BẠN ĐANG MUỐN TRỞ THÀNH TU SĨ?

Nếu là người tu sĩ, chẳng phải chúng ta đã có Đức Ki-tô làm điểm quy chiếu, là sức mạnh và là mẫu gương để chúng ta noi theo hay sao? Nếu như chúng ta không thấy Đức Ki-tô, không biết Ngài thì làm sao chúng ta là người tu sĩ được?

           Người tu sĩ mặc lấy con người Đức Ki-tô làm sắc màu cho cuộc sống mình. Đức Ki-tô trở thành căn cứ để đối chiếu và quy hướng đến Chân – Thiện – Mỹ; hơn thế nữa, Đức Ki-tô trở nên một trang sức quý giá nhất mà người tu sĩ có được, do chính lời mời gọi của Đức Ki-tô. Người tu sĩ khoác lên mình sứ mạng của chính Đức Ki-tô là đem Tin Mừng đến với mọi người. Để làm được việc đó, người tu sĩ phải trở nên mẫu mực như con người Đức Ki-tô, phải đem hình ảnh Đức Ki-tô từ trong suy nghĩ vào trong đời sống thực tế, dù đó là hoàn cảnh nào. Nhưng, giữa xã hội năng động và không ngừng biến chuyển như hôm nay, người tu sĩ đang đứng trước những thách đố, những đòi hỏi mà con người đang đặt ra cho họ, đặc biệt là người tu sĩ trẻ.

            Người tu sĩ sống theo lý tưởng của Đức Ki-tô, nhưng họ cũng sống thực tế giữa đời thườn, cũng là một con người. Khuynh hướng thực dụng đang dần lan tràn theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, nó không chừa một ai. Đời sống thực dụng càng phát triển bao nhiêu, thì tha hóa nơi đời sống tinh thần càng lớn bấy nhiêu. Đặc biệt, với người tu sĩ trẻ, lối sống thực dụng sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống thiêng liêng và chi phối cả lối suy nghĩ của họ. Tôi gọi đó là sự tục hóa, nếu tôi biến đời sống thực dụng thành nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.

            Người tu sĩ đang đứng trước sự chọn lựa phải chọn cho mình một lối sống. Nếu họ chọn cho mình những thứ tiện nghi vật chất, thì họ cũng trở nên những con người bình thường, và họ gián tiếp phủ nhận gương mặt chân thật của Đức Ki-tô. Còn nếu họ rũ bỏ hay từ chối sự hưởng thụ trong cuộc sống, thì chẳng khác nào đang tự đi ngược lại với đại đa số con người thời nay. Thậm chí, họ sẽ bị xem như một kẻ lập dị, khác thường. Mà đúng như thế, họ đang khác thường, họ đang đi ngược dòng với sự thực dụng, vì họ đang đi theo Đức Ki-tô, một lối sống giản dị và nghèo khó. Tuy vậy, chính sự khác thường ấy làm nên một người tu sỹ chân chính, người chỉ cậy dựa vào sức mạnh của Đức Ki-tô chứ không phải của cải trần gian; người đi theo ánh sáng Phục Sinh của Đức Ki-tô chứ không phải hào quang trần gian chóng qua này.

            Kế đến, người tu sĩ không thể loại ra khỏi mình tình yêu, nhưng phải mang lấy tình yêu. Nhưng thứ tình yêu mà người tu sĩ mang trong mình là thứ tình yêu không thuộc về thế gian, nhưng là tình yêu của Đức Ki-tô, tình yêu của người mục tử nhân lành. Thứ tình yêu của ái tình, của danh vọng hay quyền thế dễ khiến người tu sĩ hôm nay đi vào vòng xoáy của sự ích kỷ, chỉ lo kiếm tìm và giữ riêng cho mình, chứ không muốn cho đi. Học nơi Đức Ki-tô, người tu sĩ cần loại bỏ ngay từ đầu những thứ tình yêu thực dụng đó, họ phải đương đầu với nó và cho đi tình yêu vĩnh cửu nơi Đức Ki-tô. Trong thực tế, để làm được điều đó thật khó biết bao, người tu sỹ trẻ chưa đủ bản lĩnh và kinh nghiệm để đối diện với những khó khăn và cám dỗ của thời đại mới này. Một bên là lời hứa trung thành tuyệt đối với tình yêu của Đức Ki-tô, một bên là nhu cầu nơi những tình yêu khác mà họ gặp phải; như thế, điều rất cần thiết là người tu sĩ phải đủ mạnh mẽ, đủ can đảm và đủ tự do để đối diện và chọn lựa những giá trị phù hợp với đời tu.

