Cái tôi – Hiểu biết và đón nhận



Thánh Augustino đã từng thốt lên rằng: “Lạy Chúa, con yêu Ngài quá muộn màng, Ngài là vẻ đẹp nguyên sơ không hư cũ…” Trong suốt cuộc đời mình, thánh nhân đã đi tìm cho mình một cuộc sống hạnh phúc và không chỉ thánh Augustino đi tìm hạnh phúc mà mỗi người chúng ta cũng đi tìm cho mình hạnh phúc. Có những lúc ta thấy hạnh phúc thật nhưng phần lớn là không hạnh phúc, vì sao vậy nhỉ? Khi mở mắt chào đời, đứa bé cất tiếng khóc, đó là dấu hiệu báo cho người khác biết là nó đã có mặt trong trần gian, khi lớn lên một chút thì ta muốn chứng tỏ cho người khác thấy là ta có khả năng làm được việc này việc khác, tới tuổi trưởng thành và kết hôn, ta muốn chứng tỏ cho người bạn đời thấy ta có thể trở thành một bờ vai chắc chắn cho người nương tựa, tới khi đã về già, ta muốn cho người khác thấy rằng những kinh nghiệm của mình luôn có ích cho những người trẻ. Đó chính là những biểu hiện của cái tôi. Không chỉ là một số người có nhưng là mọi người đều có cái tôi và vô hình chung thì mọi người đều muốn chứng tỏ cho mọi người thấy tôi là thế. Trong cuộc sống có rất là nhiều con người có những biểu hiện chưa được tốt như: tự ái, ích kỉ, ghen ghét…Vậy cái tôi có thật sự đáng ghét không với những biểu hiện như thế. Với bài viết “Cái tôi – Hiểu biết và đón nhận”, ta cùng nhau tìm hiểu một vài biểu hiện tốt cũng như chưa tốt của cái tôi để nhận định xem cái tôi đáng thương hay đáng ghét.
I. Dẫn “TÔI” ra ánh sáng                           
1. Những “cái tôi” của tôi
Mỗi người chỉ có một cái tôi thôi, nhưng vì ta luôn bị ảnh hưởng bởi những ước mơ không thực về cái tôi của mình, hay đặt cho mình những tiêu chuẩn cao quá nên ta thường hay mang cho mình những chiếc mặt nạ, có vô số những chiếc mặt nạ được chúng ta mang tùy từng tình huống. Ta cùng nhau tìm hiểu một vài cái tôi theo quan niệm của các nhà tâm lí học .
Theo cách phân loại của Wylie và đã được Rulla bổ sung thì ta có thể phân cái tôi thành hai loại: cái tôi hiện thực và cái tôi lí tưởng. Cái tôi hiện thực là con người đích thật của chúng ta cho dù ta có biết hay không, cái tôi này là kết quả của ba cấu tố:cái tôi hiển thị, cái tôi tiềm ẩn và cái tôi xã hội. Còn cái tôi lí tưởng là điều mà chúng ta khao khát vươn tới, đó là thế giới của khát vọng, ước muốn, dự phóng, đôi khi còn là thế giới của giấc mơ và ảo tưởng. Cái tôi lí tưởng là tổng hợp của hai yếu tố: lí tưởng cá nhân và lí tưởng thiết chế.[1]
Trong quyến sách tìm hiểu chính mình trong cửu loại tính do Thạch Thảo chuyển ngữ và biên soạn thì con người có chín loại cá tính, và mỗi loại cá tính thì lại có một cái tôi đi kèm.
Với những người có danh xưng là người cầu toàn thì cái tôi của họ là cái tôi phẫn nộ, vì đối với họ mọi sự trên thế giới này đều phải hoàn hảo và nghiêm chỉnh, nhưng họ quên một điều là thế giới này là thế giới hữu hạn, vì thế không thể có được sự  toàn vẹn, và vì không đạt được đòi hỏi của mình nên họ bực tức với hết mọi người.
Đối với những người có khuynh hướng thích giúp đỡ người khác thì họ lại có cái tôi kiêu ngạo đi theo. Vì những người có cá tính này thường giúp đỡ người khác không nề hà gì nhưng họ lại giấu không tỏ cho người khác biết họ cũng có nhu cầu được giúp đỡ.
Những người có cá tính số ba được gọi là người thành công, thật vậy họ rất thành công trong mọi công việc được giao nhưng để đạt được thành công đó thì họ phải cố gắng để che dấu những điều xấu nơi mình, chỉ lo tô vẻ bề ngoài và khoe khoang những thành công của mình, vì vậy cái tôi của họ là cái tôi dối láo.
Tự cho mình là người độc đáo, những người có cá tính này không chấp nhận những điều bình thường nhưng những gì liên quan đến họ thì phải đặc biệt. Chính điều này làm cho họ luôn so sánh mình với người khác và ai hơn họ là họ ganh tị, đó là cái tôi của họ.
Với cảm giác nội tâm trống rỗng và cần phải làm đầy, họ hăng hái lao vào học hành nhưng họ bị cái tôi hà tiện chi phối nên họ không muốn chia sẻ cho ai những kiến thức đó. Họ chỉ lo tích lũy và khư khư giữ cho mình nên họ trở thành keo kiệt.
Một số người khác thì lại  không có khả năng và sự tự tin để hoạt động của họ đạt hiệu quả, vì vậy họ muốn được an toàn bằng cách bám vào luật lệ. Do đó họ trở nên một người nhát đảm đến nỗi điều này trở thành đam mê của họ.
Những người có cá tính lạc quan thì hay lẩn tránh đau khổ, mọi thứ đối với họ phải luôn tốt đẹp và dễ thương. Nhưng họ bị cái tôi buông thả lấn át vì họ hay thần thánh hóa những cuộc vui chơi của mình.
Cái tôi ngạo nghễ là cái tôi đi kèm với những người có tính hùng mạnh, những người này luôn tự hào vì họ cho rằng họ có đủ can đảm để bênh vực sự thật và công lí. Tuy nhiên họ lại rơi vào sai lầm là nói thật một cách trắng trợn nên dễ làm tổn thương người khác.
Cá tính cuối cùng của cửu loại tính là an hòa. Nghe qua có vẻ tốt đẹp nhưng thực ra những người có cá tính này thường là không có cảm xúc trước xung đột, coi khinh chính mình và vì cầu an mà sinh ra lảng tránh mọi công việc nên trở thành cái tôi biếng nhác.[2]

