ĐIỂM TỰA LÀ ... ĐÔI KHI!

Các bạn ạ, trong cuộc sống sẽ có lúc niềm tin điểm tựa có thể bị lung lay bị sụp đổ, nhưng đừng bao giờ để mình độc bước trên hành trình này, và đôi khi… điểm tựa thực sự cần:
Cần một điểm tựa để mỗi lúc tâm hồn ta trống rỗng, chênh vênh trên đường đời để ta tựa vào tìm về cho mình cảm giác của sự bình yên an toàn.
Cần một điểm tựa để cùng nhau đi qua những gió mưa giông bão của cuộc đời, để biết rằng mình không lẻ loi cô độc trên bước hành trình.
Cần một điểm tựa để cho ta niềm tin và sức mạnh, để biết rằng có một bờ vai 1 bàn tay luôn đưa ra và cùng ta đi qua trùng khơi cuộc đời.
Cần một điểm tựa để vượt qua những bon chen, nghiệt ngã, những xô bồ của cuộc sống ngày hôm nay.
Cần một điểm tựa để những đêm cô đơn cùng nhau thức trắng trò chuyện tâm sự quên đi những muộn phiền, ngủ quên trên sự đời nhiều nhọc nhằn lo toan ngoài kia
Điểm tựa đang ở đâu
Đôi khi! …ta không biết rằng, điểm tựa cho cuộc sống lại là những người ở gần ta, những người thân thương luôn bên ta, những người mang lại niềm vui, hạnh phúc nhỏ cho cuộc sống của mình.
Đôi khi!… ta mải miết đi tìm cho mình một điểm tựa mà vô tình lãng quên đi những con người luôn âm thầm dõi theo, những người bạn luôn bên cạnh mình, những bờ vai vô hình tốt nhất cho ta tựa vào.
Chẳng biết mai sau thế nào, nhưng bây giờ bạn chính là điểm tựa của tôi, tuổi trẻ của chúng ta ĐẸP hơn khi được cùng nhau đồng hành, tôi biết rằng, bạn vẫn đang mải miết đi tìm cho mình một điểm tựa, nhưng bạn ah, quay đầu lại đi: tôi vẫn đang chờ bạn đấy, điểm tựa của bạn không xa đâu nó ở ngay cạnh bạn, chỉ là bạn vô tình không nhận ra mà thôi.
Bạn có biết!
Cuộc sống vốn vội vã, và có những ngày tháng cứ chảy trôi đi như vậy, những con người vô tình chạm vào nhau và xa nhau, những mối quan hệ cũ, người quen – người lạ cũng chỉ là ranh giới nhạt nhoà. Những người đã từng thề hẹn, yêu quý trọn đời, đã từng ôm lấy nhau nghẹn ngào trong giờ phút chia xa cũng mất tích trong biển người mênh mông. Điểm tựa đó nó cũng nằm trong quy luật sinh-ly mà thôi.
Cái quan trọng là trong những giây phút hiện tại, trong số những người đang cùng bạn bước đi, bạn có tìm cho mình được một điểm tựa hay không mà thôi.
Thật ra đến một độ tuổi nào đó, một giai đoạn nào đó trong cuộc đời, chúng ta thèm một cảm giác bình yên để tựa vào, xua đi những mệt nhọc, những áp lực, khổ đau trong cuộc sống.
Và đôi lúc, chúng ta cũng hoài niệm, cũng thương nhớ về cái thời mơ mộng ngày xưa, nhưng thực tế, chẳng còn đủ mạnh mẽ, chẳng còn đủ can đảm, và cũng chẳng còn đủ chút điên khùng, chút phá cách, chút nổi loạn… để làm mới lại cuộc sống của ta hiện tại, rồi chúng ta hoài niệm những con người xưa cũ và tự hỏi, nếu ngày đó ta điên hơn một chút, ta nổi loạn hơn một chút hay ta tung hoành hơn một chút thì tốt biết mấy, nếu ngày xưa mình dành cho bạn ấy nhiều thời gian hơn, quan tâm nhau hơn thì bây giờ không phải tiếc nuối.
Cái gọi là hạnh phúc lâu bền chỉ là một đời yên ổn, lúc khó khăn có người đưa tay ra nắm lấy, lúc mệt mỏi có người để tựa vào, bình bình đạm đạm mà đi qua năm tháng dài rộng… và có lẽ những người bạn ở bên ta trong giây phút hiện tại này mới có thể đem lại cho ta một điểm tựa như vậy.
Những tháng ngày thanh xuân hoa niên đẹp nhất của cuộc đời, những con người chúng ta không sống vì nhau, sống cho nhau, không trân trọng quý giá những người bên mình, mãi cho đến sau này cũng sẽ chỉ là hoài niệm trong tiếc nuối mà thôi.
Và đôi khi điểm tựa cũng có thể là hạnh phúc, hãy trân trọng và níu giữ lấy nhé!
Q.Phong