            Ngoài chủ nghĩa thực dụng, giới trẻ ngày nay cũng đề cao chủ nghĩa tự do và lãng mạn, đặc biệt ở khía cạnh dục tính. Nếu người tu sĩ trẻ cũng có những khuynh hướng ấy, chẳng khác nào họ đang tìm cách tự biện hộ cho mình, lấy lý do rằng: chính họ cũng đang là những người trẻ. Nhưng không phải thế, sức trẻ đích thực phải là khả năng nhận biết những viễn cảnh của thời đại để đối phó, để tìm giải pháp và để giúp đỡ những người trẻ khác đang rơi vào vòng luẩn quẩn của bản năng ấy. Chúng ta không được thỏa hiệp và tạo cơ hội cho tư duy tự do dục tính có cơ hội xâm nhập vào đời sống mình, với tư cách là một người tu sĩ. Nhưng, chúng ta phải định hướng và không ngừng tập luyện những nhân đức để có thể chiến thắng được những cám dỗ ấy. Hơn thế nữa, Đức Ki-tô luôn là tình yêu và ân sủng lớn lao nhất mà người tu sỹ có thể nhận được nếu như bám víu vào Ngài. Chỉ có cách ấy, người tu sĩ mới có thể thoát khỏi những kìm hãm của thế gian và thứ tình yêu tính dục, đặc biệt với người tu sĩ trẻ.

            Một khía cạnh khác cũng đang âm ỉ nhưng vẫn hằng ngày len lỏi vào đời sống người tu sỹ, đó chính là chủ nghĩa cá nhân. Đời tu là một cuộc từ bỏ, trong đó có cuộc từ bỏ cá nhân để chọn lấy tập thể, từ bỏ nhận lãnh để được trao ban. Đầu tiên, người tu sỹ hôm nay được đào tạo đầy đủ ở trình độ tri thức, đây quả là một điều kiện tốt để họ phát triển và phục vụ. Đây cũng được xem là sự tích cực để đào luyện sự trung thành nơi người tu sĩ. Nhưng nếu chỉ đơn thuần như vậy thì chẳng có gì đáng để chú ý, vì nếu sự nhận biết và khả năng của họ đang từng ngày nuôi dưỡng cái ý nghĩ cá nhân, tính độc lập cực đoan thì lại là vấn đề nghiêm trọng cần được xem xét. Chúng ta dễ lầm tưởng và dễ bao che cho cái cá nhân khi cho rằng nó chỉ là tính cách hay bản tính của một con người. Nếu tôi không phải một tu sĩ, tôi có quyền như thế, nhưng tôi là một tu sĩ, tôi chẳng có quyền gì đòi hỏi cho mình phải vun trồng tính cá nhân, ích kỷ. Người tu sĩ hôm nay cũng thế, họ không thể lấy mình làm cơ sở, làm gốc để căn cứ và bắt mọi người phải theo mình. Một biểu hiện cụ thể cho chủ nghĩa cá nhân là thái độ luôn luôn chứng tỏ bản thân, khó chấp nhận người khác hoặc chỉ chấp nhận những ai giống như mình. Họ luôn cậy dựa và tin tưởng vào bản thân, họ không muốn cậy nhờ vào bất kì ai. Nếu là người tu sĩ, chẳng phải chúng ta đã có Đức Ki-tô làm điểm quy chiếu, là sức mạnh và là mẫu gương để chúng ta noi theo hay sao? Nếu như chúng ta không thấy Đức Ki-tô, không biết Ngài thì làm sao chúng ta là người tu sĩ được?

             Chủ nghĩa cá nhân như một rào cản lớn cho con người mọi thời đại, và đặc biệt với người tu sĩ trẻ, để có thể mở ra với Thiên Chúa và tha nhân. Mọi người phải vượt qua rào cản ấy để tiến đến sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Đức Ki-tô. Đầu tiên là từ phía bản thân, họ phải vượt qua cái tôi cá nhân mà chỉ chính họ mới biết được. Thứ đến, họ phải vượt qua rào cản của tha nhân, họ phải biết chấp nhận người khác khi làm việc tông đồ, để hiểu và giúp người khác thăng tiến trong Đức Tin vào Thiên Chúa.