2. Cởi bỏ mặt nạ
Như đã nói là mỗi người chúng ta mang nhiều mặt nạ trong ngày sống, và do mang nhiều quá nên bây giờ đã quen, không còn thấy lóng ngóng hay vụng về nữa, thậm chí mặt được người ngoài nhìn và đón nhận như chính là mạt thật của ta. Vấn đề bây giờ là nhận ra mình đang mang mạt nạ nhưng không dám can đảm để cởi bỏ xuống. Thánh Phao lô đã nói: “việc tốt tôi muốn làm thì tôi lại không làm, việc xấu tôi không muốn làm thì tôi lại cứ làm”. Đây cũng chính là tâm trạng của ta khi nhận thấy rõ chính mình.
Vậy đâu là phương cách để ta có thể can đàm lột bỏ mặt nạ của mình xuống? Đó chính là lòng tự trọng. Lòng tự trọng là trung tâm của đời sống tinh thần. Ta có thể chinh phục thế giới nếu ta có lòng tự trọng, ta cũng có thể yêu tha nhân và tin rằng tha nhân cũng yêu thương ta nếu ta có lòng tự trọng…[3] Và lòng tự trọng được xây dựng trên nền tảng là sự khiêm tốn.

3. Tôi được tự do
Một khi đã can đảm để mang lấy chính bộ mặt thật của mình là ta đã can đảm để dám liều, liều để thay đổi. Thay đổi xong thì ta sẽ nhận ra rằng ta đã không uổng công khi dám làm thế. Bấy giờ, ta nhận ra là mình tốt đẹp nên mình dễ dàng đến với người khác trong yêu thương, không còn do dự hay nhút nhát nữa, ta xác tín là bạn quí ta và sẵn sàng đón nhận ta. Lúc đó ta có thể thốt lên trong hạnh phúc: Ta được tự do.[4]

II. Cảm thông và đón nhận
1.Thiên Chúa thương tôi
Khi đã bỏ mặt nạ xuống thì ta không khỏi có nơi mình một cảm giác của sự đau khổ, một phần là vì  đau khi phải bỏ mình và hai là đau khi cảm giác mình làm cho Thiên Chúa buồn phiền. Con đã từng rơi vào trạng thái như thế nên con hiểu rõ cảm giác này. Khi nhận ra con người thật của mình, con trở nên lo lắng, bất an và đau khổ. Con chìm sâu trong phiền muộn. Sau hơn một tháng ở trong tình trạng như thế, con cảm nhận được  trong một lần con Chầu Thánh Thể, con nghe được một âm thanh nhẹ nhàng nhưng sâu lắng: “con có yêu ta hơn những gì con đang suy nghĩ không?”. Con thật sự thấy bối rối vì điều đó, Chúa không nói với con là Chúa yêu con mà Ngài lại hỏi con về tình yêu con dành cho Ngài. Nước mắt con vỡ òa, con đã hiểu. Thiên Chúa yêu con và Ngài không bỏ con, chỉ có con không hiểu tình Ngài dành cho con mà thôi. Yêu con nên Ngài mới dựng nên con, Ngài cho con có tự do, có tình yêu, có hạnh phúc…

2.Tôi thương chính tôi
Nhưng Thiên Chúa thương ta thôi thì chưa đủ, Ngài con muốn ta phải thương  lấy chính mình, khi mình không thương chính mình thì mình cũng không có kinh nghiệm để  cảm nhận tình yêu của Chúa. Không thương chính  mình  thì mình dễ rơi vào trạng thái  tiêu cực  và  đau  khổ triền miên.

3.Học cách đón nhận
Với những mặt chưa tốt của cái tôi nêu trên, thường thì ta dễ nhận thấy là cái tôi thật đáng ghét, nào là hờn giận, ích kỉ, kiêu ngạo, hà tiện…nhưng nó là ta, do đó không làm cách nào để loại nó ra khỏi ta được. Không loại nó được thì tìm cách sống hòa bình với nó vậy. Hòa bình với nó không phải là thái độ kệ nó, cứ để nó phát huy ra nhưng là tìm thấy căn nguyên của nó, tại sao ta  kiêu ngạo, vì ta  hiểu biết nhiều chăng, biết nhiều mà không chia sẻ để có thêm cái biết thì cái biết đó dần dần cũng sẽ mất. Tại sao ta phẫn nộ với những gì không hoàn thiện của thế giới này…với mỗi người có những loại cá tính khác nhau, ta đặt cho mình những câu hỏi khác nhau, trả lời những câu hỏi đó xong là ta có thể tìm được cho mình cách sống chung với cái tôi của mình.
Điều quan trọng là nhận thức của mình về vấn đề đó, sau đó thì đón nhận với thái độ khiêm tốn và thành thật. Vì sao có các thánh, các thánh có gì trổi vượt hơn người thường? Đây là câu trả lời cho vấn nạn đó, các thánh được là thánh vì nhận ra mình và với lòng tự trọng đã khiêm tốn sửa mình với ơn của Chúa Thánh Thần.

III. Hướng đến cái tôi chân thật
Cái tôi lí tưởng là cái tôi mà ta hướng đến, song có khi nó không phải là cái tôi lí tưởng đúng đắn mà chỉ là cải tôi lí tưởng viễn vông. Đau khổ hơn là thường thì chúng ta lại dễ rơi vào việc chạy theo một cái tôi lí tưởng viễn vông, sau đó không đạt được thì sinh ra đau khổ.
Cái tôi lí tưởng của ta là những gì mà tôi đã hấp thụ được qua năm tháng, là cái mà ta nghĩ mình sẽ là như thế. Nếu ta không đạt được thì ta rơi vào những đau khổ không chính đáng, ta dễ có thái độ oán trách bản thân.[5]
Như vậy để có một cái tôi lí tưởng thật sự thì chỉ có một người có thể dạy ta và làm gương cho ta. Xin giới thiệu đó chính là Đức Giêsu, một mẫu gương sáng chói, vô tì tích, Ngài không chỉ dạy mà còn thực hành điều mình dạy.
                                                                        
