GIỌT NƯỚC MẮT ...

Người ta thường gán giọt nước mắt cho những ai yếu đuối, phận con nít, đàn bà. Con nít thường hay khóc, bất cứ lúc nào chúng muốn, khi té đau, hay khi vòi vĩnh. Còn đàn bà thì cứ hễ có chuyện gì đụng chạm đến con tim thì đôi mi chẳng thể kiềm nỗi dòng lệ. Xem một cảnh phim tình cảm, họ cũng khóc, dù cảnh phim ấy chẳng dính dáng gì đến mình. Bởi thế, bỗng từ đâu hình thành một quy luật bất thành văn rằng hãy cứng cáp lên, hãy can đảm lên, thà đổ máu, đổ mồ hôi, chứ đừng bao giờ nhỏ nước mắt; nước mắt không có chỗ đứng trong thế giới của người mạnh mẽ. Vâng, đúng thế, một người quá uỷ mị, gặp chuyện gì cũng chỉ biết khóc mà thôi thì thật là yếu đuối. Nhưng bảo rằng “đừng khóc”, liệu có ai có thể làm được không? Trời đã ban cho con người có giọt nước mắt. Giọt nước mắt không phải là một giọt nước bình thường. Khi bụi bám vào mắt, cơ thể sẽ tiết ra nước để cuốn trôi hạt bụi bẩn ấy đi. Nhưng không ai gọi đó là giọt lệ. Thế giới này vốn như một nồi canh, có đầy đủ mọi gia vị mặn đắng chua ngọt. Giọt nước mắt cũng có một chiều sâu ý nghĩa của nó, mà có khi nó làm cho ta trở thành người còn hơn là những nụ cười.

Ta có thể trao gửi một nụ cười đến bất cứ ai, nhưng giọt nước mắt thật sự không bao giờ được nhỏ ra một cách dễ dàng như thế. Ta thường cười với nhiều người, nhưng người nào có thể khiến ta khóc phải là một người rất đặc biệt với ta. Một người dưng xa lạ có thể làm ta cười trong thoáng chốc, nhưng để làm cho ta khóc, tương quan với người ấy phải trở thành chẳng-còn-xa-lạ nữa. Người lấy được nước mắt của ta, một giọt nước mắt đúng nghĩa, là người cực kỳ quan trọng với ta, người đó chiếm một vị trí rất cao trong khối óc ta và rất sâu trong cõi lòng ta. Giọt nước mắt hệt như một sự trào tràn của cảm xúc khi người ấy ra đi, hoặc người ấy phản bội ta, đánh mất niềm tin của ta và phụ lòng mong mỏi của ta, hoặc là khi chính ta đã làm cho người ấy buồn. Bởi vì đau quá mà ta khóc, vì mất đi một cái gì đó vô cùng quý giá nên ta mới khóc, vì thấy mình đã phụ tình thương người yêu dấu dành cho mình mà ta khóc. Giọt nước mắt này, dù là người mạnh mẽ nhất, cũng không thể tránh khỏi. Và nó chẳng có gì buồn cười hay đáng chê trách cả. Giọt nước mắt chảy thành dòng không kiềm được lúc đó hệt như một liều thuốc tốt giúp chữa lành vết thương đang rỉ máu, cuốn phăng đi những bức bối bực bội trong lòng. Bởi thế, cứ khóc đi, khi lòng thấy muốn khóc, đừng kiềm chế làm gì khi cảm xúc muốn trào dâng. Khóc xong, ta sẽ thấy khá hơn rất nhiều, dù vấn đề có khi vẫn chưa được giải quyết.