            Nói đến những khó khăn và những thách thức, chúng ta cũng phải thừa nhận người tu sĩ trẻ hôm nay có đầy đủ điều kiện thuận lợi để học tập, để phục vụ… nhưng đó cũng trở thành những cám dỗ rất lớn cho họ. Trải qua thời gian và những cuộc vật lộn với thực tế xã hội và giai đoạn đầu của đời tu, tôi nhận ra sức mạnh nơi tình yêu Đức Ki-tô là cần thiết biết bao. Lúc tôi có những suy nghĩ và cảm nhận mình muốn thoái lui khỏi đời tu, tôi buồn bã và chán nản; bất chợt Thánh Giá Đức Ki-tô trở nên nguồn an ủi mạnh mẽ cho tôi. Vì tôi biết, trong sự đau khổ cùng cực nhất, lại là tình yêu to lớn và vĩ đại nhất. Kế đến, khi phải đối diện với những thách đố của thời đại mới luôn biến chuyển, việc tông đồ cũng gặp nhiều khó khăn, tôi nhìn đến cách mà Chúa Giê-su đã giảng dạy cho dân chúng xưa, cách mà Chúa đã rao giảng Tin Mừng và cả cách mà Chúa đã rao giảng về sự khốn khó và sự chết của Ngài. Lúc ấy, tôi cũng sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn, để được cùng chết với Ngài. Đôi lúc, từ sự ích kỷ cá nhân, tôi có thể đã loại trừ Thiên Chúa khỏi đời sống của tôi, cả về đời sống vật chất và tinh thần. Có vẻ như tâm thế của giới trẻ ngày nay đều là thế, tôi không tự biện minh cho mình nhưng tôi phải thừa nhận điều ấy, vì tôi cũng là một người trẻ. Tôi nhớ lại cách mà dân chúng xưa đã loại trừ Chúa Giê-su, tìm cách để lên án Ngài, có vẻ như tôi cũng đang như những người dân xưa. Vậy thử hỏi, tôi đang là một tu sĩ hay cũng chỉ là một pha-ri-sêu? Có lúc, tôi cũng phải chiến đấu với những hoài nghi vào Thiên Chúa. Tôi đặt ra cho mình những lý do thật hợp lý để biện minh cho việc xa rời Thiên Chúa của mình. Nhưng thật may thay, Chúa đã an ủi và dẫn dắt tôi trở về với Ngài, bằng tình yêu và sự tha thứ nơi Tòa Cáo Giải và nơi Bánh Hằng Sống. Lúc này, tôi chỉ thấy tình yêu Thiên Chúa lấp đầy mọi giới hạn trong tôi.

            Người tu sĩ cũng là một con người, nhưng là một con người bước theo Đức Ki-tô, họ đang làm một cuộc nhập thế giữa dòng đời. Có thể nói người tu sỹ sống giữa đời này, nhưng lại không thuộc về cõi đời này. Họ sống trong xã hội này, nhưng lại làm chứng về một xã hội khác, một vương quốc khác, đó là Nước Thiên Chúa. Chính vì những lý do đó, người tu sĩ hôm nay phải đối diện với muôn vàn thách đố, có cả những sự chống đối, những loại trừ và cả những lời khinh chê. Thế nhưng, đó lại là lối đường thập giá mà Đức Ki-tô đã đi. Tôi biết mình đang phải đối diện với tất cả những khó khăn ấy, nhưng tôi vẫn bước đi vững vàng trong đời sống này, phải chăng chính Đức Ki-tô đang giúp tôi?

Lưu Hành – Tiền Tập SDB

BẢN NĂNG GIỚI TÍNH KHÔNG PHẢI LÀ CHUYỆN GỐI CHĂN

Là linh mục công giáo, nên khi nói và viết về dục tính, người ta không tin tưởng tôi mấy. Khi nào họ cũng nói: “Cha biết gì nào, cha đâu có làm tình!”