1.Đức Giêsu  – cái tôi lý tưởng
Chính Đức Giê su là một tổng số tất cả các cá tính có nơi con người, nơi Ngài những cá tính ấy không còn những đặc điểm đáng ghét nữa mà thay vào đó là nhưng ưu điềm để ta noi theo.
Trước hết, hầu như mọi ngưới đều công nhận Thiên Chúa là Chân – Thiện – Mĩ và nơi Đức Giêsu được biểu lộ ra Ngài là Đấng hoàn thiện (Mt 5,48; Ga 8,46; 8,1-11). Tuy nhiên, lí tưởng thể hiện ra ở nơi Ngài là việc Ngài chấp nhận con người với những giới hạn của họ, Ngài mời gọi ta sống quảng đại và từ bi (Lc 6,29: Mt 5,41).
Nơi thầy Giêsu ta cũng bắt gặp hình ảnh Ngài tận tụy phục vụ tha nhân (Ga 2,1-11; Lc 7,11-15; Mt 9,26-28…) nhưng Ngài giúp đỡ tha nhân không phải để họ lệ thuộc Ngài mà trái lại Ngài còn tránh xa điều đó (Ga 6,11-15; Mc 5,18tt).
Cuộc đời Đức Giê su chỉ có một mục đích duy nhất là xây dựng Nước Thiên Chúa và Ngài cũng có những thành công nhất định (Lc 10,1tt; 8,3), nhưng không vì Ngài là Thiên Chúa mà Ngài không phải nếm mùi thất bại ê chề (Ga 6,15; Lc 4,45; Mt 27,46), điểm hay nơi Ngài mà ta cần học đó là giá trị cuộc sống không đo bằng thành công, nếu lẫn lộn giữa hai điều này thì chúng ta dễ rơi vào tuyệt vọng.
Trái tim Chúa Giêsu cũng là một trái tim bằng thịt như ta nên Ngài cũng có những rung động trước đau khổ của tha nhân (Lc 7,13; Ga 11,35) nhưng Ngài không để cho mình bị chìm đắm trong nỗi u sầu, trong đau khổ bao giờ Ngài cũng hé mở cho ta thấy một chút hi vọng như khi loan báo khổ nạn thì Ngài cũng loan báo Phục Sinh, trong cô đơn Ngài vẫn tỏ lòng tin vào Thiên Chúa Cha…Đó là cái tôi lí tưởng mà chúng ta cần học theo.
Đức Giêsu là bậc thầy khôn ngoan, Ngài giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, Ngài biết chia sẻ cho môn đệ những chân lí cao siêu mà chính Ngài đã cảm nhận được từ nơi Thiên Chúa (Ga 15,15; Mt 5,7; Mc 8,15), tuy là Người khôn ngoan thông thái nhưng chân lí của Ngài không phải xa xôi, hoang tưởng hay là tự mãn mà trái lại ngài đã thực hiện và dạy người khác thực hiện, ngoài ra còn giải thích rõ ràng những chỗ người ta chưa hiểu. Cái tôi lí tưởng của Ngài là ở đó.
Ngôn sứ Isaia đã gọi Đức Giêsu là Vị Tôi Trung của Thiên Chúa, danh hiệu này quả thật không sai, Ngài không chỉ giữ luật Thiên Chúa mà còn trung thành với luật Do Thái (Mc 14,58; Lc 23,2). Cái tôi lí tưởng nơi Đức Giê su là tuy Ngài trung thành với luật nhưng không nệ luật, Ngài cho ta thấy luật chỉ là phương tiện chứ không phải là cứu cánh.
Mở đầu cho cuộc hành trình của mình, Đức Giêsu đã đi dự tiệc cưới,  rồi Ngài còn đi đánh cá với môn đệ (Ga 2,1-12; Mc 8,19-21), các tác giả sách thánh không ghi lại thái độ của Chúa lúc đó nhưng con nghĩ là Chúa rất vui. Dù Ngài biết là Ngài sẽ phải chịu đau khổ nhưng Ngài đón nhận thực tế cách bình an và vui tươi (Ga 16,21).
Đời rao giảng của Chúa Giêsu không thiếu những lúc Ngài cũng phải lên tiếng để bảo vệ công lí (Mt 23; 10,28), tuy nhiên Ngài bộc lộ cái tôi lí tưởng ở chỗ là Ngài không sử dụng bạo lực để chống bạo động mà Ngài dùng gương sáng và đời sống của Ngài để làm vũ khí và Ngài thành công.
Điểm son cuối cùng nơi Đức Kitô mà ta cần nói là Ngài có một đời sống rất thanh thản và bình an ( Mt 11,29; Ga 14,27) nhưng không vì thế mà Ngài để cho cái tôi lười biếng lấn át mình. Ngài không chấp nhận sự trễ nải, chần chừ, biếng nhác (Ga 5,17; Mc 16,16…)[6]

2.Bắt đầu ngay kẻo muộn
Sau khi đã điểm qua những cái tốt nơi Cái Tôi lí tưởng của Đức Giêsu, ta càng nhận rằng cái tôi thật sự không đáng ghét, nếu chúng ta soi mình nơi gương Giêsu rồi cố gắng sửa mình thì cái tôi của mình sẽ được hướng đến một chiều kích tốt đẹp hơn. Tuy nhiên để nhận ra và thay đổi là điều không dễ, ta cần phải biết suy tư và khám phá mình thì mới có hi vọng. Muốn suy tư có hiệu quả thì ta cần những nguồn mạch của suy tư. Cũng như dòng sông không có nguồn thì nó sẽ nhanh chóng cạn khô thì ta cũng cần có nguồn khi suy tư. Nguồn mạch thứ nhất là nguồn mạch ngạc nhiên, nếu không biết ngạc nhiên thì ta không thể bắt đầu suy tư được. Nguồn mạch thứ hai là nguồn mạch hoài nghi, trong cuộc đời cần có ít nhất một lần hoài nghi về những gì đã được lập trình sẵn, chính nguồn mạch hoài nghi này sẽ giúp ta mở những cánh cửa mà không ai nghĩ tới. Một nguồn mạch nữa cũng quan trọng không kém là kinh nghiệm đau khổ, ai đã can đảm đối diện với cảm giác đau đớn ấy thì dễ náy sinh nguồn mạch suy tư với tâm hồn khiêm tồn, họ sẽ biến những kinh nghiệm đau dớn ấy thành chân lí cho cuộc đời.
Nhận ra những điều trên đã là một bước tiến lớn nhưng nhận ra rồi thì để đó cũng vô ích. Hãy bắt đầu ngay đi, bắt đầu ngay không thì sẽ muộn. Thiên Chúa vẫn đang chờ bạn với đôi vòng tay yêu thương của Ngài.[7]