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN C

Bước vào Chúa nhật XV thường niên C, mở đầu bài Tin Mừng với một thắc mắc do một nhà thông luật đặt ra cho Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?" (Lc 10,25). Biết ông ta là nhà thông luật nên Chúa Giêsu yêu cầu ông hãy tự tìm lời giải đáp. Ông đã tìm thầy và trình bày rất chính xác khi tóm lược hai giới răn chính: Mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn, và thương mến người anh em như chính mình". Để tự biện minh, ông hỏi thêm: "Ai là người anh em của tôi?" (Lc 10,29). Chúa Giêsu trả lời câu hỏi này bằng một dụ ngôn. "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô..." khi đọc lên mọi người biết ngay: đó là dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu!
Quan niệm của người Do thái về người thân cận
"Ai là anh em của tôi? " Trong Dothái Giáo thời bấy giờ có sự bàn cãi về ai sẽ được coi như người anh em của người Israel. Và theo họ, phạm trù "người anh em" bao gồm tất cả những người đồng quê với mình và những người Dân ngoại bí mật theo Do Thái giáo. Khi chọn những nhân vật (một người Samaritanô đến giúp đỡ một người Do thái!) Chúa Giêsu khẳng định rằng phạm trù người anh em là phổ quát, không phải riêng rẽ. Chân trời của nó là nhân loại chứ không phải gia đình, giới chủng tộc, hay tôn giáo. Người thù chúng ta cũng là một người anh em! Tin Mừng theo Thánh Gioan dẫn chứng những người Do thái trên thực tế không có tương quan tốt với những người Samaritanô (x. Ga 4,9).
Mọi người là anh em với nhau
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng tình yêu người thân cận không những phải phổ quát mà con phải cụ thể và tiên phong thực hiện. Người Samaritanô cư xử thế nào trong dụ ngôn? Nếu người Samaritanô chấp nhận nói với người vô phúc đang nằm đó trong vũng máu, Anh một linh hồn vô phúc! Sao xảy ra như vậy? Hãy vui lên! Hay một cái gì giống như vậy, rôi tiếp tục con đường của mình, thì tất cả những sự kiện đó không phải là mỉa mai và lăng mạ sao? Ngược lại ông đã làm một cái gì cho kẻ khác: "Ông ta lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: " Ông hãy săn sóc người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông. "
Điều mới lạ trong dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu không phải là Chúa Giêsu đòi hỏi một tình yêu cụ thể, phổ quát. Nhưng mới lạ ở tại một cái gì khác, Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI viết trong quyển sách của ngài (x Chương 7 sách "Chúa Giêsu thành Nazarét"). Cuối dụ ngôn Chúa Giêsu hỏi người tiến sĩ luật kẻ đã hỏi Người, "Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó [thầy Lêvi, thầy tư tế, người Samaritanô] là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?"
Chúa Giêsu đem đến một sự đảo ngược bất ngờ trong quan niệm truyền thống về người anh em. Người Samaritanô là anh em chứ không phải là người bị thương tích, như chúng ta vẫn quan niệm. Điều này có nghĩa là chúng ta không phải đợi cho tới khi người anh em chúng ta xuất hiện trên đường đi của chúng ta, có lẽ là quá thê thảm. Chúng ta phải sẵn sàng nhận ra họ, gặp họ. Tất cả chúng ta được kêu gọi nên người anh em! Vấn đề của người tiến sĩ luật bị đảo ngược. Từ một vấn đề trừu tượng và lý thuyết, trở thành một vấn đề cụ thể và sống động. Câu hỏi không phải là: "Ai là người anh em của tôi?" Nhưng "ở đây và bây giờ tôi có thể là anh em của ai?"
Tôi là anh em của ai?
Trong quyển sách của ngài Đức Giáo hoàng đề nghị một sự áp dụng đương thời dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu. Ngài thấy toàn thể lục địa Phi Châu được biểu trưng trong người bất hạnh bị ăn cướp, bị thương tích, và để nằm chết bên lề đường, và ngài thấy, những thành phần của những xứ giàu có bắc bán cầu, hai người đi ngang qua, nếu không phải chính xác là những tay cướp.
Chúng ta có thể đưa ra một đề nghị áp dụng khác về dụ ngôn. Giả thiết, nếu Chúa Giêsu đến với dân Israel hôm nay và một người thông luật lại hỏi Người, "Ai là người anh em của tôi?" Người sẽ thay đổi một chút bài dụ ngôn và thay vì người Samaritanô Người sẽ đặt một người Palestin! Nếu một người Palestin hỏi Người cũng một câu hỏi, thì trong chỗ người Samaritanô chúng ta sẽ gặp một người Israel!
Chúng ta không áp dụng cho châu Phi và Trung Đông nữa. Nếu có ai trong chúng ta đang ngồi đây hỏi Chúa Giêsu câu hỏi "Ai là người anh em của con? " Thì Người sẽ trả lời sao? Chắc chắn Người sẽ nhắc chúng ta rằng người anh em chúng ta không những là người đồng hương Việt Nam máu đỏ da vàng với chúng ta, nhưng cũng là những kẻ ngoài cộng đồng chúng ta, không những là những người Kitô hữu mà còn những người Phật Giáo, không những là những người Công Giáo mà cũng là những người Tin Lành, không những là người cùng tín ngưỡng mà cả những người Cộng sản vô thần nữa. Nhưng Người sẽ nói thêm liền là điều này không phải là quan trọng nhất. Điều quan trọng nhất không phải biết ai là người anh em của tôi nhưng là thấy ở đây và bây giờ tôi có thể là anh em của những ai, tôi có thể làm người Samaritanô nhân hậu cho ai.
Hôm nay, Chúa nói với chúng ta: "Hãy đi và làm y như vậy", làm như người Samaritanô đã làm. Tất cả chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ của người Samaritanô nhân hậu bên cạnh những người chúng ta gặp và chân thành giúp đỡ, băng bó các vết thương thể xác và tinh thần cho họ, những vết thương lòng, nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, cô đơn và chết chóc... Đừng ngồi đặt vấn đề: "Ai là anh em tôi?", nhưng hãy đi và tỏ ra "mình là anh em của mọi người". Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐÔI DÉP

Những người bạn của tôi, đôi dép hàng hiệu, đôi dép tình yêu, đôi dép thành công ... đã lần lượt được bán đi. Còn tôi đứng lại nơi cửa hàng khắc khoải chờ đợi một cuộc ra đi, mòn mỏi với ước mơ đời gọi tên mình.
Có lẽ, số phận tôi hẩm hiu. Lúc được sinh ra, không màu sắc rực rỡ, không tem không mác. Bởi vậy tôi cứ bị cho đứng âm thầm nơi góc kệ. Đời mà, người ta thích những gì lộng lẫy, cao sang, chẳng ai muốn đi trên chân mình một đôi dép đơn sơ nhỏ bé.
Vì không ai lựa chọn, vì không ai ngắm nhìn, vô tình tôi có thời gian suy nghĩ nhiều hơn về cuộc sống. Chỉ khi chìm vào trong thinh lặng, tôi mới nghe rõ được nhịp đập thao thức của lòng mình.
Rồi chiều nọ, có một người đàn bà đến mua dép, dáng thấp lùn, khuôn mặt xấu xí, không một chút duyên. Bà đứng phân vân lựa dép. Đôi mắt lướt qua đống giày dép sang trọng, đẹp đẽ mà không thấy chút cảm xúc nào. Sao kỳ lạ vậy? Thường con người bị mê hoặc bởi những thứ lấp lánh bề ngoài cơ mà. Bỗng bà dừng lại nơi tôi. Một cảm giác gai gai trong người khi tôi biết mình được chọn.
Đó là niềm vui, hay sự sợ hãi? Sợ hãi vì mình không được những người đẹp, những người danh tiếng chọn, mà lại là một người đàn bà … quê mùa thô kệch.
Nhưng là dép, sứ mạng của chúng tôi phải ra đi. Cũng như con người, không bao giờ được chọn mình sinh ra như thế nào, và mình chết ra sao. Sứ mạng của con người là sống. Sống thật hăng say. Sống thật ý nghĩa.
Vào một đêm mưa gió rất lớn, người đàn bà ấy mang tôi chạy tất tả trên phố tìm chỗ trú. Đường phố nơi đất nước Ấn Độ này, chỉ một vài phút sau mưa, nước đã ngập và trở nên lầy lội. Toàn thân bà ta rét run, hai hàm răng va vào nhau. Tôi cũng bị ngập trong nước.
Cuối cùng cũng đến được nhà ga.
Khi vừa đến, thì bà phát hiện, một người đàn ông đang trong tình trạng nguy kịch, nằm chỗ hàng ghế chờ.
Thú thật, tôi muốn bà bước qua, tìm một chỗ nghỉ ngơi, mỏi mệt quá rồi, hơi đâu mà để ý đến chuyện khác, không liên quan đến mình. Biết đâu dính vào lại thêm rắc rối.
Nhưng bà lại chạy đến bên người đàn ông kia, cúi xuống và cố gắng khiêng ông ta lên, nhưng do bà quá nhỏ bé, nên không thể.
Bà liền tất tả chạy đi, gõ cửa từng nhà thương, xin giúp đỡ. Sự tha thiết van xin của bà, đều nhận lại cái lắc đầu.
Không ai chữa bệnh cho người nghèo. Nghèo khi bệnh chỉ có chết mà thôi.
Nước mắt rơi lã chã trên khuôn mặt bà, không làm nao lòng các bác sỹ, y tá trong đêm nghiệt ngã ấy. Làm một đôi dép như tôi, xa xót cả cõi lòng.
Tôi thương làm sao bàn chân bà vì người khác chạy lấp xấp trong đêm mưa. Tôi quý làm sao giọt nước mắt vì thân phận của người khác mà tuôn rơi. Chỉ có rung động đến tận cùng với nỗi đau người khác, ta mới có thể khóc. Bởi vậy, với tôi, nước mắt là vô giá.
Khi bà quay trở lại nhà ga, người đàn ông đó đã chết. Chết trong … một đêm mưa thiếu vắng tình người.
Tôi bàng hoàng đau, khi đôi chân bà qụy xuống. Bà khóc ngất vì mình vô dụng.
Tôi không ngờ rằng, tôi đang được chiêm ngắm một tình yêu nơi một người tưởng chừng như thừa mứa trong xã hội, xấu xí và quê mùa. Trong khi có nhiều người trang hoàng cho mình xinh tươi, làm ra vẻ quan trọng nhưng trái tim là gỗ mục, là sỏi đá vô tri.
Bà có thể chọn lối sống an nhiên hưởng thụ, vì điều đó chẳng có gì sai. Bà có thể bận những chiếc áo đắt tiền, hở ngực, khoe rốn như tất cả người đàn bà khác, nhưng bà lại chọn cho mình chiếc áo một mầu đơn sơ, thanh đạm. Cũng như bà có thể chọn những đôi dép hàng hiệu, sành điệu, nhưng bà lại chọn tôi. Cuộc sống là những lựa chọn không ngừng mà. Từ trong cách chọn lựa ấy, ta vẽ lên ý nghĩa của cuộc đời mình. Bà chọn con đường gian nan nhất, con đường hy sinh.
Bà không có nhan sắc lộng lẫy của người mẫu, hoa hậu. Bà không có quyền lực để sai khiến người khác. Bà cũng không có tiền. Nhưng bà có một thứ, mà không ai có thể có được, đó là trái tim biết khóc.
Và mọi người trên thế giới đều biết bà là ai, bà là: Mẹ Têrêsa Calcuta !
Mẹ không sống, để cải cách xã hội, để chỉnh đốn tôn giáo, mẹ chỉ sống để chăm lo cho những người ô uế, những người bị khinh khi, xa lánh, những người bị đẩy ra bên lề cuộc sống.
Mẹ không viết sách triết lý, mẹ chẳng giảng đạo, tuyên truyền, mẹ chỉ đến ngồi và khóc cùng người nghèo.
Bàn tay mẹ trắng, gia tài lớn nhất của mẹ, là cây viết chì, và đôi dép mòn gai. Mẹ sợ phải sống đầy đủ, nên suốt cuộc đời mẹ là khó nghèo. Mẹ nói: Đi bộ thì muốn có xe đạp, có xe đạp rồi thì mơ xe gắn máy, có xe gắn máy rồi lại ước xe hơi, bởi vậy tôi chọn … không có gì cả, ngoài tấm lòng.
Trước mặt Thượng Đế, chúng ta chẳng ai cao lớn, cũng chẳng ai nhỏ bé, chẳng ai xinh đẹp, cũng chẳng ai xấu xí vì chúng ta vào đời bằng chính ân sủng của cuộc đời, được sống là một niềm hạnh phúc.
Tôi là một đôi dép may mắn được theo chân người đàn bà xấu xí đi khắp thế giới chỉ để cứu vớt những cuộc đời.