Tôi rất thích câu phê bình này vì nó diễn tả đúng thái độ mà tôi muốn tranh luận, xác định thế nào là bản năng giới tính và hành vi tình dục.
Đây là một sai lầm nguy hiểm và, trên bình diện cảm xúc, ít chuyện nào gây tổn hại nhiều cho chúng ta bằng chuyện này. Nhưng học thuyết Freud phổ thông đã thuyết phục chúng ta như vậy. Nó làm chúng ta tin rằng, tình yêu và tình bạn đích thực, ít nhất là giữa hai giới, đòi hỏi có những quan hệ tình dục.
Ngắn gọn, nó làm chúng ta tin rằng tình dục là cần thiết để phát triển trọn vẹn. Chúng ta nghĩ rằng, không có tình dục, cuồi cùng rồi chúng ta sẽ cằn cỗi, héo khô, trai quá lứa, gái quá thì. Thiếu tình dục, tình yêu và tình bạn của chúng ta sẽ thành “lý thuyết suông,” thiếu sức sống và không thực tế.
Cùng lúc, chúng ta nuôi dưỡng trong đầu ý tưởng tình dục là thuốc tiên cho tất cả nỗi cơ đơn và thất vọng tình cảm. Giới tính học thường dùng nó để thay thế cho việc cứu độ: hạnh phúc và buồn bã tùy thuộc vào việc có hay không có quan hệ tình dục trọn đủ.
Tất cả những chuyện này làm chúng ta khổ về mặt cảm xúc. Nếu bản năng giới tính bị đồng nghĩa với quan hệ tình dục thì, ngoài những phút giây ngắn ngủi, chúng ta sẽ bị hụt hẫng và bất mãn hoài. Vì nhiều lý do khác nhau, chúng ta không thể ngủ với những người chúng ta thấy họ hấp dẫn và, cũng như tình bạn và tình yêu bây giờ quá liên hệ đến tình dục, nên chúng ta thường bị giằng co giữa tính không chung thủy và hụt hẫng.
Bi kịch không chỉ là do tính không chung thủy về tình dục và cảm xúc mà chúng ta cảm nhận, mà còn do chẳng có bao nhiêu tình bạn và tình yêu giữa hai giới khác nhau (dù trong đời sống hôn nhân).
Vì thế sẽ không ngạc nhiên, khi trong nền văn hóa chúng ta, tìm một người tình thì dễ hơn tìm một người bạn, cũng không ngạc nhiên khi, trinh tiết, độc thân, khiết tịnh trong tình bạn sâu đậm và tiết chế định kỳ trong đời sống hôn nhân thường được xem là không thực tế, thậm chí còn có hại. Tuy nhiên, khát khao sâu đậm nhất hướng chúng ta về các tương quan giữa hai giới hơn là làm tình. Đàn ông, đàn bà mơ một giấc mơ thầm kín nhất, mình là người của nhau, hơn chỉ là người tình của nhau.
Không có gì là ngạc nhiên. Bản năng giới tính là một thực tế mênh mông. Các ước muốn ở dưới nhiều hình thức. Chữ “tình dục” có nguồn gốc từ chữ la-tinh secare, nghĩa đen là cắt, chặt. Ở tất cả mọi mức độ, chúng ta đều cảm nhận mình hữu tính: bị cắt, bị chặt, không nguyên vẹn, giống như bị bứt ra từ một đơn vị. Chúng ta sốt ruột muốn được trọn với nhau, muốn kết hợp trong một dạng nguyên vẹn.
Vì lý do này bản năng giới tính không chỉ đơn thuần là quan hệ tình dục. Nó là một chiều kích của nhận thức chúng ta có về bản thân mình. Nó là thứ ái tình, một đòi hỏi không thể kìm nén được, đẩy chúng ta yêu thương, cung cấp một năng lượng để chúng ta thực hiện được. Nhờ nó, chúng ta đi ra khỏi vỏ bọc của tính ái kỷ là tính tự yêu mình. Nhờ nó, chúng ta đi tìm quan hệ, trao đổi, tình cộng đoàn, óc sáng tạo. Nhờ nó, chúng ta được lôi cuốn, được đẩy ra khỏi con người mình.
Cảm nhận bản thân mình là hữu tính, là bị chặt, luôn luôn hiện hữu trong con người chúng ta cũng như nhịp đập quả tim. Nó thấm đến mọi tầng mức của cá tính và tô màu lên trên tất cả các mối quan hệ của chúng ta.
Chúng ta đầy dục tính. Về các mặt thể lý, tâm lý, cảm xúc, tinh thần, tri thức và thẩm mỹ, chúng ta hướng về hợp nhất một đơn vị, một cái gì đó ở ngoài bản thân mình. Nam tính hút nữ tính và ngược lại. Dục tính tô màu lên tất cả.
Tuy vậy hành vi tình dục chỉ là một hình thức đặc biệt diễn tả bản năng giới tính của chúng ta. Nó là một khía cạnh, dù là một khía cạnh rất lý thú, của một thực tế rộng lớn mà chúng ta gọi là bản năng giới tính. Vì không thể hiểu được nó, ngày nay chúng ta bị nó ám ảnh. Tựa như bị nhiễm vi trùng, chung quanh chúng ta bao phủ một ý tưởng, sự triển nở hay chai cứng nhân cách chúng ta tùy thuộc vào việc có hay không có một quan hệ dục tính thỏa mãn.
Nhưng nếu bản năng giới tính là xung năng hướng chúng ta về tình cộng đoàn, gia đình, bằng hữu, tình yêu và óc sáng tạo thì, đâu có quan trọng nếu ngủ một mình hay không. Tình cộng đoàn, gia đình, bằng hữu và sáng tạo vẫn ở đó. Chúng ta có thể sống có hoặc không có tình dục, nhưng chúng ta không thể sống thiếu tình cộng đoàn, gia đình, bằng hữu, và óc sáng tạo. Chúng làm cuộc sống chúng ta đầm ấm, có ý nghĩa và trọn vẹn hơn.
Ngược lại, thiếu chúng, chúng ta sống trong lạnh lùng, chua cay, cằn cỗi và khô héo. Nỗi khao khát mãnh liệt của chúng ta là nỗi khao khát cho tình cộng đoàn, gia đình, bằng hữu và óc sáng tạo. Bản năng giới tính là nỗi khao khát và năng lượng để chúng ta sống với các nỗi khát khao này.
Các quan hệ tình dục phải luôn được hiểu trong bối cảnh này. Nó có thể có lợi và cũng có thể có hại. Nó có lợi khi nó làm lợi thế cho tình cộng đoàn, gia đình, bằng hữu và óc sáng tạo. Nó có hại khi làm cản trở các chuyện này. Trong phạm vi nhân cách và đời sống xã hội, thì, gần như không thể được, các quan hệ tình dục lại có thể có lợi cho tình cộng đoàn, gia đình và bằng hữu nếu nó ở ngoài quan hệ yêu thương, ngoài hôn nhân, ngoài cam kết sống lâu dài với nhau.
Kinh nghiệm có thể xác minh điều này. Sự kiện cắt đứt mối dây giữa tình dục và hôn nhân không làm tăng thêm tình bạn, tình cộng đoàn, tình gia đình hay tình yêu. Chúng ta cô đơn hơn bao giờ hết.
Có tình dục xác thịt và tình dục của quả tim. Cái trước đầy bất mãn, lợi dụng, nông cạn, loạn thần kinh, cuối cùng là chán (vì, như W.H. Auden nhận xét, “tất cả chúng ta đều không biết gì nhiều về những chuyện con người có thể làm như động vật có vú”). Cái sau tràn đầy tình bằng hữu, tình yêu và đam mê. Nó là tình dục của quả tim, nó chữa lành cô đơn và xây dựng gia đình, cộng đoàn, tình bằng hữu.
Thêm một lần nữa, chúng ta phải học để phân biệt bản năng giới tính và quan hệ tình dục. 
Nguyễn Kim An dịch

