CHÚA ĐÓ

Khi Đức Giêsu bị đem ra trước toàn dân trong ngày khổ nạn, Philatô nói với đám đông “Đây là người” (Ga 19:5). Cũng chính Đức Giêsu ấy sau khi phục sinh, lại được một người ẩn danh reo lên “Chúa đó” (Ga 21:7). Hai lần giới thiệu đặt trong hai ngữ cảnh khác nhau tạo nên hai cao trào khác biệt. Đôi dòng suy tư sau đây kính mời quí độc giả cùng tôi khám phá thái độ và hiệu ứng của việc giới thiệu về Đức Giêsu.
Tin Mừng Gioan không ít lần đặt Chúa Giêsu trong vai trò được người khác giới thiệu. Điển hình Gioan Baotixita nói cùng hai môn đệ “Đây là Chiên Thiên Chúa”, hay Anrê giới thiệu cho Simon, hoặc Philipphê ngỏ lời với Nathanael... (x. Ga chương 1 và 2). Những lần giới thiệu ấy đặt trong tình huống tôn vinh Đấng Messia với lời ngỏ cụ thể, kết cấu rành mạch và giọng văn tinh tế. Riêng về hai lời giới thiệu vừa đề cập ở đầu bài suy niệm, gương mặt thể lý của Chúa Giêsu khó lòng được nhận ra. Philatô dẫn ra một tù nhân vừa bị tra tấn, mất hết dáng người. Sự tả tơi trong hình dạng đi kèm với lời tuyên bố “Đây là người” làm tôi thấy xót xa. Người gì mà lại bị hành hạ thế kia? Thế mà vẫn là người sao? Ngay lúc ấy, chỉ có thể dùng niềm tin để biện hộ cho quan niệm Con Thiên Chúa của Đức Giêsu. Tại biển hồ Tiberia, hình ảnh Đức Kitô bầm giập, nát tan trên thập giá in sâu vào tâm trí các tín hữu, do đó điều các ông thấy trước mắt bị che phủ bởi định kiến, bởi ý nghĩ, khiến các ông không nhận ra Người. Khi đọc hai chuỗi phân tích này, tôi thấy đây là một tiến trình duy nhất của cách biểu lộ gương mặt Đức Giêsu: một gương mặt bình thường, rồi bị bầm giập, sau đó lại là gương mặt lành lặn. Ấn tượng ban đầu dễ làm tôi định hình khuôn mẫu cho một con người. Nhiều lần, tôi liệt kê cá tính của bạn bè, người thân dựa vào cảm giác của tôi nơi lần đầu gặp gỡ: nào là nhiều chuyện, hà tiện, khó tính, nóng nảy... hay là ít nói, hào phóng, dễ chịu, linh động... Chính những cảm nghiệm ấy giới hạn góc nhìn của tôi về con người. Ngay khi những tật xấu được sửa chữa thành tốt, hoặc những đức tính tốt bị tha hoá thành tệ nạn, tôi vẫn giữ lập trường cũ, quan điểm thuở ban đầu cho rằng mình phán đoán đúng. Đây là lúc tôi được lay động thay đổi cách nhìn cố chấp của bản thân. Các môn đệ nhìn Đức Giêsu với sự quen thuộc của tâm và trí ngày thương khó nên không nhận ra một Đức Giêsu lành lặn, Đức Giêsu phục sinh. Nhìn trong giây phút hiện tại là bài học hay, mà tôi rút ra được trong văn cảnh này.
Đọc bản văn Hy Lạp cho hai câu Thánh Kinh “Này là người” (Ga 19:5) và “Chúa đó” (Ga 21:7), tôi thấy hai danh từ hoàn toàn khác biệt. Tiếng Hy Lạp dùng trong chương 19 là “an-thrô-pós” nghĩa là “con người”, còn chương 21 lại dùng “ky-ri-ós” nghĩa là “Chúa”. Hai cách gọi khác nhau một trời, một vực. Thoáng đọng suy tư sau đây hy vọng sẽ gặp được sự đồng cảm giữa tôi và quí độc giả về hai ngữ cảnh đặc sắc vừa kể ra.
Philatô biết về Đức Giêsu qua truyền thông cộng đồng. “Đây là người” là tất cả những gì quan có thể thốt ra dựa vào lời kể của đám đông cộng với kinh nghiệm lần đầu gặp gỡ chỉ trong vài phút khi tra vấn. “Đây là người” đặt trong ngữ cảnh dân chúng la hét đòi đóng đinh người có tên Giêsu. Philatô không biết nhiều về Đấng Kitô do đó lời ông giới thiệu Ngài với dân chúng khiến gương mặt thật của Đấng ấy bị lu mờ, nếu không nói là méo mó. Philatô trong lịch sử là một chính khách uy phong và có quyền lực. Lời của vị ấy rất có giá trị và vị thế trong con mắt người đời. Tuy nhiên, trong trường hợp này, lời của một người uy quyền như thế lại không mang đến sự bình an cho dân chúng nhưng lại gây bất ổn, bạo hành và giết chóc. Dừng ở đây nơi lời của Philatô, kính mời quí độc giả tiếp tục bài suy niệm với văn cảnh của hai chữ “Chúa đó” (Ga 21:7).
Thiên Chúa dùng một lời ngỏ, rất đơn giản, nơi thụ tạo vô danh để tôi kịp nhìn giây phút hiện tại “Chúa đó”. Người nói thì vô danh, cách nói lại ngắn gọn nhưng lại là câu nói truyền tải thông tin cách chân thật, đầy đủ. Trong những trường hợp khẩn cấp như hiệu lệnh hoặc lời kêu cứu, đòi hỏi nội dung chuyển tải nhanh, gọn và chính xác. Nhận ra phép lạ cá đầy lưới, một dấu chỉ hữu hình của một niềm tin vô hình: chỉ có Thiên Chúa, Đấng điều khiển muôn loài muôn vật mới thực hiện được việc phi thường mà những ngư dân bình thường không thể làm được dù là lưới cá. Điều ấy khiến một lời tuyên xưng như một hiệu lệnh phán ra: “Chúa đó.”
Những ngư phủ đang bối rối không giải thích được vì sao con nước này lại có lưới được nhiều cá đến thế. Điểu tưởng chừng nghịch lý lại là điều hợp lý, khiến các ông hốt hoảng, lúng túng. Khi đứng trước một phép lạ cả thể, người môn đệ nói với Phêrô trông như lời trấn an trong niềm kinh hãi “Chúa đó.”
Cách nói nơi Tin Mừng Gioan tại điểm này còn là một sự vỡ oà trong sung sướng. Khi mẹ vắng nhà, cả bố và con đều thấp thỏm chờ đợi, mong mỏi. Tiếng thét lên sung sướng của trẻ con luôn là nỗi niềm vui sướng cho cả gia đình “Mẹ kìa.” Bố vui vì vợ về, con vui vì luôn được mẹ cho quà, mẹ vui vì gia đình hạnh phúc. Tất cả niềm vui nơi mỗi cá nhân khởi đi từ lời reo “Mẹ kìa.” Mỗi lần suy ngắm câu Lời Chúa này, tôi gắn ký ức tuổi thơ tươi đẹp của mình vào bối cảnh bản văn. Tôi chạy lon ton ôm mẹ thế nào, thì thiết tưởng Thánh Phêrô cũng nhảy ùm xuống nước để đến với Chúa khi nghe “Chúa đó” thể ấy.
Cũng là việc giới thiệu Đức Giêsu, nhưng hai giai thoại mang đến hai sắc thái hoàn toàn đối lập. Quan quyền cao ngạo nhìn Chúa thẳng mặt với con mắt khinh thường dựa vào lời của đám đông. Kẻ hèn mọn, vô danh nhận ra Chúa dù ở khoảng cách xa xa và xác quyết niềm tin vào lời tuyên xưng bằng chính cảm nghiệm an bình bản thân.
Thay cho lời kết, xin quí vị cùng tôi thân thưa với Chúa nơi lời nguyện sau đây.
Lạy Chúa, con ước mong được Chúa dùng giới thiệu Chúa cho người khác. Xin cho con biết khiêm nhường, vô danh để Danh Chúa trở nên tiêu điểm cho việc loan truyền. Xin giúp con nhận ra Chúa nơi những biến cố cuộc đời con, nhờ đó lời giới thiệu về Chúa không dựa vào kiến thức của sách vở hay đám đông, nhưng là nhờ cảm nghiệm một Thiên Chúa tình yêu và giàu lòng thương xót. Con thấy thế cũng chưa đủ. Con ước mong thêm một điều nhỏ nữa, xin Chúa không ngừng thì thầm vào tai con “Chúa đó” để con không bao giờ lìa xa Chúa và những người nghe con nói về Chúa cùng con sống bên Chúa. Amen.

Evangelii Nuntiandi, S.P.

NGƯỜI KHIÊM TỐN

Sự khiêm tốn là một cái gì đó rất ngược ngạo, vì người nào tự cho rằng mình khiêm tốn, dù có nói ra hay không, người đó đã trở nên kiêu căng rồi.
Trở thành người khiêm nhường, không nhất thiết phải che giấu hết các tài năng, không cần phải giả vờ ngu dốt, không buộc phải sống trong một căn nhà nhỏ hẹp cũ kỹ, ăn mặc rách nát. Cũng không cần phải lúc nào cũng cúi đầu “vâng vâng, dạ dạ”, đi đứng khom lưng, vẻ mặt đăm chiêu như đang chìm sâu vào miền vô cực nào đấy. Cũng không nhất thiết phải đi tu, đến nhà thờ, đi lễ chùa, quỳ gối chắp tay thành khẩn, làm biết bao việc hãm mình khổ chế, không ăn ngon mặc đẹp, không đi dự tiệc sang, không dám tiêu xài. Cũng đừng bao giờ sợ được khen, sợ chìm vào hư danh mà cố tình không cống hiến, không bộc lộ hết sức mình vì lợi ích chung của tập thể.

Tất cả những điều này chỉ là bề ngoài. Việc sống một đời sống kham khổ, chịu sỉ nhục, khinh miệt… có thể là một trợ giúp để có sự khiêm nhường nhưng tự bản thân nó không phải là sự khiêm nhường vì người ta nhiều lúc phải chịu như thế bởi không thể làm gì khác hơn, đành phải cắn răng chịu đựng. Ngược lại, ăn mặc lịch lãm, được người khác ca tụng, lớn tiếng sửa dạy người khác có thể là những dấu chỉ của sự kiêu căng, nhưng cũng có khi là điều mà người đó cần phải làm vì một lợi ích gì đó hoặc họ xứng đáng được điều đó vì những hy sinh của mình. Điều quan trọng hơn cả là nội tâm của một con người.

Sự khiêm tốn là một cái gì đó rất ngược ngạo, vì người nào tự cho rằng mình khiêm tốn, dù có nói ra hay không, người đó đã trở nên kiêu căng rồi. Người nào càng ý thức tìm kiếm sự khiêm tốn, người đó càng không bao giờ tìm thấy. Cứ như một trò đùa, sự khiêm tốn sẽ bỏ người ta mà đi khi nó phát hiện có ai đang tìm cách để có nó. Trên hành trình của đời sống thiêng liêng, có một thời người ta phải nỗ lực và dùng hết sức để đi tìm, nhưng đến một lúc nào đó, người ta tự thấy không thể làm gì hơn, ngoài việc buông lỏng chính mình để chân lý tự tìm đến. Càng gồng mình với những cố gắng và mục tiêu, người ta càng thấy hụt hẫng và bế tắc, như đi vào ngõ cụt. Cố nắm bắt sự khiêm tốn cũng như cố bắt lấy bóng trăng. Cứ tưởng là có được, nhưng nó cứ mãi vuột khỏi tầm tay.

Sự khiêm tốn là đỉnh cao của đời sống thiêng liêng. Nó là cái mà khi người ta đã có được nó mà chẳng hề hay biết. Nó không màu không sắc, không mùi không vị. Nó hệt như cái VÔ bao trùm lấy người ta khi họ đã đạt tới cảnh giới vượt qua mọi bám víu của hồng trần. Người khiêm tốn thì chẳng biết khiêm tốn là gì, ở đâu. Người ấy thậm chí còn không ý thức đến sự tồn tại của nó. Họ chỉ sống như cái bản tính tự nhiên của mình. Họ hành xử như thế vì đối với họ nó phải là như thế. Họ bộc lộ ra bên ngoài trọn vẹn cái bản chất của mình, cái “chính mình”, cái làm nên họ trong sự tròn đầy nhất. Bởi vậy, cảnh giới của sự khiêm nhường là khi người ta đã vượt lên trên sự ý thức, vươn đến cái vô thức. Vô thức ở đây không có nghĩa là hời hợt, không để ý gì cả theo kiểu tiêu cực, nhưng là một kiểu để mình được chiếm trọn, biến mọi cái chân thiện mỹ trong mình bộc phát một cách tự nhiên như người ta tự nhiên hít thở mà không để ý gì đến nó.
Người khiêm tốn là những thánh nhân thật sự, vì họ luôn chan chứa một sự bình an lớn lao trong lòng. Họ không đeo trên mình những chiếc mặt nạ. Họ đón nhận mọi sự xảy đến với mình với một sự biết ơn, cả điều tốt lẫn điều xấu. Họ luôn thấy hài lòng với tất cả mọi sự chung quanh, dù những điều đó có diễn ra theo ý họ hay không. Họ chấp nhận mọi thất bại, điểm yếu, khiếm khuyết, lỗi lầm của mình một cách chân thành, và xem nó như hồng ân. Họ không chạy theo những phù hoa bóng mây, không cầu toàn, cầu an, không để mình lệ thuộc vào bất cứ điều gì hay bất cứ ai. Đây không phải là một kiểu ngông nghênh, bất cần đời, xem thường luật lệ. Nhưng là một thái độ mềm mỏng như con nước, hay như chiếc bình khoét rỗng chính mình, mở ra cho ân sủng đổ vào. Kiểu bình an như thế là kết quả của một quá trình dài bỏ mình, rèn luyện mình, gọt dũa mình với biết bao đớn đau, vết thương và nước mắt.

Người khiêm tốn cũng là con người rất đẹp. Họ đẹp một nét đẹp của Thiên Đường, chứ không phải bằng những hình thể của thân xác. Họ luôn có sức thu hút người khác, khiến người khác cứ tuôn đến tiếp cận với họ. Ở gần bên người khiêm tốn, ta tự thấy mình như được hưởng lây cái dịu mát của ngọn gió nhân đức, ta thấy dễ chịu như được sưởi ấm giữa trời đông, không một chút kháng cự hay đề phòng. Có một hương thơm lạ kỳ và cuốn hút nào đấy phát ra từ nơi họ hệt như cánh hoa thơm không cần phải hô vang để gây sự chú ý. Có thể nói, họ đã hoà quyện mình vào với tự nhiên, vào cái Đạo của vũ trụ. Họ thật sự trở thành những con người “sống ở thế gian, nhưng đã vào cõi Thiên Đàng.”

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ.

NGUỒN GỐC SỰ DỮ LÀ CÁI TÔI


Con người ngày hôm nay thường lấy mình làm trung tâm nên họ luôn quy chiếu về mình và không bận tâm tới luật lệ hay luân thường đạo lý. Họ quan niệm rằng: phàm làm việc gì chỉ cần mình sống vui vẻ hạnh phúc là được!

- Có nhiều bạn trẻ khi được hỏi: quan hệ nam nữ trước hôn nhân có tội không? Đa số các bạn cho rằng không có tội, vì họ yêu nhau và muốn dâng hiến cho nhau thì đâu có tội! Thế nên, họ vẫn thản nhiên sống thử như vợ chồng với nhau.

- Có nhiều người vô tư lấy của công làm của riêng, vì họ lý luận rằng họ có quyền lấy để bù đắp công sức mà họ bỏ ra, nên họ đáng được hưởng!

- Có người bớt xén của chủ, của công ty vì cho rằng mình bị chủ chèn ép hay công ty trả lương quá thấp nên bớt xén để đền bù!

- Có người khi thấy thai nhi bị dị tật hay sự sinh ra của đứa trẻ sẽ gây khó khăn cho mình nên bình thản phá bỏ thai nhi!

Tất cả những điều trên cho ta thấy họ đều quy hướng về mình. Vì hạnh phúc, vì quyền lợi của mình mà họ vượt trên lề luật. Họ xem thường lề luật, xem thường đạo lý. Những bài giáo lý trở thành vô dụng khi con người ngày nay chỉ quan tâm tới nhu cầu của bản thân.

Đó là lý do con người ngày nay sống chai lỳ trong tội. Một hiện tượng mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II đã nói là : “con người ngày nay đã mất ý thức về tội”.  Khi con người mất ý thức về tội thì họ sẽ sống theo nhu cầu xác thịt, họ sẽ lao vào những đam mê hưởng thụ bất chấp luân thường đạo lý. Có khi còn bất chấp thủ đoạn để đạt được điều mình mong muốn. Điều này đã làm cho xã hội tội lỗi tràn lan đến mức độ chưa bao giờ tội phạm nhiều như ngày nay.

Ngay từ thời Chúa Giê-su tội lỗi đã tràn lan. Thế nên, lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giê-su là kêu gọi sám hối canh tân. Chúa kêu gọi con người phải sám hối vì cội rễ của bất công, của sa đọa, tội lỗi là con người mất ý thức về giá trị cuộc sống. Con người không tuân theo luân thường đạo lý thì làm sao có một xã hội văn minh tình thương. Con người cần phải sám hối để nhận ra những lỗi lầm của mình đã gây nên thiệt hại tinh thần lẫn vật chất cho tha nhân. Chính hành vi tội lỗi mình đã làm cho sự dữ lan tran, xã hội loạn lạc lầm than.

Là người đều có những lầm lỗi hay có những lần vấp ngã, điều quan yếu là biết nhận lỗi và đứng lên làm lại cuộc đời. Không nhận ra sai lỗi. Không cảm nhận sự vấp ngã. Con người cũng mất ý thức về tội. Con người càng mất lòng sám hối ăn năn. Thực ra, nhân vô thập toàn. Con người cần biết giới hạn của mình để sám hối từng ngày, để canh tân từng phút. Có sám hối, có canh tân con người mới thăng tiến từ tinh thần đến vật chất.

Ước gì mỗi người ky-tô hữu hãy biết xét mình hằng ngày, hãy ăn năn từng giờ để đừng ngủ mê trong tội lỗi, nhưng biết thay đổi đời sống cho phù hợp với Tin Mừng. Xin đừng vì quyền lợi cá nhân mà gây thiệt hại cho xã hội. Xin đừng đề cao tự do cá nhân để làm mất trật tự cho xã hội và cộng đồng. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân để nhờ ơn Chúa mà canh tân đời sống mỗi ngày một tốt hơn. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III THƯỜNG NÊN-A

Chuyện kể một nhà buôn nọ rất sùng đạo. Mặc dầu vất vả làm ăn nhưng anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp kỳ cạnh tranh gay gắt trong công việc, anh ta càng gia tăng lời khẩn cầu gấp bội.
Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên hiện ra với anh và nói: "Thấy nhà ngươi thành tâm cầu xin nên ta không nỡ chối từ. Thôi thì bây giờ cứ cho ta biết ngươi muốn gì, ta sẽ ban cho... và đồng thời để tỏ cho nhân gian biết lòng quảng đại của ta thì hễ ban cho ngươi điều chi, ta cũng ban cho đồng nghiệp hay hàng xóm của ngươi như thế... và có khi gấp đôi luôn".
Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng hân hoan qua sầu buồn lo lắng. Anh tự nhủ: "Nếu bây giờ mình xin một chiếc Lexus thì mấy thằng bạn...chúng nó sẽ được hai chiếc. Ái dà, thế thì không được! Nhưng nếu mình xin cho được trúng số 5 triệu thì mấy nhà hàng xóm... họ sẽ được tới 10 triệu. Thế lại càng không được! Còn nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn thì coi chừng đồng nghiệp sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn gấp đôi con mình. Đó là chưa nói tới chuyện chúng nó được hai vợ, trong mình chỉ có một... Thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng xin như thế thì làm sao mà hơn được".
Chàng thương gia nhíu mày đắn đo. Một lát sau, chợt anh ta reo lên như vừa tìm ra điều gì thú vị. Anh đến quì xuống và thưa với thần: "Lạy ngài, xin vui lòng cho tôi đui một con mắt".
Quả là một lời khẩn cầu quái lạ! Không xin cho mình được may mắn vì sợ người khác trỗi hơn. Song lại xin cho mình rủi ro để kẻ khác sẽ bị tổn hại nhiều hơn. Xin cho mình đui một con mắt để kẻ khác mù luôn. Đây quả là tiểu nhân và quá dã tâm.
Thế nhưng, nếu thành thật rà soát lòng mình thì không chừng tính chất dã nhân và tiểu tâm kia, tức là những đố kỵ, ghen ghét, nhỏ nhen, tàn bạo lại đang ẩn nấp đâu đó trong người tôi, để rồi nếu được thành công may mắn hơn ai thì nó sẽ nằm im bất động. Thảng hoặc, nó còn tỏ ra "quảng đại" và "thương xót" kẻ không may. Nhưng nếu ai đó trổi vượt hơn mình thì cái chất tiểu tâm và dã nhân kia sẽ bùng lên khó lòng dập tắt.
Chính cái chất đố kỵ, ghen tương, so bì kia đã là mầm mống của boa chia rẽ, bè phái, tranh chấp, phân ly, giận hờn, đui chột, mù loà trong cộng đồng nhân loại. Lắm người chẳng chịu nhường bước ai; điều gì của mình cũng đúng hơn, đẹp hơn, tốt hơn, và như thế kẻ khác tất phải sai hơn, xấu hơn, và dở hơn.
Tình trạng hơn thua làm nảy sinh phe nhóm bè phái, cùng với bao tranh chấp ghét ghen, không chỉ xảy ra ngoài đời, trong các đoàn thể chính trị xã hội, nhưng phải đau lòng mà nói: có khi nó còn xuất hiện trong những tổ chức manh danh có đạo, hay thuộc về Giáo hội.
Và đâu phải chỉ có trong Giáo hội của thời đại hôm nay, nhưng từ thời sơ khai, hiện tượng tranh chấp, phe nhóm, cũng đã xảy ra: "Tôi, tôi về phe Appolo. Tôi, tôi về phe Phaolô. Còn tôi, tôi về phe Kêpha Phêrô".
Sự phân chia phe nhóm trong cộng đoàn thế kia, một phần là do các sở thích và tình cảm cá nhân quá nặng. Một số thấy Phaolô là con người cương trực, ăn thẳng nói ngay, nên phục và mến lắm. Nhưng số khác thì không chịu nổi tính khí đó, nên đã chạy theo Phêrô, vị này vừa là thủ lãnh tông đồ lại vừa "dễ dãi, sao cũng được". Thơ Galat có kể rằng khi vắng mặt các thành viên Do thái trong cộng đoàn thánh Giacôbê, Phêrô đã ngồi ăn chung, uống chung với dân ngoại, nhưng khi thấy họ đến thì ông lại tránh đi. Thế nên một lần kia Phaolô đã trách Phêrô trước mặt mọi người: "Nếu ông, một người Do thái, ông còn sống như người ngoại chứ không như người Do thái, thì làm sao ông lại thúc bách người ngoại sống như Do thái được?" (Gal 2:14).
Có lẽ vì Phêrô "dễ dãi" như thế nên nhiều người thích và đi theo ủng hộ. Trong khi đó một số người khác lại khoái Apollo. Ông này ăn nói lưu loát, có khả năng diễn thuyết hùng hồn, bao biện luận để minh chứng Chúa Giêsu là Đức Kitô thật là sắc bén và chí lý. Thế nên họ thích nghe hơn, và rồi cái gì Apollo nói cũng đúng, cũng hay; còn Phaolô thì cứng quá, và Phêrô lại mềm mỏng quá.
Những khuynh hướng lưu luyến và tình cảm nặng tính cá nhân đó đã tạo nên phân rẽ trầm trọng trong cộng đồng Dân Chúa thời sơ khai, đến nỗi Phaolô đã kêu lên: "Nhân danh Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin anh em hãy lo cho được đồng tâm hiệp ý với nhau. Đừng chia rẽ, nhưng hãy đoàn kết trong cùng một thần trí và một tâm tình". (1 Cor 1:10).
Thiết tưởng, lời kêu gọi đó vẫn còn vang vọng cho đến hôm nay, trong mọi cơ cấu tổ chức của giáo xứ, cộng đoàn, và gia đình. Hãy đồng tâm ý hiệp với nhau. Đừng vì khuynh hướng, sở thích, quan điểm, hay tình cảm cá nhân chi phối mà ủng hộ, hợp tác với người này người nọ hoặc chống đối, chê bai, lạnh lùng với người kia.
Lời thánh Phaolô vẫn còn đó: Đức Kitô bị phân chia rồi sao? Chân lý và Tin mừng của Đức Kitô bị xé mãnh rồi sao? Và Tin mừng làm sao có được trong ghen ghét, tị hiềm, đố kỵ, phân ly, xâu xé. Có chăng chỉ là tin buồn thôi.
"Nhân danh Đức Kitô, tôi nài xin anh em hãy liên kết trong cùng một thần trí và một tâm tình". Thần trí đó là thần trí yêu thương, và tâm tình đó là tâm tình khiêm hạ. Chớ ao ước những điều bất chính, khổ đau cho kẻ khác. Đừng muốn mình chột để người ta bị mù. Nhưng hãy cầu cho nhau những sự may lành. Hãy "vui với người vui", vì điều đó đôi khi còn khó hơn "khóc với người khóc". Hãy tạ ơn Thiên Chúa cho nhau. Và điều quan yếu, hãy hiệp nhất với nhau.
Hiệp nhất chính là tinh thần và sứ mạng của Chúa Giêsu mà những ai tự xưng là môn đệ của Ngài phải tiếp nối. Bởi lẽ Chúa Giêsu đến thế gian không mục đích nào khác hơn là gieo trồng hiệp nhất: hiệp nhất con người lại với Thiên Chúa, hiệp nhất con người lại với nhau, hiệp nhất bao tan vỡ tâm hồn hầu qua đó tình thương của Thiên Chúa, bình an từ trời cao, và niềm vui ơn cứu độ được tuôn trào đến khắp trần gian.
Tình thương, bình an, và niềm vui đó cũng chính là phần thưởng muôn đời cho những ai can đảm bước trên con đường mà Đức Giêsu đã đi.
Lm Bùi Quang Tuấn


