DẠI KHỜ

Đã “dại” lại còn “khờ”. Hai từ này đi với nhau dường như để tô đậm thêm và bổ túc cho nhau ý nghĩa của mỗi từ thì phải. “Dại” là một kiểu “thiếu khôn ngoan”; một hành động được gọi là dại khi nó không hợp tình hợp lý, làm mà thiếu suy xét cẩn thận. “Khờ” là một thái độ chậm chạm, trí óc không hoạt động đủ nhanh và chuẩn xác để có thể giúp người ta ứng phó với một hoàn cảnh đầy thách đố nào đó. Cả hai đều nhắm đến một tình trạng thiếu sáng suốt, vắng bóng của trí khôn, hành động không theo lẽ thường mà người ta cho là phải làm. Người dại khờ thường là người nhận lấy những điều không hay từ những quyết định và hành vi dại khờ của mình. Người đó sẽ chịu khổ, sẽ thiệt thân, sẽ bị thiệt thòi, bị mất mát… Bởi thế, cứ theo bản tính tự nhiên, chẳng ai muốn mình trở thành kẻ dại khờ. Ấy vậy mà, có lắm lúc, ta dường như chẳng thể thắng nổi mình. Vì một cái gì đó, hay vì một người nào đó, trí óc của ta chẳng thể hoạt động tốt như nó đã từng, phán đoán của ta trở nên có chút vấn đề và hành động của ta cũng từ đó mà trở nên dại khờ không thể tả.

Con tim tuy mềm mỏng và yếu đuối, nhưng khi đã đi vào tần số, nó trở nên mạnh mẽ đến nỗi lý trí có bản lĩnh mấy cũng không thể kiềm chế nó được. Có nhiều khi ta biết điều gì đó là sai, nhưng vẫn cứ cắm cổ nhào vào. Có nhiều khi ta chắc chắn rằng đi theo con đường đó là sẽ chết, nhưng chẳng hiểu sao có lực hút nào đó cứ cuốn mình vô. Ta thấy mình hệt như con thiêu thân nhỏ bé mong manh, từ xa nhìn đóm lửa sáng bừng bừng đẹp mắt, lao đầu vô sẽ tiêu tan, nhưng lại vẫn cứ bay vào để rồi rơi rụng xuống. Vì sao thế? Chẳng ai biết, chẳng ai tìm được lý do; nếu có tìm được, chắc cũng khó mà vạch ra được giải pháp; có giải pháp rồi, chưa chắc ta lại chịu làm theo. “Dại khờ” mà, vốn dĩ nó chẳng tuân theo mệnh lệnh của lý trí, có bảo gì nó cũng chẳng nghe. Có kiểu dại khờ vì bệnh lý. Có kiểu dại khờ vì trách nhiệm hay bản năng. Nhưng cũng có kiểu dại khờ do tiếng gào thét của con tim vào một khoảnh khắc bất chợt nào đó gây ra!

Con người ta sinh ra là để hưởng hạnh phúc. Con người nào cũng được phú bẩm cho một thiên hướng tìm về hạnh phúc. Chẳng ai bình thường mà lại tìm kiếm sự đau khổ để đoạ đày bản thân. “Dại khờ” là khi người ta biết rằng làm như thế sẽ chẳng có sung sướng gì đâu, nhưng người ta vẫn cứ làm. Bất chấp mọi ánh nhìn chê cười hay phán xét của thiên hạ, người ta tự tìm thấy trong những gì mình làm một kiểu hạnh phúc hay một loại an ủi nào đó, đủ để giúp họ không cảm thấy đau khổ dày vò. Người sống trong sự dại khờ của con tim là người bị dằn co giữa một mâu thuẫn lớn: đó là khi yêu thương không được trọn vẹn, hay khi đang cố gắng níu kéo những gì không có trong tầm tay, cũng có khi họ tự thấy bản thân mình thật yếu đuối trước sức cuốn hút của một bóng hình nào đó cứ thấp thoáng hiện đến hiện về trong tim, muốn xoá đi mà chẳng thể xoá được, muốn quên đi mà cứ như hằn sâu thêm nữa. Họ nuôi một niềm hy vọng mong manh về một tương lai đầy vần mây u ám. Họ muốn tìm một hạnh phúc, nhưng lại tìm nó trong nỗi chơi vơi bất định của một cõi mông lung xa mờ.