Trích sách Tập sống vượt lên nỗi sợ, Forgotten among the Lilies, Learning to Love Beyond Our Fears, Ronald Rolheiser

ĐẤU TRANH ĐỂ THOẢI MÁI VỚI BẢN THÂN

Rainer Marie Rilke đã nói rằng, nếu không thể nhìn thấy sự phong phú trong cuộc sống mà chúng ta đang sống, thì chúng ta chẳng phải là nhà thơ. Những vấn đề của chúng ta cũng thế.

Tôi vừa có phúc vừa khốn khổ vì một bồn chồn bẩm tại không phải lúc nào cũng khiến đời tôi dễ dàng. Tôi nhớ mình là một cậu bé cứ bồn chồn lang thang quanh nhà, quanh vườn, rồi mảnh đất nông trại của gia đình trên khu đồng cỏ. Gia đình của chúng tôi gần gũi, cuộc sống của tôi an toàn và bảo đảm, tôi được nuôi dạy trong một đức tin vững vàng. Điều đó đáng ra phải tạo nên thời thơ ấu an bình và ổn định, và xét phần lớn thì đúng như vậy Tôi thấy mình thật may mắn.
Nhưng tất cả những ổn định này, ít nhất với riêng tôi, lại chẳng thể loại bỏ được một sự bồn chồn bất an. Xét sơ qua, tôi thấy đây là sự cô lập khi lớn lên ở một cộng đồng nông thôn khá xa đời sống đô thị lớn. Những cuộc đời tôi xem trên truyền hình và đọc trên báo chí, có vẻ hoành tráng hơn, thú vị hơn và quan trọng hơn cuộc đời của tôi. Khi so sánh với chúng, cuộc đời của tôi thật nhạt nhòa, nhỏ bé, thiếu quan trọng, và là chọn lựa thứ hai. Tôi khao khát được sống ở thành phố lớn, cách xa những gì mà tôi xem là sự bần cùng của đời sống nông thôn. Do đó, cuộc đời tôi cứ luôn mãi xa cách mọi sự có tầm quan trọng.
Hơn thế nữa, tôi còn làm khổ mình khi so sánh đời tôi, cơ thể tôi, và sự vô danh của tôi với vẻ đẹp, sự hấp dẫn và danh tiếng của các vận động viên chuyên nghiệp, các ngôi sao điện ảnh, những người nổi tiếng khác mà tôi và biết bao người ngưỡng mộ. Với tôi, họ có cuộc sống thật sự, cuộc sống mà tôi chỉ biết ghen tị. Hơn nữa, tôi thấy một sự bồn chồn sâu sắc trong tâm hồn. Dù cho tôi có được sự thân thiết thật sự trong gia đình, có một cộng đồng gắn bó với hàng chục bạn bè và người quen, thế nhưng tôi vẫn mong mỏi có được sự thân mật lãng mạn đặc biệt với một người tri kỷ. Cuối cùng, tôi sống với sự lo lắng mơ hồ mà tôi chẳng hiểu nổi và hầu như chuyển dịch nó thành nỗi sợ, sợ mình không đủ tầm và sợ mình chỉ sống với những thứ hời hợt mà thôi.
Đấy là phần khốn khổ, nhưng nó cũng đem lại phúc lành. Trong biết bao bất an bồn chồn đó, tôi nhận thức (lắng nghe) một tiếng gọi tu trì, mà tôi đã cố kháng cự trong một thời gian dài bởi có vẻ như nó đối lập với mọi điều tôi khao khát. Làm sao một trái tim bồn chồn cháy bỏng, tràn đầy tình ái, lại là tiếng gọi của đời sống độc thân chứ? Làm sao một khát khao vị kỉ mong muốn danh vọng, tiền tài và sự công nhận lại là lời mời gia nhập một hội dòng với đặc sủng sống cùng người nghèo? Thật vô lý, và nghịch lý thay, đấy là lý do vì sao đến tận cùng, nó lại hợp lý. Tôi đã đi theo lực đẩy của tiếng gọi và thấy thật hợp với mình.
Nó đưa tôi vào đời sống tu trì và những gì tôi đã sống và đã học nơi đó đã giúp cho tôi xử lý sự bồn chồn của tôi qua năm tháng và giúp tôi bắt đầu sống thoải mái với chính mình. Ngoài việc cầu nguyện và linh hướng, có hai bậc vĩ nhân tri thức đã giúp tôi nhiều. Thời sinh viên, năm 19 tuổi, tôi bắt đầu tìm hiểu về thánh Augustino và Tôma Aquinô. Trí óc của tôi vẫn còn trẻ trung và chưa thành hình, nhưng tôi nắm bắt đủ qua những gì đã đọc, để bắt đầu thoải mái vui vẻ hơn với những phức cảm bồn chồn trong tâm hồn tôi nói riêng, và tâm hồn con người nói chung. Thậm chí là ở tuổi 19, người ta cũng có thể thực sự hiểu được câu nói của thánh Augustino. “Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”
Rồi đến câu hỏi của thánh Tôma Aquinô: “Đâu mới là mục đích thỏa đáng cho trí tuệ và ý chí của con người?” Nói đơn giản là, ta phải biết gì và yêu gì để thỏa mãn mọi ngọn lửa bồn chồn trong lòng? Câu trả lời của ngài là: Tất cả mọi sự!Mục đích thỏa đáng cho trí tuệ và ý chí của con người là “Sống như sống”, là Thiên Chúa, tất cả mọi người, mọi vật. Chỉ có như thế mới thỏa mãn được chúng ta.
Ngoại trừ… Hầu như chẳng nghĩ như thế. Sự bồn chồn mà tôi trải qua thời trẻ, đang là một chứng bệnh gần như toàn cầu ngày nay. Hầu như ai trong chúng ta cũng tin rằng cuộc sống tốt đẹp chỉ là cuộc sống của ai đó sống ở nơi khác, xa khỏi cuộc sống ở thị trấn nhỏ, bình thường, giới hạn của chúng ta. Nền văn hóa hiện thời đã khiến chúng ta tin rằng sự giàu có, nổi tiếng, và tiện nghi là mục đích thỏa đáng cho trí tuệ và ý chí của con người. Với chúng ta, chúng chính là “Sống như sống” Trong quan niệm đương thời của nền văn hóa, chúng ta nhìn vào những cơ thể đẹp, vào sự nổi tiếng và giàu có của các vân động viên, ngôi sao điện ảnh, và những doanh nhân thành công, mà tin rằng họ có cuộc sống tốt đẹp còn chúng ta thì không. Chúng ta là kẻ ngoài rìa, chỉ đứng nhìn vào mà thôi. Và do đó, chúng ta chỉ là những đứa trẻ nông thôn ghen tị với đời sống thành thị, thấy họ có cuộc sống chỉ dành cho một số ít người. Chúng ta khốn khổ bởi niềm tin sai lầm rằng cuộc sống đó chỉ tồn tại ở đâu đó khác, ngoài bối cảnh sống của mình.
Một nhà thơ trẻ đầy thiết tha tin rằng môi trường bình thường của anh không cho anh hứng khởi mà anh cần để làm thơ, và Rainer Marie Rilke đã khuyên anh rằng, nếu không thể nhìn thấy sự phong phú trong cuộc sống mà chúng ta đang sống, thì chúng ta chẳng phải là nhà thơ. Những vấn đề của chúng ta cũng thế.
Ronald Rolheiser,

