NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CUỘC SỐNG

Một chút hy sinh ở đời này là góp phần dựng xây hạnh phúc ở đời sau. Hay đúng hơn, ngay khi ta biết hành động với tình yêu trong những sự hy sinh nhỏ bé, chính là ta đã nếm được sự viên mãn của tâm hồn rồi.

Người ta thường có một thái độ rất mông lung trước cái chết. Một đàng người ta không muốn nhắc đến nó, vì sợ rằng sẽ có điều không may xảy đến, nhưng đàng khác, người ta lại rất tò mò về nó, muốn tìm hiểu và khám phá nó. Dù sao đi nữa, dù có muốn hay không, chúng ta đều biết rằng một ngày nào đó mình sẽ phải đối diện với cái chết. Cái chết trở thành một phần của sự sống, của thân phận thụ tạo. Nó là điểm chấm hết cho một cuộc hành trình. “Cái chết” là một từ ngữ buồn bã. Nó làm tắt đi tất cả nguồn sức sống, sinh lực. Nó đưa ta về với vùng trời u ám mà chẳng ai muốn vào. Tuy nhiên, giữa cuộc sống này, “cái chết” lại mang rất nhiều màu sắc. Nói cách khác, có rất nhiều loại “chết”, trong đó, có cái làm ta buồn, nhưng cũng có cái làm cho ta được trở nên giá trị hơn.

Kiểu chết mà ta nghĩ đến đầu tiên là cái chết sinh học. Cái chết này mang đến cho người ta sự tang thương chia cắt. Bản thân người chết lẫn người thân của họ đều phải đối diện với sự tang tóc, đau buồn. Cái chết này làm người ta đặt dấu hỏi về ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời. Có đó rồi mất đó. Từ bụng mẹ chui ra rồi trở về lòng đất. Có một thời ta đã không hiện hữu, rồi sau một thời gian ngắn được hít thở chút không khí, ta lại trở về với cái “không hiện hữu”. Ta có thể còn tồn tại không ký ức, trong nỗi nhớ, nơi kỷ niệm, nhưng ta giờ đây chẳng còn là gì nữa. Một thoáng mây bay, một kiếp hoa dại. Cái chết này cho thấy sự mỏng dòn, yếu đuối của bản thân. Nó đập tan tất cả mọi tham vọng, ngạo nghễ. Nó sẽ ập đến bất cứ lúc nào nó muốn, không phân biệt thanh xuân hay tuổi già; giàu sang hay nghèo khổ; thông minh hay ngu dốt; khoẻ mạnh hay bệnh tật… Nó là kẻ thù đáng sợ nhất của con người và mãi mãi, con người chẳng bao giờ có thể chiến thắng được nó. Còn mang thân xác này, là còn phải đối diện với nó vào một khoảnh khắc nào đó ta chẳng hay.
Cái chết thứ hai là kiểu chết về tinh thần. Cái chết này không làm cho người ta tắt thở, không đưa người ta vào lòng đất, nhưng đục khoét con người và làm cho con người “sống không bằng chết”. Đó là khi người ta mất hết nhuệ khí, chẳng còn hy vọng. Người ta chỉ có đó, hít thở không khí, chứ chẳng hề “sống” thật sự. Từng ngày tháng dài trôi qua một cách vật vã. Người ta không thấy được ý nghĩa của cuộc sống, không biết mình hiện hữu để làm gì, không biết tại sao mình lại được sinh ra trên đời, và đặc biệt, họ không thấy mình được yêu thương. Họ chẳng biết yêu là gì. Không được sưởi ấm và che chở bởi tình cảm nhân sinh. Họ chỉ sống bằng một thân xác chơ vơ, ngày ngày kiếm sống như bao loài động vật khác. Họ bị cô lập hoặc tự mình cô lập trong thế giới này. Họ nhốt mình trong quá khứ buồn, trong những ký ức xa xưa, đến nỗi chẳng còn một ý chí thúc đẩy họ vươn tới, hướng về tương lai phía trước.
Cái chết thứ ba mang tính luân lý và tôn giáo. Đó là cái chết của người không còn sống theo tiếng lương tâm ngay lành mách bảo. Họ chẳng còn ý thức gì về sự chính trực, sự công bằng, về đạo đức. Họ phạm tội này đến tội khác nhưng cứ xem đó như là niềm hãnh diện của mình, chứ không ý thức rằng, cứ mỗi lần phạm tội là họ tự chà đạp nhân phẩm của mình, làm cho sự hiện hữu của mình mất đi ý nghĩa. Cứ để ý mà coi, người ta càng sống trong tội, càng cảm thấy bất an, sợ sệt. Còn người nào càng tích trữ nhân đức cho mình thì càng sống cách an nhiên, tự tại, vui sướng. Khi người ta thấy hạnh phúc, là khi sự sống trong họ trở nên trào tràn, họ thấy mình sung mãn năng lượng để vui hưởng cuộc sống. Người nào không đặt đời mình trên nền tảng các nhân đức thì sẽ thấy những gì mình làm chẳng có giá trị tốt đẹp nào cả. Càng sống trong đầm lầy của tội, người ta càng tự thấy mình dần chết đi. Chính họ, chứ không phải ai khác, kết án mình và huỷ hoại sự sống của mình.
Cái chết cuối cùng đáng được nhắc tới lại có âm vị khác hẳn. Nó là cái chết mà ai ôm ấp nó thì trở thành anh hùng và sống mãi trong trái tim của mọi người. Người ta thường gọi cái chết thứ tư này bằng hai chữ rất thân thương: hy sinh. Hy sinh là tiêu hao đi, là chịu thiệt thòi (vốn dĩ là những điều chẳng ai muốn), nhưng người ta chấp nhận nó vì một mục đích cao cả, và người ta chỉ có thể đón nhận nó bằng lực đẩy của tình yêu. Phải, cái gì gắn liền với tình yêu thì luôn cao đẹp. Điều kỳ lạ là, cứ mỗi lần người ta “chết” theo kiểu này, người ta lại càng cảm thấy như mình đang sống và sống cách sung mãn hơn, đến nỗi có thể nói như thế này: muốn sống thì phải biết hy sinh, phải biết chết đi để được sống. Sống giữa đời, nếu không có những kiểu “chết” này thì cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Cuộc sống của chúng ta có trở nên đẹp, chính là nhờ cái chết này. Dù là nhỏ nhoi, dù là ít ỏi, nhưng mỗi lần ta hy sinh lợi ích của mình cho người khác, sự mất mát đó lại trổ sinh hoa trái, sự sống trong ta lại trở nên dồi dào và ta cảm thấy có một niềm vui thiêng liêng nào đó tràn ngập tâm hồn không sao diễn tả nổi.
Chúng ta sẽ là “người” hơn khi biết hy sinh cho nhau. Đó không chỉ là bí quyết của cuộc sống mà còn là ơn gọi, là sứ mạng, là mệnh lệnh của Tạo Hoá dành cho chúng ta. Khi ta tự nguyện thực hành những hy sinh trong cuộc sống, sự sống của ta trở nên đong đầy, đến nỗi, cả khi phải đối diện với cái chết sinh học, ta chẳng còn cảm thấy sợ hãi nữa; ta sẽ thấy mình được đong đầy bởi tình yêu nên cũng không còn cái chết tinh thần; và nhờ tích góp nhiều nhân đức, ta cũng thoát khỏi cái chết luân lý. Một chút hy sinh ở đời này là góp phần dựng xây hạnh phúc ở đời sau. Hay đúng hơn, ngay khi ta biết hành động với tình yêu trong những sự hy sinh nhỏ bé, chính là ta đã nếm được sự viên mãn của tâm hồn rồi.