Ta yêu một ai đó, yêu đến điên cuồng, yêu đến quên cả trời trăng. Nhưng trớ trêu thay, ta cũng biết chắc rằng người đó chỉ xem ta là một người bạn, hay tệ hơn, chỉ là một người quen. Người ấy có thể đã trao trọn con tim cho người khác hoặc đã thuộc về người khác rồi. Ta chỉ là người thừa, người đến sau, người không có chỗ. Ta đừng bên ngoài thế giới của người đó, chỉ có thể ngưỡng vọng từ xa, chứ không thể bước vào. Đau đớn như muốn xé nát con tim. Lý trí bảo ta hãy cố gắng quên người đó đi, vì có cố tiến tới cũng chẳng được gì, không có tương lai tốt đẹp, càng lún sâu vào sẽ càng giãy chết. Lý trí khuyên ta đừng tiếp xúc nhiều với người đó, đừng để những hình ảnh quyến rũ, nét mặt dễ thương, nụ cười duyên dáng, cử chỉ trìu mến của người đó làm xao động con tim. Lý trí ra lệnh cho ta đừng hy sinh cho người ấy nữa, đừng nhớ đừng khóc vì người đó nữa… Nhưng ta có chịu nghe đâu!

Ta vẫn khờ dại nuôi dưỡng tình yêu ấy trong lòng, càng muốn quên lại càng nhớ nhiều hơn. Ta vẫn như chiếc bóng nhìn người ấy đàng xa. Hạnh phúc khi người ấy hạnh phúc, buồn khi người đó buồn. Một cách âm thầm, ta theo dõi từng động tác cử chỉ của người đó, để kịp đỡ người đó dậy khi người đó ngã, để kịp đưa đôi tay lau khô dòng nước mắt khi người đó khóc, để kịp trở thành đôi bờ vai cho người đó gục vào… Ta tình nguyện làm tất cả những điều đó chỉ vì yêu, trong đầu chẳng có chút tính toán gì cho bản thân. Con tim ngày càng héo úa, nhưng vẫn cứ dặn lòng rằng hạnh phúc của mình chính là hạnh phúc của người ấy chứ đâu. Mặc cho người ấy có biết hay không, có chấp nhận cho ta một cơ hội hay không, ta vẫn cứ vùi đầu vào một kiểu dại khờ như thế. Có một sự xung đột nào đó trong lòng: muốn quên đi nhưng chẳng nỡ; vừa muốn buông, vừa muốn giữ; vừa muốn quay lưng, vừa muốn ngoái lại dò tìm.

Ừ thì cứ dại khờ đi! Chẳng ai cấm mình không được dại khờ vì yêu, vì dù có cấm cũng chẳng cấm được. Nhưng đừng đồng hoá dại khờ với mù quáng, đừng hành động “dại khờ” theo kiểu của người ngu muội, đánh mất trí khôn và sự phán đoán. Hãy cứ hy sinh cho người mình yêu như con tim thúc đẩy, nhưng phải biết giới hạn của nó, biết đâu là điểm dừng, biết ranh giới phải dừng lại. Cũng đừng bao giờ quên rằng ta cần phải sống cho chính mình nữa. Đừng cho rằng mình dại khờ như vậy là cao thượng, là tuyệt vời khi nó làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và của người khác. Ta có thể nói rằng: hãy khôn ngoan trong sự dại khờ của mình, hãy dại khờ một cách có suy nghĩ. Chỉ có những ai có bản lĩnh thật cao mới có thể làm được như thế. Quả vậy, biết cách dại khờ không làm cho người ta dại và khờ, nhưng là dấu chỉ một kiểu khôn ngoan thượng đẳng.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ


CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN-A

Lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay nếu chỉ nghe thoáng qua, chúng ta dễ có cảm tưởng là Chúa phế bỏ mọi giá trị đã làm nên con người tại thế. Thực vậy, ai trong chúng ta cũng chỉ có thể xác định được chính mình khi quy chiếu với những tương quan thiết thân nhất: tương quan với cha mẹ, tương quan với con cái, tương quan với chính bản thân. Một khi tước bỏ hết những tương quan ấy, chúng ta còn là gì? Thực ra Lời Chúa không nhằm phế bỏ, nhưng là đặt mỗi tương quan vào đúng trật tự của nó.
Trong thực tế cuộc sống nhân sinh, tùy theo mỗi thời đại, mỗi nền văn hóa, mỗi thể chế, những tương quan này đã chịu biết bao thay đỗi. Trong bối cảnh văn hóa Á Đông xưa, người cha vẫn được nhìn nhận như là thay Trời, nắm toàn quyền trong gia đình, thậm chí có toàn quyền trên sự sống, sự chết của người con. Chúng ta cũng từng nghe câu chuyện Abraham sát tế con mình là Isaac. Một cái quyền mà ngày hôm nay hầu như mọi pháp luật đã đều bác bỏ. Đạo Hiếu là đạo khẳng định nhân tính con người. Kẻ bất hiếu vô đạo không được một nền văn hóa nào chấp nhận, và nó bị loại trừ khỏi cõi nhân sinh. Thế nhưng đạo hiếu cũng không thể miễn trừ cho con người phải coi xã tắc là trọng, phải coi đạo Trời là lớn, từ đó con người nhiều khi phải vị nghĩa diệt thân. Trong chừng mực nào đó, những quan niệm như vậy, tuy từng khống trị suy nghĩ và lối sống bao thời đại, nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực nhằm thiết lập trật tự xã hội, gia đình và an sinh của mỗi con người. Và cũng chịu nhiều biến động, khủng hoảng, kéo theo biến động và khủng hoảng toàn xã hội. Ngày nay, với tuyên ngôn nhân quyền, với những thể chế dân chủ, một lần nữa những tương quan thiết thân ấy đã có những thay đổi tận căn: trong đăng ký kết hôn, ngày nay không thấy nói tới cha mẹ đôi bạn; trong giáo dục gia đình, cha mẹ không có quyền đánh con... quyền cá nhân trở thành trung tâm của mọi quyền lợi và nghĩa vụ.
Thực tế ấy, cho thấy những tương quan căn bản làm nên cuộc sống con người luôn luôn phải tự điều chỉnh. Và Lời Đức Giêsu phải được hiểu trong nỗ lực đem lại điểm quy chiếu chân thật nhất cho cuộc sống.
Trước khi nói tới chữ "Từ Bỏ", chúng ta cần phải nhắm thẳng tới đích điểm mà Chúa nêu lên như là đối tượng của hành vi "Từ Bỏ" này: "mà theo Thầy". "Theo Thầy" là đi trên con đường đồng hành với Thiên Chúa để "Yêu Thương", "Hiến dâng mạng sống vì anh em","Rửa chân cho nhau", "đón tiếp anh em", để "cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy"... "Từ Bỏ" là để có "Tình yêu" lớn hơn, "Tình Yêu" của chính Thiên Chúa "Đấng Sáng Tạo", và đấy là trở về với Tình Yêu mà con người đã được tạo dựng, đước trao ban, để là "Hình Ảnh" của Thiên Chúa. Tình Yêu "mà bởi đó người nam đã bỏ cha mẹ mình, để kết hợp với người nữ...". Thánh Phaolô đã nói về tình yêu ấy nơi người Kitô hữu như thế này "chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người." Đi theo Đức Giêsu, tuy là phải bỏ nhưng là để nhận lãnh gấp trăm "Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp." Đó là quy luật của Tình Yêu "Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối rữa đi, nó chẳng sinh bông trái..." Người môn đệ sẽ đón nhận mọi tương quan thân thiết nhất của mình trong Đức Giêsu. Bài học này đã trở nên hiện thực dưới chân Thánh Giá: vào lúc đó cả người mẹ, lẫn người môn đệ đã nghe lời gọi "Người ấy là con bà" và "Người ấy là Mẹ con". Và chúng ta đã thấy ở đó Đức Giêsu đã đổi mới mọi tương quan, làm cho nó mang chiều kích siêu việt của Tình Yêu Thiên Chúa, trở nên nguồn sự sống và hạnh phúc thật cho nhân loại.
Quả thật, có thể con người vẫn cố chấp trong nỗi hoài nghi đối với Tình Yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Câu chuyện người đàn bà giàu có Sunêm chỉ là trong muôn một. Nhưng Lời Chúa đã nên hiện thực nhờ niềm tin của Êlisa, và Lời Chúa cũng đã nên hiện thực nhờ niềm tin của Đức Maria, của mọi thế hệ môn đệ trong lòng Hội Thánh, mà gần đây nhất trong lòng tin của Cha Thánh Pio, con người tuy giam hãm mình trong 4 bức tường khổ tu, lại làm nên chung quanh mình một đại gia đình thân yêu, mà hằng triệu triệu con tim đã say mến đến với Ngài.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