J.B. Thái Hòa dịch

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH - C

Trong tác phẩm Quo vadis được giải Nobel văn chương 1905, Đại Văn Hào Sienkievich tả những cảnh cực hình rùng rợn mà hai thánh tông đồ Phêrô, Phaolô và các tín hữu chịu dưới thời Hoàng Đế Nêrông, biệt danh: Râu đỏ. Các tín hữu phải sống ẩn danh. Họ chỉ nhận biết nhau qua tín hiệu về hình con cá.
Một hôm, chàng quý tộc Markus là cận vệ đặc biệt của Nêrông, là tướng hùng bách chiến bách thắng, gặp công chúa Ligia nước Ba Lan bị bắt làm con tin. Chàng cảm động nói những lời tán tụng mến phục làm Ligia bối rối cúi đầu vẽ trên cát hình con cá, rồi bỏ chạy. Hình con cá thổ lộ gì với Markus. Đầu óc chàng suy nghĩ đến quay cuồng mà chẳng hiểu gì? Chàng đành hỏi ông cậu Pêtrônius nổi tiếng khôn ngoan nhất trong các cố vấn của Nêrông cũng không biết gì hơn.
Nhưng đối với các tín hữu thời đó hình con cá là một tín hiệu tin mừng vô hạn giữa những đau khổ để họ nhận ra nhau là những người tuyên xưng Đức Kitô Phục sinh. Người đã dùng hình ảnh con cá để ám chỉ về Người.
Lần thứ nhất, Người làm phép lạ từ hai con cá và năm chiếc bánh cho cả chục ngàn ngưới ăn, nếu kể cả đàn bà con trẻ, rồi Người tuyên báo về Bánh Hằng sống đời đời (Mt. 14,13.) Lần thứ hai, từ vài con cá và bảy tấm bánh cho hơn bốn ngìn người ăn, không kể phụ nữ và trẻ em. Từ phép lạ này Người nói về điềm lạ trọng đại như Giona ở trong bụng cá ba ngày thế nào thì Con Người cũng ở trong lòng đất ba ngày rồi sống lại (Mt. 15, 36-16,4). Lần ba, Phêrô và các bạn vất vả suốt đêm mà không được con cá nào, nhưng khi vâng lời Thầy ông thả lưới, đã bắt được hai thuyền cá đầy (Lc. 5,2..). Lần bốn, nhân dịp họ đòi Phêrô và Thầy phải nộp thuế Thầy bảo Phêrô câu cá để lấy tiền nộp thuế. Như thế, Người muốn đồng hóa con cá với mình và Phêrô (Mt. 17, 27).
Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật hai việc: Việc thứ nhất, Đức Giêsu hiện ra an ủi các ông đang buồn sầu, không còn được sống với Thầy, các ông đã trở về làm nghề đánh cá mà chẳng được gì, và Người cho họ được mẻ cá đầy. Việc thứ hai, Người hỏi Phêrô: “Anh có yêu mền Thầy không”. Sau đó, Người mới trao đoàn chiên cho Phêrô coi sóc.
1- Hoàn cảnh các môn đệ như những kẻ mồ côi, buồn sầu khổ cực. Thầy đã chịu chết, đã sống lại, nhưng không sống bên các ông như trước nữa. Người chỉ thỉnh thoảng hiện ra an ủi, chúc lành và dậy dỗ các ông những điều cần thiết. Các ông còn bị đói khổ vì phải về quê tiếp tục nghề đánh cá vất vả, cực nhọc suốt đêm mà chẳng được gì. Cuộc sống thật bấp bênh. Trước thảm cảnh đó, Chúa đã hiện ra giữa buổi bình minh trên bờ biển lúc các ông đánh cá về. Như một người mua cá, Người hỏi: “Này các chú, không được gì ăn ư?” các ông kêu lên với giọng cụt ngủn, chán nản: “Không!” Một câu nói khác như dậy dỗ chọc tức các ông: “Hãy thả lưới bên phải thuyền. Các anh sẽ bắt được cá”. Nghe thế, các anh dân chài không bực bội, nhưng như có sức mầu nhiệm giúp các anh vui vẻ làm theo. Thật bất ngờ, lưới đầy cá không kéo nổi. Họ ngạc nhiên tự hỏi: Ai nói đấy? Một trực giác nhạy cảm giữa hai người yêu nhau: Môn đệ Chúa yêu nhận ra ngay và bảo Phêrô: “Thầy đấy”. Như cá gặp nước, Phêrô nhảy xuống biển chạy lên gặp Thầy. Có Thầy, sẽ thoát khỏi mọi nổi cô đơn, sợ sệt, buồn sầu, lo lắng, mệt nhọc. Có Thầy có tất cả: Có cá, có bánh, có lửa sưởi ấm, có bạn đồng tâm nhất trí, có Thánh Thần tràn đầy hoan lạc, đầy sức sống yêu thương mãnh liệt.
2- Hoàn cảnh các tín hữu thời các thánh tông đồ phải chịu đầy đau khổ, buồn sầu, lo lắng. Bao nhiêu cực hình hiện ra trước mắt: Tù tội, đánh đập, khổ giá, đóng đinh từ trẻ con, thanh niên, phụ nữ tới ông già bà cả. Họ vẽ hình con cá để nhắc nhở nhau nhớ đến Đức Kitô Phục sinh. Người sẽ an ủi, ban bình an cứu giúp họ, ban Thánh Thần soi sáng cho họ giữ vững đức tin, hun đúc họ mến Chúa nồng nàn, đem lại sức mạnh mãnh liệt cho họ chiến thắng sự chết. Họ sẽ được sống vinh quang với Đức Kitô. Họ sẽ được như Gioan “mải nhìn và nghe vang lên tiếng muôn vàn Thiên thần, đông tới ức ức triệu triệu, đứng chung quanh Ngài… và lớn tiếng hoan hô: Con Chiên đã bị giết, rất xứng đáng lãnh nhận phú quý và quyền năng, khôn ngoan và uy lực, danh dự với vinh quang, cùng muôn lời chúc tụng” (Bài II). Như vậy, Đức Giêsu đã yêu thương Phêrô, các môn đệ và các tín hữu thời đó đến cùng. Người rất tế nhị, không hỏi tội Phêrô chối Thầy ba lần, không hỏi các ông bỏ Thầy chạy trốn và cứng lòng tin khi Thầy sống lại. Người chỉ hỏi như hỏi Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không?” Người hỏi ba lần để nhấn mạnh Người chỉ cần họ yêu mến, vì chỉ có lòng yêu mến mới có sức mạnh đáp lại lòng thương yêu vô cùng của Thiên Chúa. Chỉ có lòng yêu mến mới được tha nhiều “được tha nhiều thì yêu mến nhiều”. Chỉ có lòng yêu mến như “Thầy yêu các con” mới nên một với Thầy trong chăn dắt đoàn chiên và thí mạng sống vì đoàn chiên. Chỉ có lòng yêu mến mới dám thí mạng sống vì Thầy, và như Thầy bước lên thập giá để tế lễ Đức Chúa Cha và cứu độ người ta. Không lạ gì, Thánh Phaolô đã quả quyết: “Dù tôi nói được hết các thứ tiếng của nhân loại và các Thiên thần… được lòng tin chuyển núi rời non… và nộp mình chịu thiêu, mà không có đức mến thì cũng như không, vô ích cho tôi… lòng mến lớn hơn cả đức tin, đức cậy… vì đức mến tồn tại đời đời” (1Cr. 13, 1-3. 8. 13)
Lậy Chúa Giêsu, Chúa đã sống lại để có thể hiện đến khắp nơi, cứu chữa hết mọi người, ban bình an, ơn tha tội và ban Thánh Thần đầy hoan lạc. Xin cho chúng con luôn luôn cảm tạ lòng thương yêu vô cùng của Chúa để hết lòng tin mến Chúa và hy sinh phục vụ anh em.
Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

BỔN MẠNG THÁNG 5



THÁNG 5

NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
10/05
Lễ thánh Solange
Chị Hồng Hạnh
13/05
Lễ Mẹ Thánh Thể
Bổn mạng Tu Xá Mẹ Thánh Thể (Cẩm Đường)
22/05
Lễ thánh Rita
Chị Bích Dung 
25/05
Lễ thánh Sophie
Chi Bích Phượng
26/05
Lễ thánh Philipphe de Neri
Chị Hiên 
30/05
Lễ thánh Jeanne
Chị Hải (NT)

 

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN




NGÀY
LỄ GIỖ
20/05
Ông cố Phêrô - Thân phụ chị Nhi
22/05
Ông cố Giuse - Thân phụ chị Tươi.
27/05
(05/04/2001 ÂL)
Ông Cố Gioan Baotixita - Thân phụ chị Tuyết
31/05
Ông cố Phanxicô Savie - Thân phụ Chị Hải