Tạm kết hành trình
Một cuộc hành trình bao giờ cũng có khởi điểm và kết thúc, cuộc hành trình này chỉ thật sự kết thúc khi được chiêm ngưỡng Thánh Nhan, nên bài viết này chỉ xin gọi là tạm kết, vì còn nhiều điều cần phải suy tư thêm, cần có thời gian để cảm nghiệm thêm. Đây thật sự là một đề tài không những hay mà còn thú vị, mới nghe đề tài thì sợ nhưng khi bắt đầu viết thì lại cảm nhận được cái hay của nó. Cái tôi là chính mình nên không tài nào bỏ đi được, suy nghĩ kĩ thì thấy cái tôi đáng thương hơn đáng ghét. Nó cũng cần được cảm thông và cần được chia sẻ. Nó sẽ đi theo mình trong suốt cuộc đời này nên tốt hơn hết là tay nắm tay cùng nó đi cho trọn con đường Chúa muốn mình đi.

Hoa Đất






[1] Tâm lí và huấn luyện. A. Cencini và Manenti. Nxb Phương Đông.
[2] Tìm hiểu chính mình trong cửu loại tính. Thạch Thảo chuyển ngữ và biên soạn                                                              
[3] Hành trình tự do. Jame E. Sullivan. Nxb Tôn Giáo
[4] Hành trình tự do. Jame E. Sullivan. Nxb Tôn Giáo          
[5] Hành trình tự do. Jame E. Sullivan. Nxb Tôn Giáo
[6] Tìm hiểu chính mình trong cửu loại tính. Thạch Thảo chuyển ngữ và biên soạn
[7] Triết học nhập môn. Giuse Nguyễn Trọng Viễn OP

LỜI CHÚA CN V- MÙA CHAY C

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY B
Ga 12,20-33
"Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi,
thì nó vẫn trơ trọi một mình; 
còn nếu chết đi,
nó mới sinh được nhiều hạt khác.”

(Ga 12,24)
Lời Chúa chúng ta vừa nghe mở ra cho chúng ta những viễn tượng hết sức mới mẻ về ý nghĩa và giá trị có liên quan đến việc chịu nạn chịu chết của Chúa Giêsu sắp tới và về những đòi hỏi Chúa muốn những ai đi theo Chúa phải chấp nhận.
1. Có thể nói khi Chúa bộc lộ những lời rất chân thành còn được ghi lại trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu đang hướng về cái chết sắp tới mà Ngài phải chịu.
Ngài sẽ phải chết nhưng cái chết của Ngài sẽ đem lại cái gì cho nhân loại?
Thông thường chúng ta thấy chết là chấm hết mọi sự.
Còn đối với Chúa cái chết không những không chấm dứt mà còn đưa cuộc đời của Ngài lên một tầm cao mới. "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!" (Ga 12,23).
"Giờ" ở đây không phải là một khoảnh khắc chiếm một chỗ xác định rõ ràng trong dòng thời gian, mà là một thời điểm vô cùng quan trọng. Nó đánh dấu sự khởi đầu một thời đại mới sẽ kéo dài đến mãi mãi.
Giờ ở đây chính là lúc Đức Giêsu bước lên Thập giá. Khi đó mọi trục trặc vướng víu trong liên hệ giữa loài người với Thiên Chúa được tháo gỡ hết, tương giao giữa loài người với Thiên Chúa sẽ được thông suốt, nhờ thế tình thương và sức sống dồi dào của Thiên Chúa sẽ được chuyển thông dào dạt cho loài người.
Như vậy chết đối với Chúa chính là lúc được tôn vinh và Chúa còn cho cả con người được tôn vinh với Chúa "Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi." (Ga 12,32).
Chúng ta tìm được bài học nào ở đây?
Tôi tưởng bài học quí giá nhất mà chúng ta học được từ Chúa ở trong hoàn cảnh này là biết nhìn ra những giá trị nơi những cái mà người đời cho là tầm thường. Khi đối diện với cây Thập Giá, người đời cho đó là một hình phạt đáng nguyền rủa nhưng Chúa Giêsu đã nhìn nó như một phương tiện mang lại ơn cứu rỗi.
Một cậu bé 10 tuổi quyết định học môn võ Judo cho dù cánh tay trái của cậu đã mất trong một tai nạn xe hơi. Cậu theo học Judo với một võ sư Nhật. Vì tin rằng mình đã học tập rất chuyên cần và tiến bộ nên cậu vô cùng thắc mắc tại sao sau ba tháng tập luyện mà thầy chỉ dạy cho mình mỗi một thế võ duy nhất.
Cuối cùng, không kiên nhẫn nổi nữa, cậu bé hỏi thầy:
- Thưa thầy, chẳng lẽ con không thể học được các thế võ khác sao?
Ông trả lời:
- Đây là thế võ duy nhất thầy dạy con, và đây cũng chính là thế võ duy nhất mà con cần phải học.
Tuy không hiểu hết lời thầy nhưng tin tưởng ở thầy, cậu bé tiếp tục tập luyện.
Nhiều tháng sau, võ sư dẫn cậu đến tham dự một cuộc thi Judo. Cậu bé rất ngạc nhiên khi thấy mình thắng dễ dàng trong hai trận đầu. Trận thứ ba khó khăn hơn nhưng sau một hồi, đối phương mất kiên nhẫn trong các đòn tấn công, cậu bé đã khéo léo sử dụng thể võ và chiến thắng. Vẫn chưa hết ngạc nhiên vì thành công của mình, cậu tự tin bước vào trận chung kết.
Lần này đối thủ của cậu là một võ sinh cao lớn, to khỏe và dày dạn kinh nghiệm. Vào trận không lâu, cậu bé đã liên tiếp trúng đòn và hoàn toàn bị đối phương áp đảo. Hết hiệp đầu, sợ cậu bé bị thương, trọng tài ra hiệu để kết thúc trận đấu sớm nhưng người thầy của cậu không đồng ý:
- Cứ để cậu bé tiếp tục. - Võ sư yêu cầu.
Ngay sau khi trận đấu bắt đầu lại, đối phương phạm phải sai lầm nghiêm trọng: anh ta coi thường đối thủ và mất cảnh giác. Ngay lập tức cậu bé dùng thể võ duy nhất của mình quật ngã đối phương và khóa chặt anh ta trên sàn. Cậu bé đã đoạt chức vô địch.
Trên đường về, hai thầy trò ôn lại các thế đánh trong từng trận đấu. Lúc này cậu bé mới thu hết can đảm nói ra điều ám ảnh trong đầu mình bấy lâu nay:
- Thưa thầy, làm sao con có thể trở thành vô địch chỉ với một thế võ như thế?
- Con chiến thắng vì hai lý do. - Người thầy trả lời - Lý do thứ nhất, con gần như đã làm chủ được một trong những cú đánh hiểm và hiệu quả nhất của môn võ này. Lý do thứ hai, cách duy nhất mà đối thủ của con phá được thể võ đó là họ phải giữ chặt cánh tay trái của con lại - mà con lại không có tay trái.
Trong cuộc sống đôi khi một điểm yếu của ai đó lại trở thành điểm mạnh vững chãi nhất của họ. Có ưu điểm là một điều tốt nhưng nếu có thể biến khuyết điểm thành lợi thế lại càng là một điều kỳ diệu hơn. Chúa Giêsu đã biết biến thất bại của cây Thập Giá thành chiến thắng vinh quang. Ngài đã nhìn thấy ở nơi cây Thập Giá ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa Cha và Ngài đã đón nhận cây Thập Giá với tất cả tấm lòng của người con thảo để từ đó Ngài mở ra cho Thiên Chúa Cha một dân tộc mới, dân tộc được cứu rỗi.
2. Những đòi hỏi Chúa muốn những ai đi theo Chúa phải chấp nhận.
Đây là Lời của Chúa: "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25-26).
Người ta kể lại rằng Mùa Xuân năm ấy, có hai hạt giống nằm cạnh nhau trong thửa đất màu mỡHạt giống thứ nhất hăng hái nói: “Tôi muốn mọc lên! Tôi muốn cắm rễ sâu xuống lòng đất, và đâm chồi xuyên qua lớp đất cứng bên trên. Tôi muốn vươn những búp non mơn mởn như những lá cờ loan báo mùa xuân đã đến...Tôi muốn cảm nhận hơi ấm của mặt trời mơn man trên mặt và hơi nước mát lạnh của sương mai trên những cánh hoa”. Và nó đã mọc lên xanh tốt.
Hạt giống thứ hai tự nhủ: mình sợ lắm! Nếu cắm rễ xuống đất, mình chẳng biết sẽ gặp gì trong lòng đất tối tăm. Nếu mình tìm đường xuyên qua lớp đất cứng bên trên, biết đâu những chồi non yếu ớt của mình sẽ bị thương tổn. Làm sao mình có thể cho búp non xoè lá khi một chú sâu đang chờ sẵn để xơi tái đọt lá xanh non? Và nếu mình nở hoa, một em bé có thể nhổ đứt mình lên! Không, tốt hơn mình nên đợi cho đến lúc an toàn hơn”. Và nó tiếp tục đợi chờ... Một sáng đầu xuân, cô gà mái bới đất kiếm ăn đã thấy hạt giống đang nằm chờ đợi. Cô chẳng đợi gì mà không mổ lấy, nuốt ngay.
Vâng có được sự sống đời đời những người môn đệ của Chúa cũng phải bước vào một quá trình thay hình đổi dạng để có thể trở nên giống Chúa Giêsu.
Như hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt thì những ai muốn được ở một nơi với Chúa cũng phải làm như thế.
“Lạy Chúa Giêsu, khi nhìn thấy đồng lúa chín vàng chúng con ít khi nghĩ đến những hạt giống đã âm thầm chịu nát tan, để trao cho đời cây lúa trĩu hạt. Có bao điều tốt đẹp chúng con được hưởng hôm nay, là do sự hy sinh quên mình của người đi trước, của các nhà nghiên cứu, của các người rao giảng, của ông bà, cha mẹ, thầy cô, của những người đã nằm xuống cho quê hương dân tộc. Đã có những người sống như hạt lúa, để từ cái chết của họ vọt lên sự sống cho tha nhân. Nhờ công lao của bao người, chúng con được làm hạt lúa. Xin cho chúng con đừng tự khép mình trong lớp vỏ để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của mình, nhưng dám đi ra để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ. Chúng con phải chọn lựa nhiều lần trong ngày. Để chọn tha nhân và Thiên chúa, chúng con phải chết cho chinh mình. Ước gì chúng con dám sống mầu nhiệm vượt qua đi từ cõi chết đến nguồn sống, đi từ cái tôi hẹp hòi đến cái tôi rộng mở trước đấng Tuyệt đối và tha nhân. Amen.  (Manna 85)

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

CHÚA NHẬT II MC-B

Núi là biểu tượng cho sự uy nghi, hùng vĩ, cao cả. Trong Thánh Kinh, núi thường được xem là nơi gặp gỡ giữa trời và đất, giữa thần linh và con người. Những mạc khải quan trọng trong Thánh Kinh đều diễn ra trên núi.


Núi là biểu tượng cho sự uy nghi, hùng vĩ, cao cả. Trong Thánh Kinh, núi thường được xem là nơi gặp gỡ giữa trời và đất, giữa thần linh và con người. Những mạc khải quan trọng trong Thánh Kinh đều diễn ra trên núi.

Trong tác phẩm “Đức Giêsu thành Nazareth”, suy niệm về biến cố Hiển Dung, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã viết những lời thật ý nghĩa về các ngọn núi:

“Chúa Giêsu đem theo các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan riêng với mình và dẫn họ lên một ngọn núi cao (Mc 9,2). Chúng ta lại gặp ba vị này trong vườn Cây Dầu (Mc 14,33), lúc đó cơn âu lo cuối cùng của Đức Giêsu như hình ảnh nghịch lại với Hiển Dung, dù vậy cả hai vẫn thuộc vào nhau. Ở đây không nên bỏ qua đoạn Xh 24, ông Môisen lên núi cùng với Aaron, Nadab và Abihu, có lẽ cùng với 70 vị trưởng lão của Israel.