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

NHỮNG BÀI HỌC TỪ CHUỖI MÂN CÔI

Bài học bất ngờ, khiêm nhượng và khí cụ giữ đức khiết tịnh là ba điều tôi cảm nếm được khi cầu nguyện với chuỗi hạt Mân Côi. Ước mong sao những tâm tình của tôi đây như giọt nước nhỏ bé rơi vào biển cả hầu mong được hòa điệu cùng muôn giọt nước khác của mọi người qua lời kinh Mân Côi.
Tôi biết đến tràng chuỗi Mân Côi từ khi bước vào độ tuổi trung học. Số là vào năm ấy, giáo xứ ở quê tôi vừa khánh thành một tượng đài kính Đức Mẹ và kể từ đó, một số đông giáo dân trong xứ, trong đó có tôi đã tập trung lại mà dâng lên Mẹ những đóa hoa Mân Côi. Sau này, khi được nhận vào Nhà Tập Dòng Tên, tôi tiếp tục có thời gian cố định mỗi ngày để cầu nguyện bên Mẹ. Với tôi, chuỗi hạt Mân Côi không chỉ là một cách thế cầu nguyện đã có từ rất lâu trong dòng chảy lịch sử của Giáo Hội nhưng tràng chuỗi còn là một cuốn sách để từ đó tôi rút tỉa cho mình những kinh nghiệm thiêng liêng.
            Khi tôi có cơ hội tiếp xúc với những bạn trẻ đang còn đi học và những người bạn học của mình, chuỗi hạt Mân Côi dường như là vật bất ly thân. Lý do đơn giản mà các bạn thích đeo chuỗi ở tay là để Đức Mẹ cầu bầu cho được bình an và kế đến để nhắc nhớ mỗi ngày dâng lên Đức Mẹ chừng 10 đóa hoa lòng.
            Với mỗi người và mỗi hoàn cảnh sống khác nhau, chuỗi hạt Mân Côi mang lại những ơn ích thiêng liêng khác nhau. Sống trong tháng mà Giáo Hội đặc biệt dành để kính Đức Mẹ Mân Côi, tôi cũng xin chia sẻ ra đây một vài điều mà chính mình đã học được qua những năm tháng cầu nguyện với chuỗi hạt đơn sơ nhưng mầu nhiệm ấy.
            Bài học của sự bất ngờ. Với biến cố Nhập Thể làm người, Thiên Chúa đã sai Sứ thần của Ngài truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria (Lc 1,26-38). Đức Mẹ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Mẹ ngỡ ngàng khi Sứ Thần chào Mẹ là Đấng đầy ân sủng (Lc 1,28). Mẹ bàng hoàng khi nghe tin mình sẽ thụ thai Con của Đấng Tối Cao (Lc 1,31-32) khi mà Mẹ chỉ mới đính hôn với Thánh Giu-se. Nhiều bất ngờ khác nữa xảy ra trên suốt hành trình Mẹ bước đi theo chân Chúa Giê-su từ làng Na-za-rét đến ngọn đồi Gôn-gô-tha. Tất cả những bất ngờ, hoang mang, ngỡ ngàng, lạ lẫm trải dài trên cuộc đời Mẹ đều được đáp lại bằng hai tiếng “Xin Vâng” (Fiat). Nơi Mẹ, dường như những bất ngờ, những trái ý lại trở nên một cơ hội để Mẹ sống theo Thánh ý Chúa một cách cụ thể và rõ ràng.
            Bài học của đức khiêm nhượng. Trong ngắm thứ nhất Mùa Vui khi Sứ thần truyền tin cho Mẹ với lời nguyện xin cho được sống khiêm nhượng. Thoạt đầu, tôi tự hỏi mình rằng tại sao lại xin sống khiêm nhượng trong ngắm này? Tại sao lại không xin cho được sống niềm vui được Chúa chọn làm việc vĩ đại thì có phải hợp lý hơn không? Vâng, khiêm nhượng trong hoàn cảnh Mẹ sắp trở thành Mẹ của Ngôi Hai. Trong xã hội Do Thái bấy giờ, người phụ nữ được tiên báo là sinh ra Đấng Mê-si-a thì quả là một điều đáng tự hào và hãnh diện. Nhưng Mẹ vẫn là Mẹ sau tiếng thưa xin vâng. Mẹ ở lại và giúp đỡ người chị họ của mình là bà Ê-li-za-bét. Mẹ vẫn là Mẹ, vẫn là người vợ của Thánh Giu-se và Mẹ vẫn cần sự che chở của chồng trong cảnh bụng mang dạ chữa. Gương khiêm nhượng của Mẹ gây ấn tượng trên tâm tình sống đạo của tôi và nay nó ảnh hưởng trên chính cuộc sống ơn gọi của tôi. Cuộc sống ngày nay vẫn còn đó những khó khăn và cám dỗ về tiền tài và danh vọng. Khi chỉ một chút thành công cũng đủ làm tôi tự mãn, một chút danh tiếng cũng khiến tôi kiêu căng và có khi một chút quyền lực trong tay đã hóa tôi ra độc tài đáng ghét. Đức khiêm nhượng nơi Mẹ là những giọt mưa rào trên mãnh đất tâm hồn tôi. Những hạt mưa khiêm nhượng của Mẹ qua lời kinh Mân Côi nhẹ nhàng và nhỏ bé thôi nhưng cũng đủ mạnh để thấm vào sâu trong tâm hồn cằn cỗi của tôi.