Xin được làm đóa hoa
Thầm lặng nở bên đường
Dẫu cuộc đời gió bụi
Vẫn đong đầy sắc hương

GIỌT NƯỚC MẮT ...

Người ta thường gán giọt nước mắt cho những ai yếu đuối, phận con nít, đàn bà. Con nít thường hay khóc, bất cứ lúc nào chúng muốn, khi té đau, hay khi vòi vĩnh. Còn đàn bà thì cứ hễ có chuyện gì đụng chạm đến con tim thì đôi mi chẳng thể kiềm nỗi dòng lệ. Xem một cảnh phim tình cảm, họ cũng khóc, dù cảnh phim ấy chẳng dính dáng gì đến mình. Bởi thế, bỗng từ đâu hình thành một quy luật bất thành văn rằng hãy cứng cáp lên, hãy can đảm lên, thà đổ máu, đổ mồ hôi, chứ đừng bao giờ nhỏ nước mắt; nước mắt không có chỗ đứng trong thế giới của người mạnh mẽ. Vâng, đúng thế, một người quá uỷ mị, gặp chuyện gì cũng chỉ biết khóc mà thôi thì thật là yếu đuối. Nhưng bảo rằng “đừng khóc”, liệu có ai có thể làm được không? Trời đã ban cho con người có giọt nước mắt. Giọt nước mắt không phải là một giọt nước bình thường. Khi bụi bám vào mắt, cơ thể sẽ tiết ra nước để cuốn trôi hạt bụi bẩn ấy đi. Nhưng không ai gọi đó là giọt lệ. Thế giới này vốn như một nồi canh, có đầy đủ mọi gia vị mặn đắng chua ngọt. Giọt nước mắt cũng có một chiều sâu ý nghĩa của nó, mà có khi nó làm cho ta trở thành người còn hơn là những nụ cười.

Ta có thể trao gửi một nụ cười đến bất cứ ai, nhưng giọt nước mắt thật sự không bao giờ được nhỏ ra một cách dễ dàng như thế. Ta thường cười với nhiều người, nhưng người nào có thể khiến ta khóc phải là một người rất đặc biệt với ta. Một người dưng xa lạ có thể làm ta cười trong thoáng chốc, nhưng để làm cho ta khóc, tương quan với người ấy phải trở thành chẳng-còn-xa-lạ nữa. Người lấy được nước mắt của ta, một giọt nước mắt đúng nghĩa, là người cực kỳ quan trọng với ta, người đó chiếm một vị trí rất cao trong khối óc ta và rất sâu trong cõi lòng ta. Giọt nước mắt hệt như một sự trào tràn của cảm xúc khi người ấy ra đi, hoặc người ấy phản bội ta, đánh mất niềm tin của ta và phụ lòng mong mỏi của ta, hoặc là khi chính ta đã làm cho người ấy buồn. Bởi vì đau quá mà ta khóc, vì mất đi một cái gì đó vô cùng quý giá nên ta mới khóc, vì thấy mình đã phụ tình thương người yêu dấu dành cho mình mà ta khóc. Giọt nước mắt này, dù là người mạnh mẽ nhất, cũng không thể tránh khỏi. Và nó chẳng có gì buồn cười hay đáng chê trách cả. Giọt nước mắt chảy thành dòng không kiềm được lúc đó hệt như một liều thuốc tốt giúp chữa lành vết thương đang rỉ máu, cuốn phăng đi những bức bối bực bội trong lòng. Bởi thế, cứ khóc đi, khi lòng thấy muốn khóc, đừng kiềm chế làm gì khi cảm xúc muốn trào dâng. Khóc xong, ta sẽ thấy khá hơn rất nhiều, dù vấn đề có khi vẫn chưa được giải quyết.