Đôi khi hơi ngược ngạo nhưng cũng có khi ta khóc vì quá hạnh phúc chứ không phải vì quá buồn sầu. Một tiếng cười bình thường không đủ để diễn tả một niềm vui vượt sức chờ đợi. Tận cùng của nước mắt là nụ cười, và đỉnh cao của tiếng cười là giọt nước mắt. Niềm vui khi thành công, khi được người khác đón nhận, khi trải qua bao trăm ngàn đau khổ, khi gặp lại người dấu yêu… thường được kết thúc bằng những giọt nước mắt rất tình. Cũng là giọt nước mắt nhưng nó không phải là kiểu “bù lu bù loa”. Nó là sự diễn tả cho những gì cần nói, là biểu hiện của sự viên mãn trong lòng. Nó cũng nói lên sự yếu đuối của con người, rằng con người là một hữu thể khao khát được đón nhận, được yêu thương và mưu cầu hạnh phúc. Và khi nhu cầu này được thoả đáp thì giọt nước mắt tự khắc nhỏ ra như dấu chỉ của sự mãn nguyện, hài lòng không còn mong mỏi gì hơn.

Còn có một loại nước mắt khác nữa, vừa đẹp vừa thanh, vừa đậm tình người. Đó là giọt nước mắt nhỏ ra khi thấy người ta rơi nước mắt. Có thể là giọt nước mắt chia vui, nhưng cũng có thể là giọt nước mắt chia buồn. Giọt nước mắt lúc đó nói lên sự liên đới mà ta có với mọi người, rằng giữa ta và họ không phải là những hòn đảo riêng lẻ giữa biển đời, chẳng có chút liên hệ gì với nhau. Ta gọi đó là sự đồng cảm: có thể vui với người vui và cũng khóc với người khóc. Thấy người khác vui vì thành công, ta không nên buồn và hậm hực; thấy người khác buồn vì thất bại, gặp chuyện không hay, ta không được vui và hài lòng. Con người chúng ta không được dựng nên để đối nghịch nhau như thế, nhưng là để gắn kết và chia sẻ với nhau mọi nỗi vui buồn. Đặc biệt, giọt nước mắt tuôn ra khi chứng kiến người khác hạnh phúc nhờ những hy sinh của mình mới đẹp làm sao. Đó là nước mắt của các bậc cha mẹ khi thấy con mình thành công trên đường đời, của một tấm lòng vàng nào đó khi thấy các em cơ nhỡ hạnh phúc với chiếc áo, chiếc kẹo mà họ sẻ chia. Chẳng nơi đâu, và chẳng khi nào, tình người lại trở nên hiển lộ tuyệt vời như lúc ấy.

Khi ta khóc, ta biết mình thật sự rất yếu đuối, ta đang sống sự yếu đuối của phận người. Nước mắt cho ta biết rằng mình không toàn năng như mình nghĩ, không mạnh mẽ như mình tưởng. Chính giây phút ấy, ta thấy mình là một con người đúng nghĩa hơn bao giờ hết. Nỗi niềm của người ta được lan truyền đến mình và ngược lại. Nó nối kết người với người bằng một sợi dây thiêng liêng nào đó. Một thế giới mà nơi đó người ta không biết khóc là một thế giới chết chóc, vì nó đã cạn nguồn suối tình thương. Còn biết khóc là còn biết thương, biết hy sinh, biết chia sẻ. Nếu có một ngày nào đó, khi người ta trở nên quá lý trí và lạnh lùng, người ta không thực sự là con người nữa, nhưng đã trở nên những cỗ máy vô tri rồi. Con người trở nên cao cả cũng là vì con người có những loại nước mắt đó: nước mắt vì đau, vì hạnh phúc và vì thấy người khác hạnh phúc.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN NĂM C