            Khí cụ gìn giữ đức khiết tịnh. Chuỗi Mân Côi còn lại một vũ khí lợi hại để tôi chống lại những đam mê của xác thịt. Chúng ta đang sống trong một xã hội tràn ngập những mối nguy hại cho tâm hồn. Từ những chương trình truyền hình thực tế thiếu lành mạnh cho đến những hình ảnh lướt qua trên những trang mạng xã hội. Lối sống hưởng thụ, thỏa mãn giác quan còn len lõi vào những trò chơi tập thể tưởng chừng như vô hại, thậm chí nó còn đi theo ta lên tận giường ngủ qua thế giới của smartphone. Chuỗi Mân Côi trở nên một chiếc đai lưng cầm giữ tôi trung thành trong con đường mình đã chọn. Chuỗi Mân Côi trở nên khiên mộc chở che tôi trong một thế giới nhiều mầm mống của sự dữ. Chuỗi Mân Côi cũng là cái neo để tôi không trôi dạt đi hết bến này sang bến khác cách vô định. Khi cám dỗ, tôi lần chuỗi. Khi ngồi trên xe buýt đến trường, tôi lâm râm nguyện kinh. Khi phải chạy xe ra đường, tôi thầm cầu nguyện cùng Mẹ với chuỗi Mân Côi cho đến nơi cần đến. Con người vốn dĩ yếu đuối và luôn tìm cách thỏa mãn những nhu cầu của mình. Nhưng tôi vẫn thích sống tâm tình của một vị thánh trẻ Dòng Tên là Stanislav Kostka: “Tôi được sống cho những gì cao quý hơn”. Tôi không chấp nhận để mình chiều theo cám dỗ trong khi trong tay tôi còn một cơ hội quý giá cuối cùng là chuỗi Mân Côi.
            Bài học bất ngờ, khiêm nhượng và khí cụ giữ đức khiết tịnh là ba điều tôi cảm nếm được khi cầu nguyện với chuỗi hạt Mân Côi. Trong tháng Mân Côi này, chắc hẳn nhiều giáo xứ, giáo họ, đoàn nhóm cũng tổ chức những chuỗi Mân Côi sống theo từng nhóm 5 người hay những buổi cầu nguyện với kinh Mân Côi để khuyến khích nhau làm sống động những lời chào tuyệt vời mà Sứ thần Gáp-ri-en đã thưa với Mẹ khi xưa nơi làng quê bé nhỏ. Ước mong sao những tâm tình của tôi đây như giọt nước nhỏ bé rơi vào biển cả hầu mong được hòa điệu cùng muôn giọt nước khác của mọi người qua lời kinh Mân Côi.


JB Nguyễn Phi Long, S.J.(dongten.net)

SỐNG ĐẠO

Một tác giả đã chia sẻ như sau: “Có những người theo đạo cả cuộc đời nhưng chẳng thấu đáo lẽ đạo. Có những người giữ đạo rất cẩn thận, tỉ mỉ chu toàn các giới răn của Chúa, thi hành điều luật của giáo hội nhưng tâm đạo thì nguội lạnh, thờ ơ. 

Phần đông Ki-tô hữu chúng ta thường dựa trên một số tiêu chuẩn như hiền lành, nết na, siêng đi lễ, năng đọc kinh, sốt sắng lãnh nhận các bí tích, nhiệt thành tham gia các việc tông đồ giáo dân trong giáo xứ vv. để đánh giá một tín hữu là đạo đức, thánh thiện và giữ đạo tử tế. Thực ra, đó là bề nổi của đời sống đạo. Cái bề nổi này đôi khi lại làm cớ cho ta tự mãn nghĩ mình là người đạo đức thánh thiện, nghĩ mình giữ đạo như thế là đẹp lòng Chúa và rỗi linh hồn... Việc giữ đạo một cách hình thức sẽ dễ dàng chuyển sang một cách sống đạo hời hợt bên ngoài. Và như vậy chúng ta lại đi theo lối mòn đạo Cựu Ước như người Do thái thay vì thực hành đạo Tân Ước của Chúa Giê-su.      
   