BỔN MẠNG THÁNG 7

THÁNG 7

NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
06.07                            
Lễ thánh Maria Goretti.
*Chị Hải
11.07
Lễ thánh Bênêđictô
* Chị Hường
18.07
Lễ thánh Consolata Betrone.
* Chị Nhàn
22.07 
Lễ thánh Maria Madalêna
* Chị Nhơn
23.07
Lễ thánh Brigitte
* Chị Trâm
24.07 
Lễ thánh Christina.
* Chị Lộc
26.07

Lễ thánh Gioakim và Anna.
*Chị Ngân.
* RT: chị Diễm Lan, Chị Thật, 
Chị Xuyên, Chị Lộc, Chị Bích Phượng
29.07

Lễ thánh Matta.
*RT: Chị Hiên, Chị Hoa, 
Chị Hà, Chị Thìn, C.Dung (TS), C. Thu
31.07
Lễ Thánh Ignace de Loyola
* Chị Loan

*Ghi ch:    Từ ngày 30/07 đến ngày 07/08, xin Chị em làm tuần Cửu Nhật kính Thánh Đaminh- Tổ phụ Dòng

Lễ giỗ cha mẹ chị em
TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

NGÀY
LỄ GIỖ
09.07
Chị Marie Bernadette Nguyễn Thị Việt

27.07

Ông cố Phêrô - Thân phụ Chị Khiêm




“LIKE” CÀNG NHIỀU CÀNG TỆ CHO SỨC KHỎE?

TTO - Ngày càng có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng lạm dụng mạng xã hội sẽ không tốt cho sức khỏe, và cái chúng ta thiếu chính là những tương tác thật ngoài đời.

Facebook hiện là mạng xã hội lớn nhất hành tinh với gần 2 tỉ người dùng thường xuyên. Tin tức, các câu chuyện phiếm, hình ảnh động vật, những cơ hội lung linh... thu hút nhiều người theo dõi ngày đêm. Nhưng điều đó có tốt không?

Một nghiên cứu chuyên sâu công bố mới đây trên tạp chí Dịch Tễ Học Hoa Kỳ cho rằng câu trả lời là “không”. Các nhà khoa học phát hiện những ai xài Facebook càng nhiều, họ càng ít khỏe mạnh và ít hài lòng với cuộc sống. Nói thẳng ra thì: bấm chuột vào nút “Like” càng nhiều, cảm giác của bạn càng tệ.

Cảnh báo

Hai tác giả của nghiên cứu là bà Holly Shakya, giáo sư chuyên ngành sức khỏe cộng đồng thuộc Đại học California (San Diego) và ông Nicholas Christakis, giám đốc phòng nghiên cứu bản chất con người thuộc Đại học Yale.

Về cách thức tiến hành, các nhà khoa học theo dõi sức khỏe tinh thần, đời sống xã hội và thói quen dùng Facebook của 5.200 người trưởng thành tại Mỹ trong hơn hai năm.

Trong giai đoạn 2013 - 2015, những người tình nguyện đồng ý tham gia các cuộc khảo sát được Hãng thăm dò Gallup thực hiện. Kết quả này sau đó được chia sẻ với các nhà nghiên cứu, để họ ghi nhận những thay đổi về cảm xúc và hành vi của các người dùng.

Về thói quen dùng Facebook, dữ liệu ghi lại rất cụ thể: nhóm tình nguyện sử dụng nút “Like” bao nhiêu lần, bấm vào bài viết của bạn bè có thường xuyên không hay bao lâu thì họ thay đổi dòng trạng thái (status).

Song song đó, các nhà nghiên cứu hỏi các tình nguyện viên về đời sống xã hội: họ có hay tụ tập với bạn bè, đồng nghiệp ở ngoài không, cảm giác gần gũi ra sao... Ngoài ra còn một loạt câu hỏi khác để kiểm tra mức độ hài lòng với cuộc sống, sức khỏe tinh thần và cả cân nặng.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy thói quen sử dụng Facebook bị cho là gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất, tinh thần và giao tiếp của con người.

Chẳng hạn, cứ mỗi sự gia tăng (trên trung bình) trong các hoạt động trên mạng xã hội (“Like” bài viết, thay đổi trạng thái, đọc các đường link...), nguy cơ một người trải qua các vấn đề về sức khỏe tinh thần sau đó tăng thêm 5-8%.

Con người cần tình bạn thật sự

Phản hồi trước kết quả nghiên cứu, Facebook dẫn một kết luận khác của giáo sư Robert Kraut (Đại học Carnegie Mellon, Pennsylvania) và một chuyên gia của họ: “Tác động của Internet đối với sức khỏe con người phụ thuộc vào cách họ sử dụng nó”.