Người chủ ruộng sẽ rất lo âu và sốt ruột khi nhìn thấy đồng lúa mênh mông bát ngát của mình đang vào thời kỳ chín rục mà chẳng tìm đâu ra thợ gặt để thu hoạch lúa về.
Chúa Giêsu cũng cảm thấy tâm hồn nôn nao xao xuyến khi phần đông nhân loại đang cần được cứu độ một cách khẩn thiết, nhưng chẳng mấy ai dấn bước đem ơn cứu độ cho họ.
Thế nên, khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giêsu căn dặn các ông: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về." Lời căn dặn này hôm nay cũng được lặp lại với mỗi người chúng ta.
Đáp lời Chúa mời gọi, chúng ta sẵn sàng cầu xin có thêm thợ gặt, nhưng vấn đề là chúng ta sẽ cầu cho ai đi làm thợ gặt đây?
Ai là thợ gặt của Chúa?
Khi cầu xin ơn bình an, sức khỏe và may mắn, thì chúng ta cầu cho bản thân ta trước; còn khi cầu cho có người làm thợ gặt trong cánh đồng của Chúa, thì chúng ta cầu Chúa ban ơn đó cho những người khác, ngoại trừ ta!
Nhưng, dù muốn dù không thì chúng ta đã là thợ gặt chính danh ngay từ khi được lãnh Bí Tích Thánh Tẩy. Nhờ Bí Tích này, chúng ta trở nên chi thể của Chúa Giêsu, nên được thông dự vào chức vụ ngôn sứ, tức sứ vụ loan Tin Mừng của Người. Vậy thì trách nhiệm ‘gặt lúa’ là trách nhiệm của chúng ta, không thể thoái thác được, trừ phi chúng ta tự tách lìa mình khỏi Thân Thể Chúa.
Là thợ gặt của Thiên Chúa, chúng ta cũng được sai đi để loan Tin Mừng Nước Trời, để đẩy lùi quyền lực của ma quỷ như 12 tông đồ và 72 môn đệ xưa.
Ai là người cần được rao giảng trước tiên?
Đứng trước đồng lúa mênh mông, thợ gặt không biết phải bắt đầu từ đâu? Nói khác đi, phải loan Tin Mừng cho ai trước hết?
Giáo điểm đầu tiên cần được rao giảng Tin Mừng là thế giới nội tâm của chúng ta, vì dù mang danh là ki-tô-hữu nhưng có thể chúng ta còn xa lạ với Tin Mừng.
Xa lạ với Tin Mừng vì chúng ta chưa đọc hết bốn Tin Mừng và chưa từng khám phá kho tàng khôn ngoan chứa đựng trong đó.
Xa lạ với Tin Mừng vì đời sống chúng ta và những giáo huấn của Tin Mừng còn cách biệt rất xa!
Nếu Tin Mừng của Chúa Giêsu chưa sáng lên trong cuộc đời ta, chưa bừng cháy trong tim ta… thì làm sao chúng ta có thể đem lửa Tin Mừng ấy thắp lên cho người khác được. Không ai có thể cho điều mình không có.
Thế nên, chính bản thân chúng ta phải được phúc âm hoá trước, rồi ta mới có thể phúc âm hoá tha nhân.
Ai là người cần được xua trừ ma quỷ trước tiên?
Sứ mạng thứ hai mà Chúa Giêsu ủy thác cho các môn đệ song song với việc loan báo Tin Mừng là giải thoát con người khỏi quyền lực của Sa-tan.
Chưa bao giờ quyền lực Sa-tan trở nên khủng khiếp và mãnh liệt như trong thế kỷ nầy. Ma quỷ đã tận dụng mọi phương tiện truyền thông như sách báo, văn chương nghệ thuật, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, internet, âm nhạc, hội họa… để lôi cuốn nhiều người vào cạm bẫy và tội lỗi.
Ma quỷ đang hoành hành khắp nơi trên thế giới, nhưng cũng phải nhận rằng ma quỷ cũng đang chi phối mạnh mẽ cuộc đời chúng ta, đang lôi kéo chúng ta làm nhiều điều sai trái.
Một người đang mang xiềng xích không thể giải thoát được ai. Vậy thì trước khi giải thoát người khác khỏi ách Sa-tan, chúng ta phải tự giải thoát mình trước.
Vậy người đầu tiên cần được giải thoát khỏi quyền lực ma quỷ lại cũng là chính chúng ta.
***
Lạy Chúa Giêsu,
Qua Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca thuật lại cho chúng con biết sau cuộc hành trình truyền giáo ngắn ngày, 72 môn đệ vui vẻ trở về báo cáo với Chúa nhiều thắng lợi vẻ vang: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” (Lc 10,17)
Xin Chúa giúp chúng con là những người được Chúa sai đi thi hành sứ vụ, cũng đạt được những thắng lợi vẻ vang như vậy ngay trên chính cuộc sống của mình.