Một tác giả đã chia sẻ như sau: “Có những người theo đạo cả cuộc đời nhưng chẳng thấu đáo lẽ đạo. Có những người giữ đạo rất cẩn thận, tỉ mỉ chu toàn các giới răn của Chúa, thi hành điều luật của giáo hội nhưng tâm đạo thì nguội lạnh, thờ ơ. Có những người sống đạo lấy lệ, đôi khi còn khoe là đạo gốc ba bốn đời nhưng không thực hành đạo. Có những tín hữu, nhìn xem hình thức bề ngoài rất tốt, họ tham gia mọi sinh hoạt cộng đoàn nhưng thiếu lòng bác ái yêu thương. Như thế để trở thành một người Kitô hữu tốt, phải là người có tâm đạo và sống thực với niềm tin của mình. Niềm tin đối với Thiên Chúa và với tha nhân” (LM Giuse Trần Việt Hùng, bài “Sống Đạo”, nguồn simonhoadalat.com).

Chúng ta vẫn thường nghe nói “Tin đạo chứ không tin người có đạo!”. Điều đó có nghĩa gì? Có nghĩa là nhiều người trong chúng ta không đủ phẩm chất cần thiết để làm chứng về tư cách Ki-tô hữu của mình. Chúng ta chưa là chứng nhân đích thực của Tin Mừng Ki-tô giáo và không nêu gương sáng về con người và đời sống Ki-tô hữu chính danh của mình. Chúng ta có đạo, giữ đạo nhưng chưa sống đạo. Chính Chúa Giê-su khi đi rao giảng Tin Mừng đã nhắc nhở các môn đệ, “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian... Ánh sáng của anh em phải chiếu dãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời ” (x. Mt 5, 13-16).
Thực vậy, thay vì chúng ta làm gương sáng, có khi chúng ta lại trở thành gương mù gương xấu. Thay vì chúng ta sống đạo, hành đạo thì chúng ta chỉ dừng lại ở có đạo, giữ đạo theo thói quen và theo ý riêng mình. Chính vì vậy mà khi nhìn vào chúng ta, người ta không do dự mà nói rằng, “Đạo nào cũng như đạo nào!”... Vậy đã đến lúc chúng ta cần nghiêm túc suy nghĩ và tự hỏi: “Sống đạo theo Tin Mừng Chúa Ki-tô là thế nào?”

* SỐNG ĐẠO THEO TIN MỪNG CHÚA KI-TÔ
. Sống Đạo là sống theo gương Chúa Giê-su và thực thi lời Ngài dạy.
Mỗi người trong chúng ta đều mang danh Ki-tô hữu, tức là “người-có-Đức-Kitô”. Tức là chúng ta thuộc về Chúa và Hội thánh của Ngài, được Chúa thánh hiến và chúc phúc ngày chịu phép Rửa tội. Chúng ta có thể tự hào nói như thánh Phao-lô, “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20). Vì thế, tất cả con người và cuộc sống của chúng ta phải lấy Chúa làm mẫu gương. Chúa đã nói: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11, 29). Ở chỗ khác, Chúa cũng nói: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,18).

Chúng ta noi gương Chúa là để làm chứng nhân cho Chúa và làm chứng tá Tin Mừng của Ngài. Thông qua con người và cuộc sống Ki-tô hữu chúng ta, mọi người thấy được ánh sáng Tin Mừng của Chúa, biết rõ bản chất đích thực của đạo Chúa và có thể cảm nhận được vinh quang Thiên Chúa ngay trong cuộc sống dương thế này. Đức Chân phước Giáo Hoàng Phao-lô VI đã nhấn mạnh giá trị của đời sống chứng nhân trong việc loan báo Tin Mừng, như sau: “Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là những chứng nhân”.  
   
Người Ki-tô hữu chúng ta có thể sống đạo thông qua gương chứng nhân trong nhiều cách thế. Chúng ta có thể làm gương sáng về:
- Đời sống tự nguyện khó nghèo vì Nước Trời; Không làm giàu một cách bất chính; Không phung phí tiền bạc và của cải vật chất vào những việc vô ích;
- Thái độ hiền lành và cư xử khiêm tốn, ôn hòa, chịu đựng;
- Biết hy sinh, can đảm và có tinh thần từ bỏ vì lòng mến Chúa, yêu người;
- Yêu thương mọi người kể cả kẻ thù, kẻ làm hại mình, kẻ ghét bỏ mình;
- Vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự và thực hành triệt để Lời Chúa dạy;
- Tôn trọng sự công bằng; Không tham nhũng, thâm lạm của công;
- Quan tâm bênh vực công lý, bênh vực kẻ bị áp bức; Sống ngay thẳng thật thà;
- Sự cảm thông và chia sẻ hoàn cảnh khó khăn, khốn khổ của tha nhân, tránh thái độ vô cảm vv...