Đôi khi hơi ngược ngạo nhưng cũng có khi ta khóc vì quá hạnh phúc chứ không phải vì quá buồn sầu. Một tiếng cười bình thường không đủ để diễn tả một niềm vui vượt sức chờ đợi. Tận cùng của nước mắt là nụ cười, và đỉnh cao của tiếng cười là giọt nước mắt. Niềm vui khi thành công, khi được người khác đón nhận, khi trải qua bao trăm ngàn đau khổ, khi gặp lại người dấu yêu… thường được kết thúc bằng những giọt nước mắt rất tình. Cũng là giọt nước mắt nhưng nó không phải là kiểu “bù lu bù loa”. Nó là sự diễn tả cho những gì cần nói, là biểu hiện của sự viên mãn trong lòng. Nó cũng nói lên sự yếu đuối của con người, rằng con người là một hữu thể khao khát được đón nhận, được yêu thương và mưu cầu hạnh phúc. Và khi nhu cầu này được thoả đáp thì giọt nước mắt tự khắc nhỏ ra như dấu chỉ của sự mãn nguyện, hài lòng không còn mong mỏi gì hơn.

Còn có một loại nước mắt khác nữa, vừa đẹp vừa thanh, vừa đậm tình người. Đó là giọt nước mắt nhỏ ra khi thấy người ta rơi nước mắt. Có thể là giọt nước mắt chia vui, nhưng cũng có thể là giọt nước mắt chia buồn. Giọt nước mắt lúc đó nói lên sự liên đới mà ta có với mọi người, rằng giữa ta và họ không phải là những hòn đảo riêng lẻ giữa biển đời, chẳng có chút liên hệ gì với nhau. Ta gọi đó là sự đồng cảm: có thể vui với người vui và cũng khóc với người khóc. Thấy người khác vui vì thành công, ta không nên buồn và hậm hực; thấy người khác buồn vì thất bại, gặp chuyện không hay, ta không được vui và hài lòng. Con người chúng ta không được dựng nên để đối nghịch nhau như thế, nhưng là để gắn kết và chia sẻ với nhau mọi nỗi vui buồn. Đặc biệt, giọt nước mắt tuôn ra khi chứng kiến người khác hạnh phúc nhờ những hy sinh của mình mới đẹp làm sao. Đó là nước mắt của các bậc cha mẹ khi thấy con mình thành công trên đường đời, của một tấm lòng vàng nào đó khi thấy các em cơ nhỡ hạnh phúc với chiếc áo, chiếc kẹo mà họ sẻ chia. Chẳng nơi đâu, và chẳng khi nào, tình người lại trở nên hiển lộ tuyệt vời như lúc ấy.

Khi ta khóc, ta biết mình thật sự rất yếu đuối, ta đang sống sự yếu đuối của phận người. Nước mắt cho ta biết rằng mình không toàn năng như mình nghĩ, không mạnh mẽ như mình tưởng. Chính giây phút ấy, ta thấy mình là một con người đúng nghĩa hơn bao giờ hết. Nỗi niềm của người ta được lan truyền đến mình và ngược lại. Nó nối kết người với người bằng một sợi dây thiêng liêng nào đó. Một thế giới mà nơi đó người ta không biết khóc là một thế giới chết chóc, vì nó đã cạn nguồn suối tình thương. Còn biết khóc là còn biết thương, biết hy sinh, biết chia sẻ. Nếu có một ngày nào đó, khi người ta trở nên quá lý trí và lạnh lùng, người ta không thực sự là con người nữa, nhưng đã trở nên những cỗ máy vô tri rồi. Con người trở nên cao cả cũng là vì con người có những loại nước mắt đó: nước mắt vì đau, vì hạnh phúc và vì thấy người khác hạnh phúc.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN NĂM C