Lm. Ignatiô Trần Ngà

BỔN MẠNG THÁNG 7


THÁNG 7

NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
06.07                            
Lễ thánh Maria Goretti.
*Chị Hải
11.07
Lễ thánh Beneđicto

* Chị Hường

18.07
Lễ thánh Consolata Betrone.
* Chị Nhàn
22.07 
Lễ thánh Maria Madalena
* Chị Nhơn
23.07
Lễ thánh Brigitte
* chị Trâm
24.07 
Lễ thánh Christina.
* Chị Lộc.

26.07

Lễ thánh Gioakim và Anna.
*Chị Ngân.
* *RT:Chị Diễm Lan, Chị Thật, Chị Xuyên, Chị Lộc, Chị Bích Phượng
29.07

Lễ thánh Matta.
*RT: Chị Hiên, Chị Hoa, Chị Hà,  Chị Thìn,
C. Thùy Dung, C. Thu
31.07
Lễ Thánh Ignace de Loyola
* Chị Loan
*Ghi chú: Từ ngày 30/07 đến ngày 07/08, xin Chị em làm tuần cửu Nhật kính Thánh Đaminh- Tổ phụ Dòng

 

Lễ giỗ cha mẹ chị em

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

NGÀY
LỄ GIỖ
09.07
Chị Marie  Bernadette Nguyễn Thị Việt

27.07

Ông cố Phêrô - Thân phụ Chị Khiêm


TÂM SỰ CHIẾC VỎ ỐC

Ai đã từng đi biển sẽ có kinh nghiệm được quan sát cuộc sống của loài Ốc cách sống động và thú vị, hoặc chúng ta cũng có thể quan sát những con Ốc Sên sống ở khu vườn nhà của mình mỗi khi mùa mưa đến. Tuy nhiên, dù sống ở những môi trường khác nhau như thế, nhưng loài ốc đều có một đặc điểm chung là thu mình vào trong chiếc vỏ của chúng mỗi khi gặp nguy hiểm, và chỉ chui ra khỏi cái vỏ khi chúng cảm thấy an toàn.

Trong thực tế, chiếc vỏ có ý nghĩa sống còn với loài Ốc, chúng không chỉ là lá chắn cứng cáp để bảo vệ tấm thân mềm mại và yếu đuối của chúng khỏi các mối đe dọa, nhưng còn là ngôi nhà để chúng nghỉ ngơi sau những giờ lao nhọc đi kiếm thức ăn.

Đôi khi tôi tự hỏi!

Phải chăng cuộc sống của mỗi người cũng cần một chiếc “vỏ Ốc” như thế?

Và tôi tự nhủ lòng mình: Tại sao không! Bởi chiếc vỏ ốc tự bản chất nó là tốt và cần thiết cho cuộc sống, vấn đề là mình sử dụng chiếc “vỏ ốc” với thái độ nào.

Có thể nói, nguyên lý sống của loài Ốc cách nào đó cũng được con người áp dụng cho cuộc sống của mình rất nhiều. Chúng ta cần quần áo để bảo vệ tấm thân của mình khỏi những tác động nguy hiểm từ bên ngoài – nắng mưa và lạnh giá, cần một ngôi nhà để nghỉ ngơi khi màn đêm buông xuống.v.v… Nếu không có những chiếc “vỏ ốc” ấy thì chúng ta thật khó tồn tại.