Đối với Ki-tô hữu chân chính, sống đạo cũng là quyết tâm thực hành những lời dạy của Chúa, đồng thời thi hành thánh ý Ngài một cách trọn vẹn. Như chính Chúa Giê-su đã nói: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi ” (Mt 7, 21). Sự thực thi ý muốn của Chúa trong đời sống của người Ki-tô có một ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì khi chúng ta thực thi ý muốn và lệnh truyền của Chúa là chúng ta đã làm chứng về Chúa một cách cụ thể rồi. Trong suốt thời gian rao giảng về mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, Đức Giê-su đã ban bố nhiều giáo huấn cho các môn đệ và những ai theo Ngài. Những lời dạy dỗ của Chúa nhắm đào tạo nên những Ki-tô hữu đích thực. Họ sống đạo, hành đạo theo khuôn mẫu của Chúa chứ không theo lề thói giả hình, bôi bác như người biệt phái Do Thái.

Chẳng hạn Chúa đã công bố bài giảng trên núi (Mt 5) như nền tảng của đạo mới, đạo Tân Ước, theo đó các luật sống của môn đệ được Ngài nhấn mạnh triệt để. Chúa cũng kêu gọi môn đệ phải biết hi sinh từ bỏ một cách dứt khoát (Mt 19; Mc 10; Lc 18) và một khi tin Chúa, theo Chúa thì người ta sẽ không ngần ngại liều mất mạng sống mình (Ga 12). Chúa cũng kêu gọi môn đệ thực thi giới răn quan trọng nhất, đó là mến Chúa yêu người. Mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình. Đó là luật mới, luật yêu thương triệt để (Mt 22; Mc 12; Lc 10). Sống đạo là sống yêu thương, “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 35).
      
. Sống đạo  thể hiện lòng tin một cách kiên trung
Sống đạo cũng là sống theo những gì mình tin và thể hiện đức tin ấy qua những việc làm và cách sống cụ thể. Thánh Gia-cô-bê khẳng định: “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2, 17). Hành động, việc làm của chúng ta có thể là những việc bổn phận hằng ngày trong gia đình. Có thể là những trách nhiệm mà chúng ta phải thi hành tại những nơi chúng ta làm việc, phục vụ. Có thể chúng ta chu toàn bổn phận Ki-tô hữu của mình, hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng, như đọc kinh, cầu nguyện, suy gẫm, dâng lễ, rước lễ, xưng tội, việc bác ái, hi sinh hãm mình vv... Ngay cả việc nhỏ bé như làm dấu Thánh giá và đọc kinh tạ ơn trước khi ăn chúng ta cũng không thể lơ là quên sót. Đó là biểu hiện chúng ta sống đức tin một cách cụ thể.

Tuy nhiên, trên thực tế ta có thể nhận thấy điều này là “Cung cách sống đạo của phần lớn Kitô hữu hiện nay là cố gắng chu toàn các giới răn của Chúa. Đời sống đức tin được qui định bằng luật lệ, được diễn giải thành những hành vi cụ thể : làm dấu, đọc kinh, xưng tội, sinh hoạt mùa Vọng, mùa Chay, kiêng thịt, ăn chay… Kiêng thịt chứ không phải là tự nguyện có một chút hy sinh. Ăn chay nghĩa là ‘một bữa no hai bữa đói’ và có thể ‘mất chay’ nếu lỡ ăn bất cứ điều gì ngoài ba bữa chính, chứ không phải là một hành vi nói lên lòng khao khát Chúa. Đi lễ ngày Chúa Nhật thế nào cho ‘thành sự’ chứ không phải kín múc nguồn mạch sức sống cho cuộc sống thường ngày. Làm dấu trước bữa ăn thay vì một tâm tình tạ ơn...Trong những nếp qui định ấy, có khá nhiều Kitô hữu hiện nay rõ ràng đã không sống được một tâm thức của đức tin chân chính.

“Người Kitô hữu cố gắng giữ luật để khỏi phạm tội chứ ít hiểu rằng giữ luật là một sự tín trung với Chúa. Người Kitô hữu đi lễ như một trách nhiệm phải chu toàn chứ không sống tinh thần hiệp thông với cộng đoàn để tạ ơn Chúa. Nhiều bạn trẻ tránh tội vì sợ Chúa phạt, nên khi lỡ phạm một tội trọng (chẳng hạn bỏ lễ Chúa Nhật) thì chọn lập trường ‘cùi không sợ lở’, ‘chơi luôn’... cho đến khi xưng tội lại. Nhiều người rất sốt sắng trong việc nhà đạo, nhưng không sống một chút giá trị lòng thương yêu và tôn trọng những người bé mọn, sự cảm thông, tha thứ, cái nhìn của đức tin siêu nhiên… Do đó, chúng ta thấy nhiều người Kitô tính toán chi tiết để khỏi vi phạm luật, nhưng không hề thấy lỗi lầm của mình trong những việc không thấy ghi rõ các các giới răn, chẳng hạn làm cho những người chung quanh phải khổ...” (Lm. Nguyễn Trọng Viễn O.P, bài “Đạo-sinh-hoạt”, nguồn simonhoadalat.com).

. Sống đạo là thực thi lòng Mến Ki-tô giáo một cách trọn hảo
Có thể nói nét chính yếu nhất của việc sống đạo của Ki-tô hữu, đó là thực thi lòng mến Ki-tô giáo. Mến Chúa yêu người luôn là giới răn quan trọng nhất. Thánh Phao-lô đã tóm tắt trong câu ngắn ngủi này, “Yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13,10). Thánh Gio-an cũng nhấn mạnh, “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1Ga 4, 7). Việc yêu người luôn xuất phát từ lòng mến Chúa. Cho nên những ai tin theo Chúa thì không thể bỏ sót việc thực thi nhiệm vụ bác ái đối với tha nhân được. Việc sống đạo, hành đạo của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết tích cực phục vụ Đức Ki-tô trong anh em. Như Chúa đã phán, “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9,41).

Chúng ta vẫn thường tự hào nói rằng “Đạo Công giáo là đạo-yêu”. Điều đó rất chính xác. Có nghĩa là Ki-tô hữu chúng ta phải là những người biết yêu và sống yêu. Chúa Giê-su cũng đã khẳng định chỉ những người yêu anh em mình thì mới xứng đáng là môn đệ của Chúa (x. Ga 13, 34-35). Thánh Phao-lô cũng nhấn mạnh, “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13,8).

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều tín hữu giữ đạo nhiệt tình nhưng không sống đạo thiệt tình. Họ coi một số việc đạo đức thực hành theo thói quen là quan trọng hơn việc thực thi giới luật yêu thương.
“Cứ thử xét cách dùng danh từ của nhà đạo chúng ta thì biết chúng ta đã quan trọng hóa cái gì: cái chính yếu hay cái phụ thuộc? Chúng ta gọi những việc cầu nguyện hay bí tích là những ‘việc đạo đức’. Điều đó khiến nhiều Ki-tô hữu lầm tưởng rằng cứ cầu nguyện hay lãnh nhận các bí tích cho nhiều là trở thành người đạo đức. Nhưng thật ra rất nhiều người làm được như vậy một cách rất gương mẫu, nhưng chẳng được mấy ai mến phục chỉ vì họ sống thiếu tình thương. Thực ra, đạo đức được thể hiện trong chính cuộc sống thường ngày: trong cách cư xử, cách làm việc, cách nói năng… Một người có đạo đức khác với những người không đạo đức chủ yếu ở trong chính cách họ cư xử, làm việc, nói năng… chứ không phải trong việc siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Vì thế, thiết tưởng khi chúng ta làm những bổn phận hằng ngày như làm ăn buôn bán, quét nhà nấu ăn giặt giũ, tiếp xúc nói chuyện cư xử với mọi người… nếu chúng ta làm với tinh thần yêu thương vị tha, thì chính khi làm như vậy là ta thực hiện những việc đạo đức. Việc cầu nguyện và các bí tích giúp ta có ơn Chúa, có sức mạnh để làm những việc ấy với tinh thần yêu thương của Chúa, chứ chúng không thay thế tinh thần yêu thương ấy” (Nguyễn Chính Kết, bài “Bản chất của Kitô giáo là tình yêu, cũng như bản chất của Thiên Chúa là tình yêu”, nguồn phongtraogiaodan.com)./. 

Aug. Trần Cao Khải

Mẹ Cho Ta Cả Cuộc Đời

Có một bài thơ viết rằng:
Chung quanh tôi, có ngàn vạn con người.
Nhưng trong tôi, chỉ có một người thôi.
Người ấy đã trao cho tôi cuộc sống này, và hơn thế, đã cho tôi hiểu vẻ đẹp của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống.
Tôi gọi Người là Mẹ.
Nói về mẹ chúng ta lại thèm lắm được nằm gọn trong vòng tay mẹ, được mẹ ôm ấp, vỗ về , nâng niu . . . Chúng ta lại thèm nghe tiếng mẹ hát ru con giữa trưa hè một tay đong đưa võng một tay mẹ quạt cho con. Chúng ta lại thèm những lần hò reo vui mừng khi mẹ đi chợ về hay đi xa trở về đều cồng kềnh bánh trái cho con.
Thế nên, người ấy chỉ có một là mẹ và chỉ có một lối về cho những đứa con là mẹ, hay quê mẹ mà thôi. Bởi vì, ai cũng nhận ra rằng:
“Về bên Mẹ con thấy thật bình yên
Chẳng lo lắng. Chẳng muộn phiền gì cả
Rúc đầu vào vai con được cười ha hả
Bóng Mẹ già như che cả đời con…”
Và khi cuộc đời cứ dồn dập những sóng gió , những bất an thì con lại mong được về bên mẹ để tìm sự bình an.
Sau mệt mỏi con lại về với mẹ
Gục vào lòng như thể lúc còn thơ
Bởi nơi đây mãi mãi là điểm chờ
Ru con ngủ trong vành nôi ấm áp.
Tháng 10, tháng kính Mẹ Mân Côi, Giáo hội như muốn nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện của Mẹ Maria luôn đứng bên cuộc đời chúng ta khi chúng ta gặp thử thách, khi chúng ta gặp đau thương, khi đau khổ , phiền muộn Mẹ luôn ân cần ủi an chúng ta. Lịch sử đã chứng minh nhiều lần nhờ sự can thiệp của Mẹ Maria mà con cái Mẹ được bình an, được khỏe mạnh. Trong thế chiến thứ nhất, Mẹ đã hiện ra tại Fatima để nói lên nỗi đồng cảm của Mẹ với những đau khổ mà con cái Mẹ trải qua trong cuộc chiến. Ở Việt Nam chúng ta thời cấm đạo của các Triều Trịnh – Nguyễn, Mẹ đã bao bọc con cái Mẹ tại linh địa La Vang. Và thời Văn Thân, Mẹ Maria đã hiện ra tại Trà Kiệu. Sự hiện diện của Mẹ luôn mang lại bình yên ấm áp cho con cái của Mẹ.
Trong tháng Mân –côi Giáo hội mời gọi chúng ta hãy siêng năng lần hạt Mân Côi không chỉ là cách thức chúng ta bày tỏ lòng yêu mến Mẹ mà còn qua Mẹ ta tìm được bình yên, và nhận được sức mạnh thiêng liêng để chiến thắng ba thù và đạt được hạnh phúc thiên đàng. Họa sĩ Michelangelo đã thể hiện sức mạnh của kinh Mân Côi qua bức bích họa ”Ngày phán xét” trong nhà nguyện Sistina ở nội thành Vatincan. Trong bức bích họa này, bên phải Chúa Giêsu là Thẩm Phán uy nghiêm kinh khủng, trong số các linh hồn diễm phúc đang lên Trời và được biến hình vinh quang sáng láng có các linh hồn được kéo lên cao nhờ bám chặt vào một Tràng Chuỗi Mân Côi. Và giấc mơ của thánh Gioan Đon Bosco còn cho ta thấy tràng chuỗi Mân Côi như là sợi dây cứu độ dành cho chúng ta. Trong giấc mơ thánh nhân trông thấy một con rắn độc lớn đang xông lên, nhưng bị một nút thắt di động của một sợi dây to thắt vào đầu khiến cho nó bị chết. Rồi cái dây được đem để vào trong một hộc. Khi mở hộc ra, người ta thấy nó được xếp thành hai chữ Ave Maria – Kính Mừng Maria.
Thánh Gioan Bosco giải thích: con rắn diễn tả qủy dữ, nút thòng lọng là Kinh Kính Mừng Maria, cái dây là Tràng Hạt Mân Côi là một chuỗi các Kinh Kính Mừng, với nó có thể tranh đấu, chiến thắng, phá hủy tất cả mọi qủy dữ của hỏa ngục.
Sức mạnh của kinh Mân Côi đã được chứng minh qua biến cố chiến thắng vịnh Lêpantê năm 1571. Cụ thể vào ngày 7-10-1571, vua Hồi Giáo mang đại quân hướng về La Mã và thề hứa sẽ giày nát đền thờ Thánh Phêrô. Đạo binh Công giáo đã ra nghênh chiến trong khi ở hậu phương giáo dân lần chuỗi Mân Côi cầu xin với Đức Mẹ. Người Công giáo đã chiến thắng tại vịnh Lepant, chặn được sức tiến vũ bão của Hồi giáo. Để ghi ơn Đức Mẹ, Đức Giáo Hoàng Piô V đã thiết lập lễ kính Đức Mẹ Mân Côi.
Ước mong mỗi người chúng ta hãy tin tưởng phó thác nơi Mẹ. Mẹ sẽ làm mọi sự cho con cái miễn là chúng ta hãy biết lắng nghe và sống lời Mẹ dạy qua việc siêng năng đọc kinh Mân Côi. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