Người chủ ruộng sẽ rất lo âu và sốt ruột khi nhìn thấy đồng lúa mênh mông bát ngát của mình đang vào thời kỳ chín rục mà chẳng tìm đâu ra thợ gặt để thu hoạch lúa về.
Chúa Giêsu cũng cảm thấy tâm hồn nôn nao xao xuyến khi phần đông nhân loại đang cần được cứu độ một cách khẩn thiết, nhưng chẳng mấy ai dấn bước đem ơn cứu độ cho họ.
Thế nên, khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giêsu căn dặn các ông: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về." Lời căn dặn này hôm nay cũng được lặp lại với mỗi người chúng ta.
Đáp lời Chúa mời gọi, chúng ta sẵn sàng cầu xin có thêm thợ gặt, nhưng vấn đề là chúng ta sẽ cầu cho ai đi làm thợ gặt đây?
Ai là thợ gặt của Chúa?
Khi cầu xin ơn bình an, sức khỏe và may mắn, thì chúng ta cầu cho bản thân ta trước; còn khi cầu cho có người làm thợ gặt trong cánh đồng của Chúa, thì chúng ta cầu Chúa ban ơn đó cho những người khác, ngoại trừ ta!
Nhưng, dù muốn dù không thì chúng ta đã là thợ gặt chính danh ngay từ khi được lãnh Bí Tích Thánh Tẩy. Nhờ Bí Tích này, chúng ta trở nên chi thể của Chúa Giêsu, nên được thông dự vào chức vụ ngôn sứ, tức sứ vụ loan Tin Mừng của Người. Vậy thì trách nhiệm ‘gặt lúa’ là trách nhiệm của chúng ta, không thể thoái thác được, trừ phi chúng ta tự tách lìa mình khỏi Thân Thể Chúa.
Là thợ gặt của Thiên Chúa, chúng ta cũng được sai đi để loan Tin Mừng Nước Trời, để đẩy lùi quyền lực của ma quỷ như 12 tông đồ và 72 môn đệ xưa.
Ai là người cần được rao giảng trước tiên?
Đứng trước đồng lúa mênh mông, thợ gặt không biết phải bắt đầu từ đâu? Nói khác đi, phải loan Tin Mừng cho ai trước hết?
Giáo điểm đầu tiên cần được rao giảng Tin Mừng là thế giới nội tâm của chúng ta, vì dù mang danh là ki-tô-hữu nhưng có thể chúng ta còn xa lạ với Tin Mừng.
Xa lạ với Tin Mừng vì chúng ta chưa đọc hết bốn Tin Mừng và chưa từng khám phá kho tàng khôn ngoan chứa đựng trong đó.
Xa lạ với Tin Mừng vì đời sống chúng ta và những giáo huấn của Tin Mừng còn cách biệt rất xa!
Nếu Tin Mừng của Chúa Giêsu chưa sáng lên trong cuộc đời ta, chưa bừng cháy trong tim ta… thì làm sao chúng ta có thể đem lửa Tin Mừng ấy thắp lên cho người khác được. Không ai có thể cho điều mình không có.
Thế nên, chính bản thân chúng ta phải được phúc âm hoá trước, rồi ta mới có thể phúc âm hoá tha nhân.
Ai là người cần được xua trừ ma quỷ trước tiên?
Sứ mạng thứ hai mà Chúa Giêsu ủy thác cho các môn đệ song song với việc loan báo Tin Mừng là giải thoát con người khỏi quyền lực của Sa-tan.
Chưa bao giờ quyền lực Sa-tan trở nên khủng khiếp và mãnh liệt như trong thế kỷ nầy. Ma quỷ đã tận dụng mọi phương tiện truyền thông như sách báo, văn chương nghệ thuật, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, internet, âm nhạc, hội họa… để lôi cuốn nhiều người vào cạm bẫy và tội lỗi.
Ma quỷ đang hoành hành khắp nơi trên thế giới, nhưng cũng phải nhận rằng ma quỷ cũng đang chi phối mạnh mẽ cuộc đời chúng ta, đang lôi kéo chúng ta làm nhiều điều sai trái.
Một người đang mang xiềng xích không thể giải thoát được ai. Vậy thì trước khi giải thoát người khác khỏi ách Sa-tan, chúng ta phải tự giải thoát mình trước.
Vậy người đầu tiên cần được giải thoát khỏi quyền lực ma quỷ lại cũng là chính chúng ta.
***
Lạy Chúa Giêsu,
Qua Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca thuật lại cho chúng con biết sau cuộc hành trình truyền giáo ngắn ngày, 72 môn đệ vui vẻ trở về báo cáo với Chúa nhiều thắng lợi vẻ vang: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” (Lc 10,17)
Xin Chúa giúp chúng con là những người được Chúa sai đi thi hành sứ vụ, cũng đạt được những thắng lợi vẻ vang như vậy ngay trên chính cuộc sống của mình.

Lm. Ignatiô Trần Ngà