Tuy nhiên, trong truyền thống ca dao tục ngữ Việt Nam, chẳng biết vì lý do gì mà ông bà xưa thường có quan niệm về cuộc sống liên quan đến loài Ốc không mấy tốt đẹp. Chẳng hạn như: “Ăn Ốc nói mò”, hay nhìn từ góc độ tâm lý thì người ta hay dùng hình ảnh: “Thu mình vào vỏ Ốc” để nói về những người tự ti hay mặc cảm, không dám mở lòng ra với cuộc sống và mọi người xung quanh.

Tôi nghĩ rằng, chắc hẳn những quan niệm ở trên không có ý muốn nói về những chiếc vỏ ốc vật chất, nhưng là những chiếc vỏ ốc về mặt tinh thần. Đôi khi vì quá lo lắng cho bản thân hay vì sợ hãi với cuộc sống bên ngoài mà người ta cứ ẩn mình trong chiếc vỏ ốc của mình, để rồi không dám mở lòng mình ra với thế giới và mọi người xung quanh. Thế nhưng, chúng ta cần chậm lại một tí trước khi đưa ra một phán quyết hay nhận xét nào về những người không may rơi vào hoàn cảnh như thế. Bởi vì đôi lúc người ta không dám ra khỏi chiếc “vỏ ốc” vì cảm thấy quá nhiều mối đe dọa, bất an và bối rối từ nhiều phía. Chính những bối rối và sợ hãi này đã “giam” họ ở trong chiếc vỏ ốc mà không dám mở ra với cuộc sống xung quanh. Do vậy, những ai thu mình trong chiếc vỏ ốc cần lắm sự quan tâm và chia sẻ từ người khác, thay vì chỉ biết chỉ trích và lên án.

Có lẽ mỗi người trong chúng ta cần phải can đảm đối diện với những khó khăn xảy đến trong cuộc đời của mình với một ý chí can trường và nỗ lực hết mình, thay vì chỉ biết thu mình lại. Dẫu rằng đôi khi chúng ta phải chấp nhận những hy sinh và mất mát khi đương đầu với khó khăn, nhưng qua đó ta sẽ rút ra cho mình những bài học thật quý giá.

Lạy Chúa! Xin cho chúng con luôn biết nhìn lại chính bản thân, biết mở lòng mình ra với thế giới bên ngoài, và biết xua đi ý định phán xét một ai đó mỗi khi nó xuất hiện trong đầu con. Bởi vì không một ai trong chúng con hoàn hảo đủ để có thể lên án và phán xét về anh chị em mình. Xin Chúa cho chúng con biết sống quan tâm và để ý đến nhu cầu của những người anh chị em xung quanh chúng con, và tập bỏ đi cái nhìn thiếu tích cực về người khác. Amen!

Paul Khuê S.J
http://dongten.net


HAI CUỘC ĐỔI ĐỜI

Hôm nay chúng ta mừng kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ. Các ngài là cột trụ của Hội Thánh. Các ngài là những viên đá tảng, đá quý để xây dựng tòa nhà Hội thánh vững chắc và tỏa rạng cho khắp năm châu.
 Các ngài là cột trụ của niềm tin cho toàn thể Hội thánh. Một niềm tin không gì có thể lay chuyển đến nỗi “ma quỷ cũng không thắng nổi”. Một đức tin can trường đến nỗi dầu có chịu nhiều thiệt thòi, dầu có phải trải qua những gian truân cùng khốn: tù đầy, đói rét hay phải bôn ba rầy đây mau đó, phải vượt qua biết bao phong ba bão tố, các ngài vẫn vui lòng chấp nhận vì được thông phần đau khổ với Thầy Giêsu.
Hai con người này tuy được sự giáo dục khác nhau, và hấp thụ những văn hóa khác nhau, nhưng họ lại đi chung một đường, và cùng chung một lý tưởng. Cuộc đời các ngài đều phải lội ngược dòng để làm lại cuộc đời, để thay đổi cách sống sao cho phù hợp với niềm tin của mình.
Thực vậy, nhìn vào đời sống của hai trụ cột của Hội thánh, chúng ta thấy: một Phêrô đã từng sa ngã. Ông đã từng can ngăn không muốn cho Chúa nộp mình chịu chết. Ông đã đi đến tận tùng của sa ngã là hành vi chối Chúa đến ba lần trong cùng một đêm. Một Phaolô đã hăng say lùng bắt các môn đệ của Chúa. Chính ông đã đồng loã với bọn quá khích ném đá vị tử đạo đầu tiên là Stephano. Thế nhưng, ý Chúa nhiệm mầu. Tình yêu của Chúa đã thắng vượt những yếu đuối của Phêrô và Phaolô. Chúa đã dùng muôn nghìn cách để đổi đời các ngài. Chúa đã tạo cho các ngài cơ hội để chuộc lại lỗi lầm. Chúa đã nói cùng Phêrô: “một khi con trở lại hãy củng cố đức tin của anh em con”.
Theo Thánh Kinh kể lại: Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô, Ngài biết hết! Phêrô chột dạ. Phêrô nhớ lại lời Thầy: “Nội trong đêm nay, trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần”. Tức thì, Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trĩu nặng, một cái gì đó đã chết trong ông. Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự tin quá mức. Còn lời nào biện minh cho hành động hèn nhát của ông. Còn đâu lời khẳng khái: “mọi người có bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ”. Ông chỉ là cát bụi, ông biết mình chỉ là cát bụi, yếu hèn và rất dễ sa ngã. Nhưng đêm hôm đó, một biến cố trọng đại đã "đổi mới" tâm hồn Phêrô. Lòng ăn năn bộc phát và lòng khiêm nhường chân thành đã biến Phêrô thành người thuyền trưởng trên con tàu Giáo hội.
Còn Phaolô thì sao? sau khi ngã ngựa đớn đau bởi một luồng sáng chói lòa. Mắt ông không còn thấy gì nữa, ông như kẻ bị mù trong ba ngày. Nhưng thật ra, tâm hồn ông lại sáng. Ông đang thấy và thấy rất rõ. Đó là Đức Giêsu, Người đã Sống lại thật, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Đó là sự thật mà ông phải chấp nhận. Một sự thật mà từ nay ông phải làm chứng về những điều đã nghe, đã thấy và đã biết.
Vâng, có thể nói, nhờ sự đổi mới cuộc đời của Phêrô và Phaolô mà cả thế giới được đổi mới. Văn hóa ky-tô giáo đã làm mới lại bộ mặt địa cầu. Có thể nói ở đâu đó còn có những người chưa tin vào Chúa nhưng họ đã được thấm nhuần văn hóa Kitô giáo. Ở đâu đó vẫn còn đó những người được đổi mới cuộc đời nhờ vào lời Chúa và sức mạnh của tin mừng. Ở đâu đó vẫn còn đó những tâm hồn thất vọng, lầm than họ đã bừng lên niềm hy vọng nhờ những giá trị tin mừng mà Kitô giáo mang lại cho họ.
Mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, mỗi người chúng ta được mời gọi tiếp nối truyền thống của các tông đồ mang tin mừng đến khắp cùng trái đất. Mỗi người chúng ta cũng là những viên đá sống động, góp phần xây dựng tòa nhà Hội thánh. Dù nhỏ bé, yếu hèn và bất lực, nhưng Chúa sẽ dùng tùy theo nhu cầu của Ngài. Chính Ngài sẽ đổi mới cuộc đời chúng ta bằng ân sủng và tình thương của Ngài, để nhờ đó chúng ta cũng có khả năng đổi mới môi trường chúng ta đang sống. Đồng thời chúng ta hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Đức Thánh Cha, cho các giám mục là những Đấng kế vị thánh Phêrô và các tông đồ. Xin Chúa ban thêm sức mạnh, nghị lực và ơn khôn ngoan, để các ngài luôn là điểm tựa cho niềm tin của chúng ta. Amen
(Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)