CHÚA NHẬT LỄ MẸ MÂN CÔI

Khi nhìn ngắm các tượng ảnh Đức Mẹ, ta dễ có cảm tưởng rằng Đức Mẹ đã sống một đời bình an thư thái. Vì các nghệ nhân thường tạo ra những hình ảnh về Đức Mẹ đẹp đẽ, hiền từ, dường như siêu thoát mọi cảnh khổ đau ở trần gian. Khi ngợi ca Đức Mẹ là tuyệt mỹ, đầy ơn phúc, vô nhiễm nguyên tội, ta thường nghĩ rằng: Đức Mẹ đã được tạo dựng đặc biệt, hoàn hảo ngay từ đầu, thánh thiện từ khi sinh ra và mãi mãi là như thế, không tiến, không lùi, đẹp như một pho tượng đúc sẵn.
Nhưng nếu đọc Phúc Âm kỹ lưỡng, ta sẽ thấy hành trình đức tin của Mẹ không phải luôn luôn bằng phẳng, êm xuôi, dễ dàng. Vì yêu thương, Thiên Chúa đã thanh luyện Mẹ, uốn nắn Mẹ. Và vì thế đã để Mẹ trải qua những kinh nghiệm đớn đau khi tin nhận và bước theo Chúa.
Cuộc thanh luyện thứ nhất: Thiên Chúa mời gọi Mẹ bỏ chương trình riêng để sống theo chương trình của Thiên Chúa. Maria, một thôn nữ bình dị sống thầm lặng trong một làng quê nhỏ bé. Cô muốn cuộc đời mãi mãi bình thản êm xuôi như thế. Nhưng Thiên Chúa đã đến khuấy động đời cô. Khi đề nghị Maria làm mẹ, Thiên Chúa đã mở ra trước mặt cô một lý tưởng cao đẹp, nhưng cũng đầy gian khổ chông gai. Maria đã ngoan ngoãn thưa “Xin vâng”. Lời thưa ‘xin vâng’ của Maria làm ta nhớ đến tổ phụ Abraham. Như Abraham đã từ bỏ quê hương, gia đình đi vào một tương lai bấp bênh theo tiếng Chúa mời gọi, Maria cũng đã từ bỏ chương trình riêng trong nếp sống bình dị, để đi vào chương trình của Thiên Chúa trong một tương lai bất ổn, hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa.
Cuộc thanh luyện thứ hai: Thiên Chúa gửi đến cho Đức Mẹ nhiều đau khổ. Vì nhận lời làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria phải gánh chịu nhiều đau khổ.
Đau khổ thứ nhất là bị Giuse nghi ngờ. Làm sao giải thích cho Giuse hiểu. Làm sao tránh được búa rìu dư luận. Không những bị nghi ngờ, mà còn nguy hiểm đến tính mạng nữa. Thời ấy, những cô gái chửa hoang sẽ bị ném đá cho đến chết. Nhưng vững tin vào Thiên Chúa, Đức Maria đã để mặc Thiên Chúa lo liệu dàn xếp mọi chuyện. Ngài chỉ biết cúi đầu, thinh lặng vâng phục và phó thác.
Đau khổ thứ hai là Đức Maria đã sinh hạ Chúa Giêsu trong cảnh cơ bần: không nhà cửa, không giường chiếu, không mùng mền. Thiếu thốn mọi phương tiện. Chung số phận với súc vật.
Đau khổ thứ ba là bị vua Hêrôđê tìm giết nên phải trốn sang Ai Cập. Con trẻ sơ sinh yếu ớt. Sản phụ chưa được nghỉ ngơi lại sức đã phải đi lên đường trốn chạy. Tuy nhiên, nỗi cực nhọc phần xác không sánh được với nỗi đau đớn trong tâm hồn: Tại sao lại mang lấy thân phận tội đồ? Tại sao lại bị người đời thù ghét, săn đuổi?
Đối diện với những đau đớn ấy, chắc chắn niềm tin của Đức Maria phải lung lay, nghi hoặc: Con Thiên Chúa mà phải chịu nghèo khổ, khốn cùng đến thế sao? Tuy có chao đảo, nhưng Đức Maria vẫn phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa.
