giê-su trong Bí tích cực trọng này.  Cộng đoàn Thánh Thể là nơi các thành viên đều cảm nhận tình thương yêu gắn bó, để không ai bị loại trừ và lãng quên.  Cộng đoàn Thánh Thể cũng được gọi là cộng đoàn hiệp thông, nơi có tình yêu Thiên Chúa ngự trị.

 

Trong cuộc tranh luận với người Do Thái, Chúa Giê-su đã chứng minh: Người đến từ Chúa Cha, và ai tin và đón nhận giáo huấn của Người, thì sẽ được gặp Chúa Cha.  Khi nhắc lại biến cố Man-na trong Cựu ước, Chúa Giê-su khẳng định: Người là Bánh hằng sống, và Bánh ấy chính là Thịt của Người, ban tặng vì phần rỗi thế gian.  Như thế, cộng đoàn Thánh Thể được nuôi dưỡng bởi Thịt và Máu Chúa Giê-su, để mỗi ngày thêm vững mạnh trong sự thánh thiện.

 

Thánh Thể là lời mời gọi chia sẻ.  Cộng đoàn Thánh Thể là nơi mỗi thành viên chuyên tâm làm việc bác ái.  Thánh Phao-lô mời gọi chúng ta: “Hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Ngài yêu thương.  Hãy sống trong tình bác ái, như Đức Ki-tô đã yêu thương chúng ta…”  Lối nói “bắt chước Thiên Chúa” và “sống như Đức Ki-tô” đều diễn tả tình yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng ta, và tình yêu kỳ diệu ấy đang thể hiện qua Bí tích Thánh Thể.

 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên