CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÁNG SINH-A

Thánh Gioan đã nói: "Thiên Chúa yêu thế gian đã tặng ban Con Một của Ngài cho thế gian". Người Con của Lời hứa. Người Con mà cả dọc dài lịch sử dân thánh luôn khắc khoải mong chờ. Ngài chính là Thái Tử Bình An. Ngài đến để ban bình an xuống cho nhân trần như lời các thiên thần ca hát: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người lòng ngay".
Vâng thưa anh chị em, món quà mà nhân loại luôn khao khát mong chờ không phải là cơm áo gạo tiền mà là niềm vui của bình an hoan lạc. Có tiền mà sống trong loạn lạc, có lẽ cũng chẳng có bụng dạ nào để no say hưởng thụ. Có tiền mà không có lương tâm an bình có lẽ cũng chẳng có niềm vui và hạnh phúc từ trong sâu thẳm tâm hồn.
Cách đây hơn 20 năm vào mùa Giáng sinh năm 1989, trong cuộc họp thượng đỉnh tại đảo Malta, Tổng thống Bush cha đã tặng chủ tịch Gorbachov của liên bang Xô Viết một viên gạch. Viên gạch này mà một thời nó đã góp phần làm nên một bức tường "ô nhục Bá Linh". Một bức tường ngăn cách tình người. Tình người trong một đất nước, một dân tộc. Một sự ngăn cách tưởng chừng như vô bờ, thế mà hôm nay bức tường này đã được đập bỏ. Tổng thống Bush tặng viên gạch này như dấu chỉ một khao khát hoà bình. Một khao khát sống liên đới thuận hoà để con người cùng nhau xây dựng một thế giới an bình và thịnh vượng.
Thiên Chúa cũng đã tặng ban cho chúng ta không phải là một viên gạch vô tri, vô giác mà là chính Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh làm người. Ngài đã mang lấy thân phận con người để đưa con người trở về với Thiên Chúa. Con người là hình ảnh Thiên Chúa, thế nên con người phải sống đúng với phẩm giá làm người của mình. Ngài đến để ban bình an, nhưng Ngài cũng đòi con người hợp tác để bình an của Chúa được trải rộng khắp muôn nơi. Dấu chỉ của sự hợp tác tích cực mà Chúa muốn con người là: hãy tặng lại cho Ngài chính hình ảnh trong sáng, ngay thẳng, đầy yêu thương mà Ngài đã tạo dựng con người ngay từ ban đầu.
Trong kỳ họp Apec tổ chức tại Việt Nam, các thành viên đều nhận được một món quà là chính hình ảnh của mình được các nghệ nhân Việt Nam điêu khắc trên đá. Có lẽ đó là món quà qúy giá mà các nguyên thủ các quốc gia đã nhận được từ các nghệ nhân Việt Nam. Họ đã đến Việt Nam và họ đã nhận lại được hình ảnh của họ từ những con người rất hiếu khách của dân tộc Việt Nam. Một dân tộc luôn ưa chuộng hoà bình, luôn lấy "dĩ hoà vi qúy" làm nền tảng cho mọi giao tiếp hằng ngày. Một dân tộc luôn đề cao tình làng nghĩa xóm đến mức độ "tối lửa tắt đèn có nhau", để rổi sống liên đới chia sẻ với nhau trong tình thần "chị ngã em nâng" và "lá lành đúm lá rách". Nhất là luôn sống tha thứ cho nhau để có được một cuộc sống vui tươi an bình, vì "một điều nhịn chín điều lành". Đó cũng là những hình ảnh rất đẹp mà các nguyên thủ các quốc gia đến họp hội nghị Apec đã thấy nơi nền văn hoá Việt Nam. Thế nhưng, thử hỏi lại lòng mình, chúng ta đã thực sự sống điều đó để giữ mãi bản sắc tươi đẹp của văn hoá dân tộc Việt Nam? Với bốn ngàn năm văn hiến, chúng ta đã thực sự sống những nét cao đẹp của văn hoá Việt Nam mà cha ông đã để lại cho chúng ta hay chưa? Hay chúng ta đang quên dần, và cố đuổi theo những trào lưu hưởng thụ, thoái hoá đạo đức, băng hoại luân lý và xa rời tình người?
Với tư cách là người kytô hữu, là những con người luôn ý thức mình mang hình ảnh Thiên Chúa, thế nhưng chúng ta còn giữ sự tinh tuyền của Ngài nơi tâm hồn chúng ta hay không? Hay hình ảnh của Ngài đã bị hoen ố bởi thói hư tật xấu của chúng ta? Có lẽ trong giờ phút này, Thiên Chúa cũng đang cần chúng ta tặng lại cho Ngài hình ảnh tinh tuyền ban đầu của tạo dựng. Một hình ảnh trong sáng không bỉ hoen ố bởi đam mê nhục dục, bởi tham vọng thống trị anh em và tham lam vô độ. Một hình ảnh chân thật không quanh co, giả dối đến nham hiểm hại người hại đời. Một hình ảnh đầy tình yêu không bị những toan tính trục lợi, những bất công lừa đảo, và lỗi công bình bác ái với anh em. Tất cả những cách sống sai lệch với hình ảnh ban đầu của tạo dựng, đã làm mờ nhạt đi hình ảnh của Thiên Chúa nơi cuộc sống thường nhật của chúng ta. Và là bức tường ngăn trở cho nước Chúa trị đến, cho an bình của Chúa trải rộng khắp muôn nơi.
Mỗi người chúng ta được mời gọi sống thánh giữa đời, được cụ thể qua việc tuân giữ hai giới răn quan trọng nhất đó là Mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh em như chính mình. Mến Chúa trên hết mọi sự nghĩa là phải để cho Ngài chỗ nhất trong cuộc sống. Đừng vì những đam mê danh lợi thú mà quên đi giá trị đích thực của phẩm giá con người là hình ảnh của Chúa. Con người được gọi là "nhân linh ư vạn vật", nghĩa là con người hơn muôn loài vật. Không loài nào sánh bằng con người. Không loài nào xứng đáng để con người tôn thờ. Do vậy, chỉ có Thiên Chúa mới đáng cho chúng ta tôn thờ. Tiền bạc, địa vị, sắc dục chỉ là thọ tạo thấp bé và rất tầm thường so với con người. Vì thế đừng vì nó mà bỏ quên Chúa. Đừng vì nó mà xúc phạm đến anh em. Đồng thời, mến Chúa phải yêu mến anh em. Yêu mến không chỉ trên đầu môi chóp lữơi, nhưng bằng những hành động cụ thể: đó là kính trọng anh em, là sống công bình bác ái với anh em, và đỉnh cao của tình yêu là sự dấn thân phục vụ anh em trong khiêm tốn và chân thành.
Lạy Chúa, Chúa đã sinh ra trong thân phận con người. Chúa đã tự đồng hoá mình với những người khổ đau. Xin cho chúng con luôn nhận ra Chúa trong anh em để chúng con luôn đối xử với nhau trong công bình, bác ái, trong kính trọng và yêu thương. Xin giúp chúng con luôn biết gìn giữ hình ảnh tinh tuyền của Chúa nơi chúng con. Xin gìn giữ linh hồn chúng con khỏi những đam mê bất chính làm hoen mờ hình ảnh Chúa nơi chúng con. Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

MÙA VỌNG: TRƯỜNG DẠY KIÊN NHẪN

Kiên nhẫn không phải là điều gì đó thụ động. Kiên nhẫn giải phóng chúng ta khỏi tâm trạng thất vọng. Nó giúp chúng ta kiểm soát các cảm xúc của mình, tạo khoảng trống cho lý trí suy nghĩ, lượng giá và đưa ra các phán đoán sáng suốt.

Triết gia Hy Lạp Aristotle có nói: “Kiên nhẫn chịu đựng thì đắng cay, nhưng hoa trái của nó thì ngọt ngào”. Nhân vật có tầm ảnh hưởng bậc nhất trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, Isaac Newton, xác nhận điều này khi ông bảo, “Nếu tôi có khám phá ra những điều có giá trị, thì ấy là do bởi kiên nhẫn chăm chú quan sát nghiên cứu, hơn là do bởi tài khéo của mình”. Tác gia người Anh, Chaucer lại ca tụng tính kiên nhẫn như là “đức tính trổi vượt”. Tuy thế, trong xã hội của chúng ta, một xã hội thay đổi đến chóng mặt, tính kiên nhẫn không phải là một đức tính dễ kiếm, dễ thấy. Công nghệ đã gia tăng tốc độ của việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin (information highway).
Thế nhưng, một trật, nó cũng triệt tiêu luôn cả tính kiên nhẫn của chúng ta. Các nhà nghiên cứu chỉ ra  rằng, để tải xuống một video, hầu hết chúng ta sẽ chẳng đủ kiên nhẫn để đợi quá vài giây. Nhiều người thích thú chọn chơi các game tốc độ nhanh, cảm giác mạnh hơn là nhâm nhi thư thả đọc một cuốn sách. Chúng ta đã quá quen với các dịch vụ chuyển phát trong ngày và các loại điện thoại thông minh có thể kêu xe tức thì, đến độ càng ngày tính kiên nhẫn của chúng ta càng trở nên tệ hại hơn. Công nghệ hiện đại thực sự là một phúc lợi đa chiều. Chúng ta có thể thu gom được cả núi sự kiện. Thế nhưng điều ấy không đồng nghĩa với việc chúng ta có thêm được sự hiểu biết. Ngay cả trong các mối liên hệ thân tình, cá nhân, công nghệ hiện đại vừa trợ giúp mà cũng vừa là cản ngại nữa. Với tốc độ ánh sáng, chúng ta có thể kết nối với bất kỳ ai trên trái đất này. Thế nhưng, việc kết nối tức thì này, nhiều lúc, lại khiến chúng ta quên mất, không tương tác gì với người ngồi cùng bàn ngay bên cạnh chúng ta.
Thật không may, vì muốn cái gì cũng phải được thoả mãn, đáp ứng tức thời, người ta rất dễ coi kiên nhẫn, kiên trì như là thứ phẩm chất quá đát, lỗi thời. Kiên nhẫn xem ra chỉ đơn thuần là một kỹ thuật để kiểm soát sự thất vọng của chúng ta, mỗi khi chúng ta không có được điều chúng ta muốn, vậy thôi. Kiên trì dường như chỉ là một cách để kềm hãm sự vui thú và trì hoãn ham hố của chúng ta lại mà thôi. Thế nhưng, tất cả những điều này chẳng đúng.
Kiên nhẫn không phải là điều gì đó thụ động. Kiên nhẫn giải phóng chúng ta khỏi tâm trạng thất vọng. Nó giúp chúng ta kiểm soát các cảm xúc của mình, tạo khoảng trống cho lý trí suy nghĩ, lượng giá và đưa ra các phán đoán sáng suốt. Thiếu kiên nhẫn, chúng ta sẽ đạp đổ tất cả, sẽ phá nát các mối liên hệ. Như hồng y Fulton Sheen có nói, “Kiên nhẫn là sức mạnh, là năng lượng. Kiên nhẫn không phải là sự thiếu vắng hành động; đúng hơn nó giống như một cuộc hẹn giờ. Kiên trì, kiên nhẫn chọn đúng lúc, đúng thời điểm để hành động, theo đúng các nguyên tắc lương thiện và bằng các cách thức tốt lành”. 
Đức nhẫn quan trọng cho đời sống Kitô hữu của chúng ta đến độ, Giáo hội dành riêng ra một mùa trong chu kỳ phụng vụ để đào luyện chúng ta về điều này. Thiên Chúa đã dọn dẹp, chuẩn bị sẵn sàng đâu vào đó cho sự kiện vương quốc của Người hiển trị. Người đã sai Con Một của Người nhập thể, sinh bởi Đức Maria tại Bê-lem. Chắc chắn sẽ có một ngày cùng tận của dòng lịch sử. Khi ấy, Đức Kitô sẽ giáng lâm trong vinh quang, tỏ bày trọn vẹn vẻ uy hùng của Vương Quốc Thiên Chúa. Thế nhưng, chẳng ai, ngay cả các thiên sứ trên trời, cũng chẳng biết khi nào thì Đức Kitô sẽ lại đến một lần nữa. Bởi vậy, chúng ta phải đợi chờ – kiên nhẫn chờ đợi. Trong Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta thấy gương của nhiều nhân vật, nhiều con người đã chờ đợi Chúa thực hiện lời hứa của mình. Bà Êlisabét đợi chờ ngày hạ sinh Gioan Tẩy Giả. Mẹ Maria và thánh Giuse đợi chờ ngày Giêsu ra đời. Ông Simêon và bà Anna ở gần đền thờ Giêrusalem, kiên nhẫn chờ đợi Đấng Mêsia. Các nhà chiêm tinh chờ đợi, ngóng trời ngóng đất tìm dấu, tìm giờ Vị Thượng Trí, Đức Khôn Ngoan hạ sinh. Giống như các vị, mỗi Mùa Vọng, chúng ta lại đợi chờ Đức Kitô hiển ngự.
Trải dài ánh nhìn tới tận mút cùng thời gian, chúng ta kiên nhẫn mong chờ Đức Kitô đến khi mút cùng cuộc đời, khi ngày đời chúng ta chấm dứt. Thế nhưng, thực sự Người đã bước vào dòng thời gian. Người đã có đó trong cuộc đời chúng ta rồi. Đừng nháo nhào nhảy từ hết việc nọ sang việc kia không dứt, nhưng kiên nhẫn, thực sự như thế cũng giúp lòng trí chúng ta nhận ra rằng, Đức Kitô đã ở đó, Người vẫn hiện diện cùng chúng ta. Và để giúp chúng ta ý thức hơn về sự hiện diện đầy ân sủng của Đức Kitô, Giáo hội đã chuẩn bị cho chúng ta nguyên một Mùa Vọng, như là trường dạy kiên nhẫn vậy.


Giám mục Serratelli, giáo phận Paterson, New Jersey
Chuyển dịch: Truyền thông Đa Minh

http://www.catholicnewsagency.com

MÙA GIÁNG SINH: THẾ GIỚI THẦN TIÊN CÓ THẬT

Mùa Giáng Sinh lại trở về. Trẻ em trên toàn thế giới lại một lần nữa nhìn thấy hình ảnh những cây thông Noel rực rỡ mầu sắc, phố xá và các cửa hàng ngập tràn ánh sáng, những mái nhà tuyết phủ, những hình nộm người tuyết, gấu tuyết, thiên thần cầm loa tung bay khắp trời, nhất là hình ảnh Ông Già Noel với những con tuần lộc kéo xe chở đầy quà đi phân phát cho những đứa trẻ ngoan ngoãn. Giáng Sinh mở ra cánh cửa cho các em bước vào thế giới thần tiên cùng những chuyện thần thoại ắp đầy mộng ước. Nhưng thật bất ngờ, thế giới thần tiên ấy lại có thật, hôm nay và ở ngay đây!

Cậu bé 5 tuổi mắc bệnh nan y tắt thở trong vòng tay Ông Già Noel

Theo ABC News ngày 12/12/2016, một ông già Noel ở Tennessee thuật lại rằng một cậu bé 5 tuổi mắc chứng nan y đã trút hơi cuối cùng trong tay ông, sau khi ông tặng cậu một món quà Giáng Sinh trong bệnh viện.

Tờ Knoxville News-Sentinel tường trình rằng: Eric Schmitt-Matzen, một người chuyên đóng vai “ông già Noel” khoảng 80 lần mỗi năm, đã được mời đến thăm cậu bé đang chờ chết tại bệnh viện. Schmitt-Matzen cho biết: sau khi đã nhận được món đồ chơi ông tặng, thì cậu bé hỏi ông rằng cậu sẽ phải xưng hô và giới thiệu về mình như thế nào với những ai cậu sẽ gặp sau khi rời khỏi cõi đời này. Schmitt-Matzen trả lời: “Con cứ nói con là ‘Chú lùn Số Một của Ông Già Noel’ thì chắc chắn họ sẽ cho con vào.”

Nghe thế, cậu bé ôm chầm lấy ông và nói: “Ông Già Noel ơi, ông giúp cháu được không?” Và cậu trút hơi cuối cùng trong tay ông.

Schmitt-Matzen cho biết rằng phải mất mấy ngày ông mới hoàn hồn được sau “biến cố không thể nào quên” này. Và ông quyết định sẽ vẫn tiếp tục…làm ông già Noel.

Lá thư cậu bé gửi cho bố trên thiên đàng đã rơi xuống sân nhà của một phụ nữ

Trong cùng ngày, theo Good Morning America, lá thư cậu bé 7 tuổi gửi cho người bố quá cố của mình đã được hồi âm, điều mà mẹ cậu gọi là “phép lạ Mùa Giáng Sinh.”

Hằng năm cậu bé gốc Colombia, tên Alejandro, hiện sống tại Oxford, tiểu bang Georgia, đều thả hai chiếc bóng bay có buộc theo một bức hình và một lá thư, một vào ngày giỗ bố, và một vào ngày sinh nhật bố. Cậu tin rằng lá thư sẽ tới tay bố trên thiên đàng. Đó là lời của mẹ cậu, bà Yudy Catherine Bonilla Ramirez, thuật lại cho Đài ABC News.

Năm nay, lá thư gửi bố, người đã qua đời khi cậu Alejandro vừa lên 4, lại rơi vào tay một người phụ nữ sống tại Monroe, cách xa nhà cậu bé chừng 20 dặm. “Hai vợ chồng tôi tìm thấy chiếc bong bóng bay trong sân nhà,” bà Suzanne Womac Edwards cho ABC News biết như thế.

Lá thư viết thế này: “Bố ơi, con mong Bố có mặt ở đây để mình vui vẻ với nhau. Con chúc Bố một lễ Giáng Sinh vui tươi. Con hy vọng Bố sẽ nói cho Chúa gửi nhiều quà cho con. Con mong Bố được hạnh phúc trên thiên đàng. Nếu đúng như vậy thì Bố cho con biết nhé. Con yêu Bố, Alejandro.”

Bà Edwards thú nhận: “Đọc xong lá thư, tôi dàn dụa nước mắt. Tim tôi như rạn vỡ vì thương cậu bé.” Bà cho biết lúc đầu bà thấy phân vân không biết làm gì với tâm tình cậu bé bộc bạch trong lá thư. Nhưng rồi bà đổi ý khi đọc lại câu cuối cùng: ‘Nếu đúng như vậy thì Bố cho con biết nhé.” Cậu thật sự muốn bố cho biết bố có bình an không.

“Tôi nghĩ rằng nếu cậu không nhận được hồi âm thì sẽ tưởng rằng bố mình không được bằng an hạnh phúc. Do đó, tôi tự thấy có trách nhiệm phải hồi âm cho cậu,” bà Edwards nói vậy.

Thế là bà lên Facebook để đăng câu trả lời cho cậu, hy vọng là gia đình cậu sẽ nhận được tin. Bà viết như sau: “Tôi tin chắc rằng bố cháu không hề muốn rời bỏ cháu hoặc làm cho cháu cảm thấy cô đơn buồn tủi. Nhưng bố cháu hiện đang bình an và hạnh phúc trên thiên đàng.”

Facebook của bà Edwards nhanh chóng bay đi và rồi tới nhà mẹ cậu Alejandro là người đọc những câu hồi âm của Edwards gửi cho con mình. Bà Bonilla Ramirez thuật lại rằng: “Mắt cháu nhòa lệ. Cháu vui mừng vì biết bố cháu bình an hạnh phúc trên thiên đàng là nơi rất tốt đẹp cho bố.”

Bà Bonilla còn thêm rằng: “Với Alejandro, bố chính là vị anh hùng có một không hai. Hai bố con không hề rời nhau nửa bước.”

Thế là hai bà mẹ liên lạc với nhau và dự định gặp mặt nhau. Bà Edwards nói bà tính mang lá thư hồi âm viết tay cho Alejandro, cùng một cuốn Thánh Kinh và một vài trái bong bóng bay.

Nói về các món quà thì Alejandro còn nhận được thật nhiều từ cộng đồng mạng có tên là “Người Samaritanô nhân hậu” theo sau bài viết của bà Edwards đăng trên Facebook. Mẹ cậu Alejandro còn lập cả một hộp thư để nhận các món quà này nữa.

Bà Edwards kết luận: “Tôi thấy mọi sự xẩy ra đúng như một phép lạ. Chồng tôi “mượn miệng lưỡi các thiên thần” để bảo cho Alejandro biết bố cậu vẫn bình an hạnh phúc trên thiên đàng.”



Nguyễn Kim Ngân(VCN)

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG NĂM A

Chúa nhật hôm nay, trước lễ Giáng Sinh, Giáo hội đề nghị chúng ta nghe "loan báo việc sinh Đức Giêsu cho Giuse".
Mátthêu viết: "Mẹ Người là bà Maria đã đính hôn với Giuse" Đính hôn hay thành hôn có nghĩa là "đến với, phối hợp với một người nào đó," chỉ việc chung sống vợ chồng. Cô thiếu nữ Dothái được đính hôn vào khoảng tuổi 12, thoát khỏi quyền giám hộ của người cha để ở dưới quyền giám hộ của người chồng vào lúc 13-14 tuổi. Theo phong tục và hôn nhân của người Dothái, đính hôn đã là thành vợ chồng trước pháp luật, nhưng việc rước dâu thường cách xa lễ đính hôn, có khi cả năm trời. Thường thì hai người không chung sống trước khi rước dâu, nhưng giả thiết có con với nhau trong giai đoạn này, đứa con vẫn là con hợp pháp.
Maria đã đính hôn với Giuse, nghĩa là cả hai như các cặp hôn nhân khác, có dự tính thành vợ chồng. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Người ta đặt câu hỏi: Ông Giuse có biết việc Đức Maria thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần, trước khi Thiên thần báo tin không? Sự công chính của Giuse ở chỗ nào?
Theo nhiều nhà chú giải, Giuse công chính không theo nghĩa vâng lời lề luật. Vì chẳng có luật nào buộc phải ly dị người mới đính hôn (Đnl 22,13-21; 23-27), luật chỉ dạy ly dị khi hôn nhân đã hoàn hợp (Đnl 24,1). Đàng khác âm thầm ly dị, Giuse lại càng bất tuân lề luật. Vì chứng thư ly dị chỉ có giá trị pháp lý, khi mang tính cách chính thức công khai. Vả lại, ly dị âm thầm như thế không thể giữ bí mật được lâu, trong một ngôi làng nhỏ bé như Nadarét. Đàng khác, nếu Giuse coi Maria vô tội, ta không thể hiểu được tại sao ông lại nghĩ đến chuyện ly dị bà, vì pháp luật đâu cho phép. Xét như là hôn phu, ông có bổn phận bảo vệ hôn thê vô tội, chống lại mọi nghi ngờ vô bằng cứ của kẻ khác.
Hơn nữa, trong Tin mừng của Mátthêu, chỉ duy nhất Giuse được gọi là công chính, tựa như Abel người công chính. Abel công chính không phải theo luật, vì lề luật chỉ được công bố với Maisen, nhưng vì kính sợ Thiên Chúa. Vì thế, không thể cắt nghĩa đức công chính của Giuse " theo luật" được, nhưng công chính vì kính sợ Thiên Chúa.
Nhiều nhà chú giải cho rằng: Trước khi Thiên sứ loan báo, Giuse đã biết Maria có thai bởi quyền năng Thánh Thần, có thể do chính Maria tiết lộ, tâm sự với người mình đính hôn, hay đúng hơn mẹ của Maria, theo tập quán Đông phương. Vì thế, điều làm cho Giuse băn khoăn, không phải vì tiết hạnh của Maria, song là sự thụ thai huyền nhiệm của nàng. Trước mầu nhiệm ấy, Giuse nghĩ: Ông không có quyền đem về nhà một kẻ, Đức Giavê đã dành riêng cho Người, ông không có quyền làm cha đứa con không phải là của ông. Ông nhận ra quyền làm Cha của Trẻ này là chính Thiên Chúa, còn ông, không được coi như cha của đứa con đó.
Thật thiêng thánh! Trước mầu nhiệm ấy, Giuse muốn rút lui và cẩn thận không muốn tiết lộ mầu nhiệm thiên linh ấy nơi Maria (Theo Origène và Eusèbe, từ "deigmatisai" = tiết lộ, không bao hàm ý nghĩa xấu: tố giác, bêu nhục như từ Paradeigmatisai; Touon cũng dịch là tiết lộ, bầy tỏ). Giuse phản ứng như hết thảy mọi kẻ công chính trong Kinh thánh, trước việc Thiên Chúa can thiệp vào đời họ: như Maisen cởi giầy trước bụi gai rực cháy, như Isaia khiếp đảm trước việc xuất hiện của vị Thiên Chúa ba lần thánh (Is 6,3-4), như Êlisabét hỏi tại sao mình được Mẹ Thiên Chúa đến thăm (Lc 1,39-45), như Phêrô cúi mình thưa: "Lạy Chúa, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi." Tuy nhiên, "đang khi Giuse toan tính lìa bỏ Maria, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về." Giuse kính sợ Thiên Chúa, không phải vì lề luật
Lm. Giuse Nguyễn An Khang


BA NGƯỜI THẦY CỦA TÔI

Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.

Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: “Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?”
Hasan đáp: “Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.

Người đầu tiên là một tên trộm:

Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: “Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với tên trộm”.

Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: “Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!” Mỗi khi ông ta trở về, ta đều hỏi: “Có trộm được gì không?” Và ông ta đều đáp: “Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ.” Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.

Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hàng đêm vẫn quả quyết: “Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!”

Người thầy thứ hai là một con chó:

Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ hãi trong lòng bằng hành động.

Người thầy cuối cùng là một đứa bé:

Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến đã thắp sáng để đặt trong đền thờ.
Ta hỏi đứa bé: “Con tự thắp sáng cây nến này phải không?” Đứa bé đáp: “Thưa phải.” Đoạn ta hỏi: “Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thóang sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?”

Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: “Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?”
Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, kho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.

Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật. Người thầy là người thông qua đó ta bắt đầu học cách học hỏi.

Sưu tầm