Cuộc thanh luyện thứ ba: Đức Maria bị dứt lìa khỏi Chúa Giêsu. Niềm vui và hạnh phúc của người mẹ là đứa con, nhất là con một. Con là tất cả của mẹ. Con quý giá hơn chính mạng sống của mẹ. Tách con ra khỏi mẹ khác nào lấy gươm đâm vào tim mẹ. Thế mà Chúa Giêsu đã tách lìa Đức Maria rất sớm. Phúc Âm ghi lại hai lần Chúa Giêsu từ chối Đức Mẹ.
Lần thứ nhất: Khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi, cả nhà đi lên Giêrusalem dự lễ. Tan lễ, Chúa Giêsu đã tự tiện ở lại, để thánh Giuse và Đức Maria đi tìm mất ba ngày. Trong ba ngày đó, Đức Maria đã trải qua biết bao lo âu, sợ hãi, đau đớn, cực nhọc. Vậy mà khi gặp cha mẹ, Chúa Giêsu đã nói: “Cha mẹ tìm con làm gì. Cha mẹ không biết con phải lo việc cho Cha con ư?”. Lời này khiến cho Đức Maria buồn phiền không ít vì thấy đứa con từ nay thoát khỏi vòng tay của Mẹ.
Lần thứ hai: Khi Chúa Giêsu đi rao giảng, Đức Maria và mấy người bà con đến tìm Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu không ra tiếp, lại còn nói những lời như chối từ liên hệ huyết thống:
“Kẻ nghe lời Cha ta và thực hành, người ấy là anh chị em và là Mẹ ta”.
Những lời nói và thái độ của Chúa Giêsu như thế chắc chắn khiến cho Đức Maria buồn phiền. Nhưng những lời nói và thái độ ấy cũng giúp thanh luyện Đức Maria khỏi những tình cảm riêng tư, những liên hệ sinh học tự nhiên để bước vào tình yêu rộng lớn của Thiên Chúa và tạo lập những dây liên hệ siêu nhiên với Ngài.
Cuộc thanh luyện cuối cùng: Đức Maria phải chứng kiến cái chết nhục nhã của Chúa Giêsu trên thập giá. Còn gì buồn hơn khi mẹ mất con. Còn gì đau đớn hơn khi mẹ thấy con chết đau đớn, tủi nhục giữa tuổi thanh xuân. Ở đây ta cũng nhớ lại tổ phụ Abraham. Để thử thách ông, Thiên Chúa đã truyền cho ông sát tế Isaác, đứa con trai duy nhất. Đức Maria cũng được mời gọi hy sinh người con duy nhất của mình. Đau đớn hơn tổ phụ Abraham vì Đức Maria phải chứng kiến hy lễ đó hoàn tất. Khi mọi người trốn chạy, chối bỏ Chúa Giêsu, Đức Maria vẫn ở lại dưới chân cây thập giá đau nỗi đau của Chúa Giêsu, nhục nỗi nhục của Chúa Giêsu. Và khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng thì Đức Maria như bị mất tất cả, bị tước đoạt tất cả những gì yêu quý nhất. Đứng dưới chân thánh giá, Đức Maria trở nên một người nghèo nhất. Mẹ chẳng còn gì cho riêng mình. Chẳng còn điểm tựa nào để bám víu, Mẹ chỉ còn biết phó thác trông cậy vào Thiên Chúa.
Như vậy Thiên Chúa đã dẫn đưa Đức Maria từ bỏ chương trình riêng tư, từ bỏ chính mình, từ bỏ những gì thân thiết nhất của mình, để đi vào chương trình của Thiên Chúa, để trọn vẹn phó thác cho Thiên Chúa.
Ngày nay khi lần chuỗi Mân Côi là ta ôn lại hành trình đức tin của Mẹ. Hành trình đầy thử thách gian khổ nhưng cũng đầy chiến thắng vinh quang.
Xưa kia lễ Mân Côi được mừng để kỷ niệm cuộc thắng trận ở Lepante. Ngày nay, khi mừng lễ Mân Côi ta mừng Đức Mẹ Maria đã chiến thắng chính bản thân, đã vượt qua hết những thử thách và đạt tới đích điểm của hành trình đức tin.
Lạy Mẹ Maria, xin cho con biết noi gương Mẹ, biết từ bỏ ý riêng mình để thực hiện ý Thiên Chúa. Xin giúp con can đảm vượt qua mọi thử thách và giữ vững niềm tin tưởng phó thác trong tay Chúa.

ĐGM Giuse Ngô Quang Kiệt