Tuy thừa nhận rất khó để đo lường hiệu ứng cảm xúc trong thế giới ảo, nhóm này cho rằng những ai nhận được nhiều bình luận từ bạn bè trên Facebook sẽ có mức độ hài lòng cuộc sống, tâm trạng tốt... tăng 1-3%.

Trong nghiên cứu của mình, giáo sư Shakya và Christakis tìm thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa các cuộc gặp gỡ, nói chuyện trực tiếp ngoài đời thật với sự cải thiện về sức khỏe thể chất và tinh thần - một phát hiện tái khẳng định các kết quả nghiên cứu trước đây.

Công trình của Shakya và Christakis nổi bật ở chỗ họ có quyền truy cập dữ liệu Facebook của nhóm tình nguyện suốt hơn hai năm, qua đó theo dõi được những chuyển biến trong cuộc sống thật song song với các hoạt động trong thế giới ảo.
Có một điều rõ ràng là kết quả nghiên cứu này sẽ còn gây nhiều tranh cãi. Có thể mượn lời ông Christakis để kết luận: “Thay thế tương tác giữa người với người bằng giao tiếp qua mạng có thể đe dọa đến sức khỏe tinh thần của bạn. Cái con người ta cần là tình bạn thật sự và sự tương tác thật ngoài đời”.

Facebook có lý do chính đáng để tự bào chữa, tuy nhiên trong hai tháng gần đây, có ít nhất hai nghiên cứu khác vạch ra tác động tiêu cực của truyền thông xã hội đối với thanh thiếu niên và người trưởng thành.

Một nghiên cứu trên 1.780 người Mỹ phát hiện truyền thông xã hội làm gia tăng cảm giác bị cô lập; một nghiên cứu khác trên 1.500 người Anh chỉ ra các trang web - đặc biệt là web hình ảnh - làm trầm trọng hơn cảm giác lo lắng và thiếu thốn.

PHÚC LONG(tuoitreonline)


SỨC MẠNH CỦA SỰ SỢ HÃI

Sợ hãi là nhịp tim của sự bất lực.  Đây là lời của Cor de Jonghe.  Đúng là thế.  Chúng ta có thể giải quyết hầu như mọi chuyện, ngoại trừ nỗi sợ.
Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerkehove, trong quyển Vị của Thinh lặng, đã chia sẻ rất chân thành về những con quái vật quấy rối cô lúc cô mắc một chứng bệnh nan y ở tuổi 19.  Cô đưa ra ba con quái vật đã giày vò mình khi cô đối diện với cái chết, buồn sầu, giận dữ, và sợ hãi. Và cô cho rằng chúng ta có thể dễ dàng đối diện với hai con quái vật buồn sầu và giận dữ, hơn là con thứ ba, con sợ hãi.  Và đây là suy nghĩ của cô:
Buồn sầu có thể giải quyết bằng những giọt nước mắt, bằng u phiền.  Buồn sầu có thể đổ đầy chúng ta như một cốc nước, nhưng cái cốc đó có thể đổ hết đi. Nước mắt có thể xói mòn sự cay đắng của buồn sầu.  Chắc chắn, chúng ta đã từng cảm nghiệm được sự giải thoát, sự xoa dịu nhờ những giọt nước mắt. Nước mắt có thể làm mềm đi trái tim và tẩy đi chua cay của buồn sầu, cho dù sự nặng nề vẫn còn đó. Buồn sầu dù có nặng nề đến đâu, vẫn có một cái van để xả ra.  Giận dữ cũng thế.  Giận dữ có thể được bộc lộ và những bộc phát này giúp giải phóng giận dữ để nó không cuồng phá chúng ta.  Chắc chắn, chúng ta cũng từng trải qua chuyện này rồi. Tất nhiên, là khi giải phóng cơn giận, chúng ta cần cẩn trọng đừng để làm tổn thương người khác, và đây là mối nguy luôn tồn tại khi xử lý cơn giận dữ.  Với giận dữ, chúng ta có nhiều cách: Có thể hét lên, đánh trống, đấm đạp, cuồng ngôn, vận động cơ thể đến khi mệt lử, đập đồ đạc, thốt ra những lời đe dọa, và xả thịnh nộ vào đủ thứ có thể.  Những chuyện này không hẳn là có lý có lẽ, và nhiều thứ cũng bất bình thường, nhưng chúng cho chúng ta một lối thoát. Chúng ta có các công cụ để giải quyết giận dữ.
Nhưng sợ hãi, thì không có một cái van nào để xả.  Thường thì chúng ta không có cách nào để làm giảm bớt hay bỏ đi nỗi sợ hãi.  Nỗi sợ làm tê liệt chúng ta, và sự tê liệt này cướp đi sức mạnh chúng ta cần có để đương đầu với nó.  Chúng ta có thể đánh trống, cuồng ngôn, khóc lóc, nhưng nỗi sợ vẫn còn. Hơn nữa, không như giận dữ, nỗi sợ không thể trút lên một sự vật hay một con người khác, dù cho chúng ta có cố đến đâu chăng nữa.  Đến tận cùng, chẳng có cách nào. Cái mà chúng ta sợ, không biến mất theo ý muốn của chúng ta. Chỉ có thể chịu đựng nỗi sợ hãi. Chúng ta phải sống với nỗi sợ cho đến khi nó tự tan biến dần. Có khi, như trong sách Ai Ca, tất cả những gì chúng ta có thể làm, là vùi miệng trong đất cát và chờ đợi. Với nỗi sợ, có lúc tất cả những gì chúng ta có thể làm là chịu đựng.