Ở đây, như lời bài giảng trên núi và trong những đêm cầu nguyện của Đức Giêsu, chúng ta lại gặp núi như vị trí gần gũi cách đặc biệt với Thiên Chúa. Chúng ta nhìn tổng hợp một lần những ngọn núi khác nhau trong đời sống Đức Giêsu: núi cám dỗ; núi lúc Người ngồi rao giảng; núi cầu nguyện; núi Hiển Dung; núi âu lo; núi thập tự và cuối cùng là núi Thăng Thiên, trên đó - nghịch lại với lời mời đón nhận vương quyền thế giới do quyền lực của ma quĩ - Chúa tuyên bố: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Nhưng trong hậu cảnh, người ta cũng thấy xuất hiện các ngọn núi Sinai; Horep; Morija- các ngọn núi mạc khải của Cựu Ước, kết hợp làm một với núi khổ nạn và núi mạc khải; tất cả chúng đều hướng đến núi Đền Thờ, nơi đó mạc khải trở thành phụng vụ

Nếu chúng ta đi tìm một lời giải thích, sẽ gặp ở hậu cảnh biểu trưng chung về núi: núi là vị trí nâng cao, không những phải trèo lên bên ngoài, nhưng ngay cả bên trong; núi như giải thoát gánh nặng thường nhật, như hít thở không khí trong lành của sáng tạo; núi cho chúng ta một cái nhìn thật xa và vẻ đẹp của vũ trụ; núi cho tôi một cảm giác nâng cao trong tâm hồn và cho tôi cảm nghiệm về Đấng Sáng Tạo. Ngoài lịch sử, còn có cảm nghiệm về một Thiên Chúa, Đấng đang nói và kinh nghiệm về cuộc khổ nạn mà đỉnh cao đạt được trong cuộc hy tế Isaac, trong hy tế Con chiên, tiền ảnh của Con Chiên cuối cùng bị sát tế trên núi Golgotha. Trên núi, ông Môisen và ông Êlia được đón nhận mạc khải của Thiên Chúa; các ngài đàm đạo với Đấng là mạc khải của Thiên Chúa nơi bản thân Người”. (Đức Giêsu thành Nazareth, Lm Aug Nguyễn Văn Trinh biên dịch, trang 266-267).
 
Các bài đọc Thánh Kinh của Chúa nhật hôm nay nói đến ba ngọn núi. Núi Moria, Núi Tabor và Núi Golgotha.

1.     Núi Moria, núi niềm tin

Bài đọc 1 kể về ngọn núi Moria. Trên núi cao, Tổ phụ Abraham sẵn sàng hiến tế con trai duy nhất cho Thiên Chúa.

Tổ phụ Abraham có quê hương miền Lưỡng Hà. Chúa gọi ông tại Haran, lúc ông 75 tuổi. Chúa hứa cho ông có một dòng dõi đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển (St 12,1-5).

Chờ đợi mãi, dài đến 25 năm sau, bà Sara mới sinh cho ông được một người con duy nhất. Abraham bước vào tuổi 100, lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện. Niềm vui quá lớn trong ngày con trẻ chào đời (St 21,1-7). Bồng ẳm con trẻ, ông thấy tương lai của cả một dân tộc hùng mạnh. Vợ chồng già hạnh phúc ngập tràn trong tiếng khóc tiếng cười trẻ thơ. Isaac là đứa con của lời hứa, là cây gậy nương tựa tuổi già.

Thế rồi vào một ngày kia, Chúa phán với ông: "Abraham, Abraham! Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó, ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi ". Tiếng sét ngang tai làm ông chết lặng. Lệnh truyền sát tế Isaac, vượt quá tầm nghĩ của con người. Lời chúc phúc của Thiên Chúa cho ông làm tổ phụ các dân tộc, sẽ thành mây khói. Lệnh truyền làm ông đau nhói ruột gan.

Nhưng với niềm tin mãnh liệt, Abraham thi hành lập tức lệnh truyền ấy. Ngay khi ông đang giơ cao con dao để hạ sát con trai, Thiên Chúa đã ngăn cản bàn tay ông. Chúa phán: "Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta ".

Đức tin và lòng vâng phục của tổ phụ Abraham trở nên gương mẫu cho muôn thế hệ.

Tác giả thư Do Thái viết: “Bởi tin, Abraham được kêu gọi vâng lời ra đi đến xứ ông sẽ lấy làm cơ nghiệp, ông ra đi mà chẳng biết mình đi đâu” (Dt 11,8). Tin là sẵn sàng làm theo lời Chúa dạy, hy vọng Chúa sẽ thực hiện điều Người hứa, dù trước mắt chưa thấy chút gì là hiện thực cả. Vâng lời Chúa, ông đã bỏ quê cha đất tổ lên đường và đặc biệt ông đã dám dâng Isaac làm lễ tế Thiên Chúa. Đức tin thật vững chắc, không do dự, không mặc cả. Vì một dạ tín trung với Chúa, Abraham đã nên “bạn thân của Thiên Chúa” (Gc 2,23). Chúa gọi ông là “Tôi Tớ của Ta” và nói “Ta ở với ngươi” (St 26,24). Vì Chúa “Chúc lành cho các dân tộc trong dòng giống ông và dòng giống ông sẽ nên đông như cát biển” (Hc 44,21), nên ông là cha chúng ta trong đức tin.

2.     Núi Tabor, núi vinh quang

Chuẩn bị bước vào cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ biết : Người sẽ lên Giêrusalem để chịu khổ nạn và chịu chết. Các môn đệ chao đảo niềm tin. Phêrô đại diện cho các anh em phản đối kiệt liệt. Phêrô không chấp nhận thập giá khổ nhục. Để cũng cố niềm tin cho các môn đệ, Chúa Giêsu đưa họ lên núi cao. Chúa biến hình, cho họ thấy một thoáng Phục sinh trước Phục sinh, cho hưởng nếm một chút Thiên đàng trước Thiên đàng. Nhờ đó các môn đệ thêm niềm tin tưởng, thêm mạnh mẽ can đảm.

Chúa đưa ba môn đệ lên núi cao. Các ông được đi vào một thế giới vừa kỳ diệu vừa lạ lùng, làm biến đổi ý nghĩa cuộc đời.

Các ông thấy: “Dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (Mc 9,3); “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17,2); “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9,29).

Chính nơi đây nổi bật sự liên hệ và sự khác biệt với gương mặt ông Môisen: “Khi ông Môisen từ trên núi Sinai xuống, tay cầm hai tấm bia Chứng Ước, khi xuống núi, ông Môisen không biết rằng da mặt ông sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa” (Xh 34,29-35). Qua việc đàm đạo với Thiên Chúa, ánh sáng của Thiên Chúa chiếu sáng trên ông và làm cho ông sáng chói. Như thế, ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào ông làm cho ông sáng chói. Đức Giêsu chói sáng tự bên trong, không những Người đón nhận ánh sáng mà chính Người là ánh sáng bởi ánh sáng”. (sđd trang 268).

Và có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người!” (Mc 9,7). Đám mây thiên linh, là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Đám mây ngự trên Lều Hội Ngộ cho thấy sự hiện diện của Đức Chúa. Đức Giêsu là Lều Thánh, đám mây của sự hiện diện Thiên Chúa đậu trên Người và từ đó cũng sẽ “bao phủ” mọi người. Sự kiện thánh tẩy Đức Giêsu được tái hiện, nơi đó Chúa Cha từ đám mây công bố Đức Giêsu là Con: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11). (sđd trang 172).

Các môn đệ còn thấy: “Có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia”. Đây là hai nhân vật quan trọng nhất trong Cựu ước, đại diện cho hai thực tại quan trọng nhất của Do Thái giáo. Môisen đại diện cho luật pháp. Êlia đại diện cho các ngôn sứ. Hai ông là biểu tượng tiên báo sự ra đời của Đức Giêsu. “Lề luật và ngôn sứ đàm đạo với Đức Giêsu và nói về Người. Trong một chú thích ngắn ngũi, thánh Luca trình thuật cho chúng ta về điều hai chứng nhân của Thiên Chúa nói với Đức Giêsu: “Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9,31). Đề tài đàm đạo của các ngài là thập giá, nhưng hiều ngầm là cả cuộc “Xuất hành của Đức Giêsu” phải diễn ra tại Giêrusalem. Thập giá Đức Giêsu là cuộc xuất hành, một việc bước ra khỏi cuộc sống này, vượt qua Biển Đỏ của cuộc khổ nạn và tiến đến vinh quang, dù vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn”. (sđd trang 268).

Ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê có những trải nghiệm tuyệt vời về Thầy của mình. Cũng vẫn là Đức Giêsu bằng xương bằng thịt mà các ông vẫn thường gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày, nhưng lần này, các ông được nhìn thấy Người dưới một dung mạo mới: thật sáng ngời, thật hấp dẫn và đầy uy nghi. Các ông vững lòng tin tưởng.

3. Núi Golgotha, núi tình yêu

Trên núi cao, Đức Giêsu gặp gỡ thân mật với Chúa Cha. Bỗng chốc Người biến hình. Các môn đệ ngất ngây trong niềm hạnh phúc tuyệt vời. Các ông muốn ở lại trên núi để sống niềm hạnh phúc ngập tràn ấy. Các ông muốn níu kéo khoảnh khắc thần tiên ấy lại nên Phêrô thay mặt anh em thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môisen, và một cho ông Êlia”.

Các môn đệ muốn đăng ký thường trú trên núi Tabor, muốn đắm mình trong hào quang rực rỡ. Họ bỏ lại dưới chân núi các bạn đồng môn, các cuộc truyền giáo của Thầy. Họ muốn xa rời dân chúng đang khao khát Lời Chúa. Nhưng Đức Giêsu đưa các môn đệ trở xuống. Người chỉ lên đỉnh Tabor trong chốc lát rồi xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên núi Golgotha. Xuống núi để chu toàn nhiệm vụ trần gian. Đức Giêsu phải chịu khổ nạn, chịu chết rồi mới Phục Sinh mở lối vào thiên đàng. “Cảm nghiệm sự kiện Hiển Dung đã giúp cho thánh Phêrô nhận thức trong lúc ngất trí, những thực tại được biểu trưng trong các nghi thức của ngày lễ đã được hoàn tất, biến cố Hiển Dung loan báo thời đại Messia đã bắt đầu. Mãi khi xuống núi, thánh Phêrô lại phải học hỏi một lần nữa, thời đại Messia trước tiên là thời đại của thập giá và việc Hiển Dung, Chúa biến dạng thành ánh sáng, sẽ bao trùm chúng ta trong ánh sáng của cuộc khổ nạn.”. (sđd trang 269).

Hai đỉnh núi: núi Tabor và núi Golgotha cách nhau không xa về địa lý nhưng lại là con đường vạn lý. Chỉ có con đường thập giá tình yêu mới nối liền hai núi mà thôi.

Thánh Phêrô cùng các Tông đồ còn phải vượt qua những yếu đuối, sa ngã, còn phải nỗ lực vượt qua mọi khó khăn thử thách, còn phải chịu đau khổ vì Thầy chí thánh, còn phải trải qua cái chết đớn đau rồi mới tới được Núi Thánh thiên quốc như lòng mong ước. Các ngài chỉ đi một con đường Thầy mình đã đi qua. Đó là con đường thánh giá tình yêu.

4.     Muốn tới vinh quang phải đi qua thập giá tình yêu và niềm tin.

Ba môn đệ thân tín được Đức Giêsu dẫn lên núi Tabor. Ở đó cả ba nhìn thấy vinh quang của vương quốc Thiên Chúa chói sáng nơi Đức Giêsu. Trên núi, đám mây thánh thiện của Thiên Chúa bao phủ họ. Trên núi, trong cuộc đàm đạo của Đức Giêsu Hiển Dung với Lề luật và Tiên tri, họ hiểu rằng, giờ của ngày Lễ Lều đích thực đã đến. Trên núi, họ cảm nghiệm, Đức Giêsu chính là Tora sống động, là lời trọn vẹn của Thiên Chúa. Trên núi, họ thấy “quyền lực” của vương quốc đang đến trong Đức Kitô. Nhưng chính trong sự gặp gỡ đáng sợ với vinh quang của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, họ phải học biết điều thánh Phaolô nói trong lá thư thứ nhất gởi giáo đoàn Côrintô với các môn đệ thuộc mọi thời đại: “Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, Người là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1,23-24). Sức mạnh của vương quốc tương lai xuất hiện nơi Đức Giêsu Hiển Dung, Đấng nói với các chứng nhân Cựu ước về sự cần thiết của cuộc khổ nạn như con đường tiến đến vinh quang (x. Lc 24,26-27). Như thế, họ được tiền dự vào ngày quang lâm; nhờ đó dần dần họ được dẫn vào mầu nhiệm sâu thẳm của Đức Giêsu.(sđd trang 273).

Muốn đạt tới vinh quang núi Tabor, cần phải vượt qua được hai ngọn núi Moria đức tin và Golgotha tình yêu một cách trọn vẹn. Lúc ấy,thật là hạnh phúc được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CHÚA NHẬT V-TN B

Rao giảng và chữa lành – Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Mới đọc đoạn Tin Mừng này tôi có ấn tượng Đức Giêsu coi việc chữa lành các người bệnh tật ốm đau chỉ là công tác phụ, trong khi sứ mệnh chính của Người là rao giảng. “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” Lý thuyết là như thế, nhưng đứng về phía đám quần chúng bình dân thì rõ ràng, phần đa họ tìm đến với Người trước hết để được chữa lành khỏi bệnh hoạn tật nguyền. “Mọi người đang tìm Thầy đấy!” Và cũng chính vì được chứng kiến các việc chữa lành mà dân chúng tin vào lời Người giảng dạy; ‘Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền’ (c.22).
Hình như hơn ai hết chính Đức Giêsu đã ý thức rất rõ điều này: không lời giảng dạy nào về một Thiên Chúa nhân ái từ bi đối với một nhân loại đau khổ lại hữu hiệu và hùng hồn cho bằng khi nhân danh Người mà rộng tay chữa lành các thương đau phần xác cũng như phần hồn của con người cùng khốn. Ngay cả đối với các môn đệ mới chiêu mộ, Đức Giêsu cũng đã hoàn toàn chủ động trong việc này; do đó Người đã chữa bà mẹ vợ ông Si-mon khỏi cơn sốt, cho dù không ai yêu cầu. Phải chăng đó chính là để ‘các môn đệ tin vào Người’, theo cách nói của Gio-an sau phép lạ nước hóa thành rượu tại tiệc cưới Ca-na (Ga 1:8)? Khi dài dòng thuật lại rất nhiều phép lạ Đức Giêsu đã thực hiện, chắc hẳn tác giả Mác-cô muốn tô đậm nơi Người nét ông thầy thuốc tốt lành tới chữa lành bệnh nhân tật nguyền; Người ‘chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật’; và hình như đó cũng chính là hình ảnh mà Người sẽ dùng để tự giới thiệu mình: “Người khỏe mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mc 2:17).
Như vậy đối với Đức Giêsu, rao giảng và chữa bệnh không phải là hai công việc tách rời nhau. Bởi nếu nội dung cốt lõi của sứ điệp Tin Mừng chính là ‘Thiên Chúa nhân ái quan tâm đến số phận của con người yếu hèn trong cả lãnh vực thể lý lẫn tinh thần’ thì chắc chắn lời rao giảng hùng hồn và sắc bén nhất sẽ phải là ‘chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền’ và ‘sua trừ ma quỉ’. Đức Giêsu hẳn có ý nói điều này khi bảo các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa.” Mác-cô còn ghi nhận thêm: ‘Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỉ’ (nên lưu ý là người Do Thái thời Đức Giêsu cho rằng mọi bệnh tật đều do ma quỉ mà ra). Qua các việc chữa lành này Người chỉ muốn cho mọi người được biết: Thiên Chúa từ nhân đã đến với họ, đang thật sự ở giữa họ, đang đồng hành với họ, cảm thông nỗi thống khổ yếu đuối của họ, và tích cực can thiệp theo cách thức của riêng Người.
Suy niệm trên xem ra chẳng có gì là quan trọng cho lắm, tuy nhiên nó sẽ giúp ta tránh được điều mà nhiều tín hữu thường mắc phải khi cho rằng Tin Mừng hệ tại ở việc lãnh hội các tín điều cao siêu (điển hình các công thức tuyên tín phức tạp chứa đựng trong Kinh Tin Kính Ni-cê chẳng hạn…); và cho rằng làm bác ái chỉ là việc phụ, tiểu tiết tùy nghi theo khả năng mỗi người, có mục đích duy nhất làm gia tăng công nghiệp trước mặt Chúa hầu đảm bảo phần rỗi linh hồn; rồi khi đọc Phúc Âm sẽ cho rằng việc Đức Giêsu làm các phép lạ chẳng qua là để chứng tỏ quyền phép vượt trội hầu thúc ép dân chúng tin lời Người giảng dạy…; rằng những học thuyết cao siêu gồm các qui định luân lý và giới luật tân kỳ mới thật là điều Người xuống thế để dạy dỗ. Suy niệm trên hơn bao giờ hết giúp tôi nhận ra Lời Tin Mừng thật nhất quán, chặt chẽ và đầy thuyết phục: ‘Đức Giêsu – Lời’ đến trần gian để tuyên bố sứ điệp tình yêu của ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi…’ và tình yêu đó cũng thật cụ thể: ‘Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ’ (Ga 3:16.17). Thế đấy, toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu chỉ là một ‘Lời tình yêu cứu độ’, Lời trong sứ điệp, Lời trong hành động, Lời trong các phép lạ, thậm chí Lời trong cái chết tự hiến trên thập giá và Lời trong sự Phục Sinh chứa chan niềm hy vọng. Tóm lại tôi nhận ra rất rõ nội dung duy nhất của sứ vụ Đức Giêsu trên trần gian chính là để quảng bá và thể hiện mọi nơi mọi chốn một ‘Thiên Chúa yêu mến thế gian’ bằng trọn cả con người Ngài.
Vì là một tu sĩ Sa-lê-diêng, tôi nhiều lần đã áp dụng cho Đức Giêsu câu nói mà chúng tôi vẫn thường dùng để nói về Don Bosco: “Người không đi một bước, không nói một lời, không bắt tay vào bất cứ việc gì, mà không phải vì…phần rỗi giới trẻ!” Ở đây phải là, trong Tin Mừng ‘Đức Giêsu đã không hề đi một bước, không nói một lời, không bắt tay vào bất cứ việc gì mà không phải vì… muốn chứng tỏ và thể hiện rằng Thiên Chúa yêu mến trần gian cách tuyệt đối tới độ…!’
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con được chia sẻ khát vọng Chúa muốn cho Tin Mừng tình yêu nhân ái được thể hiện và nhận biết ‘ở các nơi khác… các làng xã chung quanh nữa’. Con, một linh mục của Chúa, ước mong rằng: mình sẽ không chỉ giảng dạy sứ điệp Tin Mừng này bằng lời nói suông, nhưng phải bằng cả thái độ sống và hành động. Xin cho con biết rao giảng Lời Chúa qua các dấn thận phục vụ quảng đại, mọi nơi và cho hết thảy mọi người. A-men.