ĐỪNG NGỦ MÊ TRONG TỘI

Tiếng bà vợ dịu ngọt nói chồng: Anh ơi đi xưng tội đi. Lâu rồi không thấy anh xưng tội.
Anh chồng đáp: Xưng xong có chừa được đâu mà xưng.
Cô vợ: Thế thì hôm nay anh đừng ăn nhé
Anh chồng: Không ăn mà chết đói à!
Cô vợ: Vì ăn xong rồi cũng đói, thế thì ăn làm gì cho mệt.
Anh chồng!
Con người thường ít muốn thay đổi. Cho dù cuộc sống của họ đang chìm ngập trong tội lỗi. Họ vẫn ngại đến với tòa giải tội. Họ sợ phải đối diện với sự thật. Vì sự thật sẽ phơi bầy toàn bộ hành vi bất chính, tội lỗi của họ. Họ sống chai lỳ trong điều gian ác mà vẫn không áy náy lương tâm. Chính vì lối sống mất ý thức về tội, lại không dám đối diện với sự thật, khiến họ lao mình vào cuộc sống với những đam mê hưởng thụ bất chấp luân thường đạo lý, hay lao vào tìm kiếm danh lợi thú, bất chấp thủ đoạn tàn bạo. Điều này đã làm cho xã hội tội lỗi tràn lan đến mức độ chưa bao giờ tội phạm nhiều như ngày nay.
Ngày 03.01.2014 một phiên tòa lưu động có số bị cáo đông nhất Việt Nam từ trước đến nay đã diễn ra tại sân trại giam của công an tỉnh Quảng Ninh tổng cộng đến 89 bị cáo dính đến 4 đường dây mua-bán, vận chuyển trên 4,400 bánh heroin, phiên tòa dự tính kéo dài ba tuần lễ.
Theo báo Tiền Phong, phiên tòa nói trên cũng quy tụ số luật sư biện hộ đông nhất từ trước đến nay: 41 người. An ninh phiên tòa lưu động được xiết chặt, vì người ta dự đoán có thể tới 66 bản án tử hình sẽ được tuyên án.
Án tử hình rất nhiều nhưng xem ra con người không ý thức về tội, không có lòng sám hối nên tội phạm vẫn gia tăng. Ngay cả các tội nhân tại tòa cũng thường ít nói lời xin lỗi vì mình đã gây nên những đau khổ cho xã hội bởi hành vi bất chính của mình. Thậm chí cả người nhà tội nhân còn bênh vực cho hành vi tội lỗi của con cái mình.
Mới đây trong một phiên tòa khi tòa tuyên án kẻ cầm đầu bọn cướp chuyên nghề chặt tay cướp xe thì tiếng la hét đanh đảnh của một người mẹ đã hét lên không chấp nhận sự thật ấy. Bà quát to rằng: “Con tôi không giết người sao lại tử hình con tôi?” Bà còn quay lại chỗ những người bị hại mà con bà chặt tay để cướp của nói rằng: “Biết con tao tử hình thì tao đã cho người giết chết chúng mày!” Xen lẫn tiếng bà là tiếng người chị gái bảo rằng: “Ai bảo chúng này đi xe đẹp đeo nhẫn vàng làm gì?”
Hóa ra đi xe đẹp, đeo nhẫn vàng cũng có tội? Có phải tình yêu thì chẳng cần quan tâm đến đạo đức. Người ta nhân danh tình yêu để hại người, để vào hùa và bênh đỡ nhau như gia đình bị can “chặt tay cướp xe SH” chăng?
Là người đều có những lầm lỗi hay có những lần vấp ngã, điều quan yếu là biết nhận lỗi và đứng lên làm lại cuộc đời. Không nhận ra sai lỗi. Không cảm nhận sự vấp ngã. Con người cũng mất ý thức về tội. Con người càng mất lòng sám hối ăn năn. Thực ra, nhân vô thập toàn. Con người cần biết giới hạn của mình để sám hối từng ngày, để canh tân từng phút. Có sám hối, có canh tân con người mới thăng tiến từ tinh thần đến vật chất.
Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu không kêu gọi chống bất công hay đòi quyền lợi mà là kêu gọi sám hối canh tân. Chúa kêu gọi con người phải sám hối vì cội rễ của bất công, của sa đọa, tội lỗi là con người mất ý thức về giá trị cuộc sống. Con người không tuân theo luân thường đạo lý thì làm sao có một xã hội văn minh tình thương. Con người cần phải sám hối để nhận ra những lỗi lầm của mình đã gây nên thiệt hại tinh thần lẫn vật chất cho tha nhân. Chính hành vi tội lỗi mình đã làm cho sự dữ lan tran, xã hội loạn lạc lầm than.
Nhưng đáng tiếc nhân loại ngày hôm nay không ý thức việc mình làm đã gây nên đau khổ cho tha nhân. Con người vẫn nhân danh tự do cá nhân để hành xử thiếu văn hóa, thiếu trách nhiệm với tha nhân. Con người vẫn nhân danh hạnh phúc cá nhân để loại trừ hạnh phúc của tập thể, của xã hội. Nếu ai cũng biết sống mình vì mọi người thì sẽ không có những vụ tham nhũng lớn như Dương Chí Dũng, Bầu Kiên hay Huyền Như… Tất cả vì lợi ích cá nhân mà gây nên biết bao hậu quả tai hại cho xã hội và đất nước.
Ước gì là người Kitô hữu chúng ta hãy biết xét mình hằng ngày, hãy ăn năn từng giờ để đừng ngủ mê trong tội lỗi, nhưng biết thay đổi đời sống cho phù hợi với tin mừng. Xin đừng vì quyền lợi cá nhân mà gây thiệt hại cho xã hội. Xin đừng đề cao tự do cá nhân để làm mất trật tự cho xã hội và cộng đồng. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân để nhờ ơn Chúa mà canh tân đời sống mỗi ngày một tốt hơn. Amen!

LM Giuse Tạ Duy Tuyền