Chúng ta có học được bài học nào qua điều này?
Nhà thơ người Nga, Anna Akhmatova, đã kể lại lần bà gặp một bà, khi cả hai chờ bên ngoài nhà tù. Chồng của hai người đều đang bị tù dưới chế độ Stalin, và cả hai đều đến để đưa thư và các gói đồ cho chồng mình, giống như nhiều phụ nữ khác.  Nhưng khung cảnh khá là vô lý.  Tình thế lúc đó thật kỳ quái.  Trước hết, các bà không chắc chồng mình có còn sống hay không, và nếu còn sống, thì cũng chẳng biết là các lá thư và gói đồ của mình có được lính gác gởi đến được tay chồng mình hay không.  Hơn nữa, lính gác, chẳng vì lý do cả, lại bắt họ phải đợi hàng giờ dưới tuyết lạnh trước khi đến lấy thư và các gói đồ, và có lúc lại còn chẳng thèm tiếp.  Vậy mà mỗi tuần, bất chấp sự vô lý này, các bà vẫn đến, vẫn chờ dưới tuyết, chấp nhận sự bất công này, chấp nhận trải qua thời gian chờ đằng đẵng, và cố gắng đưa các lá thư các gói đồ đến cho người thân yêu của mình.  Một sáng nọ, khi họ đang chờ đợi, mà chẳng biết phải chờ đến lúc nào, thì một bà nhận ra Akhmatova, và hỏi: “À, chị là nhà thơ.  Chị có thể cho em biết chuyện gì đang xảy ra ở đây không?” Akhmatova nhìn bà này và trả lời: “Vâng, em có thể!” Và rồi giữa hai người hé một nụ cười.
Tại sao lại cười?  Chỉ là vì, khi có thể định danh chuyện gì đó, thì cho dù có vô lý hay bất công, có bất lực để thay đổi nó, vẫn là chúng ta đang tự do, đang đứng trên nó, biến đổi nó theo cách nào đó.  Định danh điều gì đó cho đúng, phần nào giải thoát chúng ta khỏi sự thống trị của nó.  Đây là lý do vì sao các chế độ chuyên chế sợ hãi các nghệ sĩ, nhà văn, nhà phê bình tôn giáo, nhà báo, và ngôn sứ.  Họ định danh mọi sự.  Đây chính là chức năng tận cùng của ngôn sứ.  Các ngôn sứ không báo trước tương lai, nhưng là định danh hiện tại cho đúng.  Richard Rohr thích nói rằng: Không phải mọi sự đều có thể được sửa chữa và chữa lành, nhưng mọi sự cần được định danh cho đúng.  James Hillman thì có cách của mình để thể hiện điều này.  Ông đề xuất rằng một triệu chứng đau đớn nhất khi nó không biết mình thuộc về sự gì.
Và điều này có thể hữu ích cho chúng ta để giải quyết nỗi sợ hãi trong đời mình.  Nỗi sợ có thể khiến chúng ta vô lực.  Nhưng, định danh nó cho đúng, nhận ra triệu chứng này do đâu, và nhìn nhận sự bất lực của chúng ta trong hoàn cảnh đó, có thể giúp chúng ta sống với nỗi sợ đó, sống mà không buồn sầu hay giận dữ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI