CHÚA NHẬT LỄ MẸ MÂN CÔI

 




MẸ MÂN CÔI, MẸ HÒA BÌNH

                                                                                                                      Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Ngày 21 tháng 9 vừa qua, Cao ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã long trọng vinh danh Nữ Tu Công Giáo Angelique Namaika và trao tặng cho chị giải thưởng Nansen. Đây là giải thưởng cao quý của Cao ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc để tôn vinh những người làm việc với những người tị nạn. Chị Angelique Namaika đã giúp thay đổi cuộc sống của hơn 2.000 phụ nữ và các bé gái đã bị buộc phải rời nhà của họ sau khi bị nhóm Quân đội Kháng chiến của Allah lạm dụng trong những năm dài địa ngục của họ. (x. Vietcatholic 30.9.2013).
Hôm nay ngày 7 tháng 10, Giáo hội suy tôn một phụ nữ diễm phúc nhất trần gian, đó chính là Đức Mẹ Mân Côi. Với tâm tình sùng mộ, mọi tín hữu suy tôn Mẹ Maria là Nữ Vương Ban Sự Bình An. Suốt tháng Mân Côi, Hội Thánh khắp nơi hướng về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Lòng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ trong thời gian này mang một đặc điểm riêng. Đó là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi. Kinh Mân Côi là lời kinh hòa bình. Bằng chuỗi Mân Côi, Hội Thánh cầu nguyện cho hòa bình thế giới, mỗi người cầu xin bình an cho gia đình cho tâm hồn mình.
Lễ Đức Mẹ Mân Côi được ĐGH Piô V thiết lập để ghi nhớ chiến thắng của Hải quân Kitô giáo với quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Lepanto ngày 7-10-1571. Chiến thắng là nhờ các tín hữu lần Chuỗi Mân Côi dâng kính Đức Mẹ ở Rôma vào ngày giao chiến. Một phép lạ của Đức Mẹ trong Tháng Mân Côi. ĐGH Leo XIII đã thiết lập Tháng Mười là tháng Mân Côi vào ngày 1-9-1883 và đã công bố con số kỷ lục là 11 Tông thư về Chuỗi Mân Côi trong triều đại Giáo hoàng của ngài.
Ngày lễ kính Đức Mẹ Mân Côi, suy tôn Mẹ là Nữ Vương Ban Sự Bình An với 3 lý do.
1. Lý do thứ nhất
Mẹ đã đóng góp cả cuộc đời mình cùng với Chúa Giêsu mà giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Kinh Mân Côi, xét về phương diện mầu nhiệm suy gẫm, là kinh về Chúa Giêsu. Nhưng xét về nội dung thành phần của chuỗi hạt, tức là từng kinh Kính Mừng, thì đó là kinh về Đức Maria. Mẹ kết hợp cuộc đời mình với Chúa Giêsu qua 20 ngắm: Vui, Sáng, Thương, Mừng. Vui là vui với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm nhập thể; Sáng cũng là sáng với Chúa Giêsu qua mọi nẻo lối rao giảng Tin Mừng; Thương là thương cùng với Chúa Giêsu trên đường Thánh giá; và Mừng còn là mừng cùng với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm phục sinh. Mỗi ngắm như thế là mỗi phần đời khác nhau, nhưng liên kết cả 20 ngắm lại sẽ thấy cuộc đời của Đức Mẹ gắn bó với đời của Chúa Giêsu không rời nửa bước. Con đi đâu thì Mẹ theo đi đó: Con xuống thế làm người chuộc tội nhân loại, thì Mẹ cũng hiệp công với Con của mình từ đêm giáng sinh cho đến chiều tử nạn mà bước đi trên đường giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi. Con của Mẹ là Chúa Giêsu được xưng tụng là Hoàng Tử Hòa Bình, đến chuộc tội nhân loại, giao hòa con người với Chúa Cha, thì Mẹ vì sự gắn bó, hợp tác, hiệp công với Con của mình trong suốt hành trình như thế cũng đã trở nên Nữ Vương Hòa Bình cho toàn thế giới. Nếu Eva xưa đã để lại thảm họa, thì với Mẹ Maria cách riêng trong kinh Mân Côi, cách riêng hơn nữa trong lời kinh Ave Maria, nền hòa bình viên mãn của trời đã chính thức mở ra. Vì vậy, Đức Mẹ trong kinh Mân Côi, hay Đức Mẹ Mân Côi cũng chính là Nữ Vương Hòa Bình.
2. Lý do thứ hai
Vì Mẹ cũng hỗ trợ con người trong công cuộc xây dựng hòa bình với nhau.
Vào thế kỷ XIII, bè rối Albigeois nổi lên ở miền Nam nước Pháp. Với Chuỗi Mân côi do Đức Mẹ truyền dạy, chỉ trong một thời gian ngắn, thánh Đaminh đã cảm hóa được 150.000 người theo bè rối trở về cùng Giáo Hội.
Thế kỷ XVI, ảnh hưởng của Tin lành mạnh mẽ và đe dọa toàn cõi Âu Châu. Dân thành Luxembourg vẫn trung thành với Giáo Hội. Hôm ấy toàn thể dân phố được mời tới nhà thờ để nghe giảng thuyết. Khi vị mục sư bước lên tòa giảng, một người giáo dân xướng kinh và tất cả nhà thờ đều lần hạt to tiếng cho đến lúc vị mục sư phải bước xuống tòa giảng và ra khỏi nhà thờ. Nhờ kinh Mân Côi, dân thành Luxembourg giữ vững niềm tin và trung thành với Giáo Hội.
Năm 1511, lịch sử được chứng kiến một thành quả vĩ đại của Kinh Mân Côi mang lại. Chính biến cố lịch sử này là nguồn gốc lễ kính Thánh Mẫu Mân Côi. Khi ấy quân Hồi xâm lăng Âu Châu, tàn phá những nơi họ đi qua, tiêu diệt dân Công giáo. Cùng với việc triệu tập đạo quân thánh giá từ hai nước Ý và Tây Ban Nha, Đức Giáo hoàng Piô V kêu gọi mọi người siêng năng lần chuỗi Mân Côi.
Cuộc chiến quá chênh lệch đã diễn ra tại vịnh Lepante, nhưng với quân số ít ỏi và khí giới thô sơ, người Công giáo đã thắng trận vẻ vang trước đoàn quân Hồi giáo đông đảo và trang bị hùng hậu. Từ Roma, Đức Giáo hoàng nghe tin chiến thắng và nói với các vị trong giáo triều hãy tạ ơn Chúa. Hôm đó là ngày 07 tháng 10. Đức Giáo hoàng đã thiết lập lễ Mân Côi để tạ ơn Đức Mẹ và ghi nhớ cuộc chiến thắng lịch sử này.
Trước năm 1917, Bồ Đào Nha ở vào một tình trạng suy thoái một cách trầm trọng về phương diện tôn giáo. Gần hai thế kỷ, óc bè phái đã gây nên những chia rẽ và những cuộc nội chiến. Giáo Hội bị bách hại bởi những kẻ theo nhóm tam điểm. Nhà thờ bị phá hủy, các linh mục và tu sĩ bị bắt bớ, khắp nơi người ta tổ chức những đoàn hội chống lại Giáo Hội. Thế nhưng kể từ năm 1917, năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, Bồ Đào Nha đã đi vào một khúc quanh mới của lịch sử. Người ta tổ chức những đoàn hội chuyên lo lần hạt Mân Côi để xin Mẹ chấm dứt những xáo trộn và ban mọi ơn lành xuống cho đất nước. Bồ Đào Nha đã xứng đáng với tước hiệu quê hương của kinh Mân Côi.
Lịch sử còn ghi lại nhiều thành quả kỳ diệu khác nữa của Kinh Mân Côi. Chẳng hạn Kinh Mân côi đã mang lại chiến thắng tại Vienna ngày 12 tháng 9 năm1683, hay đã chấm dứt bệnh dịch tại Milan...
Chuỗi Mân Côi chính là một phương thế hòa bình hữu hiệu của mỗi tín hữu. Khi hiện ra tại Lộ Đức hay tại Fatima, Đức Mẹ đều kêu gọi chúng ta hãy siêng năng lần chuỗi Mân Côi. Ở đâu kinh Mân Côi được ưa chuộng, ở đó tước hiệu hòa bình đi liền với danh xưng của Mẹ cũng được mộ mến. Ở đâu kinh Mân Côi được cổ võ thì ở đó cũng vang lên lời cầu nguyện tha thiết: "Nữ Vương ban sự bình an, cầu cho chúng con". Xét về cấu trúc của kinh Mân Côi phần sau của mỗi ngắm chúng ta quen đọc "ta hãy xin cho được" ơn này ơn khác, hoặc phần sau của chính kinh Kính Mừng với câu "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời...", chúng ta cũng thấy cả một dự phóng, cả một chương trình, cả một lời kinh dâng lên Mẹ Mân Côi mong hòa bình nội tâm, làm tiền đề cho cách cư xử giao hòa của con người với Thiên Chúa cũng như cách đối xử hòa bình giữa con người với nhau. Đằng nào cũng thế, giúp đỡ con người dập tắt chiến tranh năm xưa (lý do của lễ Mân Côi) hay là nâng đỡ con người xây dựng hòa bình hôm nay, Đức Mẹ Mân Côi trong lòng Giáo Hội chính là tượng đài Nữ Vương Hòa Bình.
3. Lý do thứ ba
Vì Mẹ còn khuyên tất cả mọi tín hữu siêng năng lần hạt và coi chuỗi kinh Mân Côi như là phương tiện hun đúc hòa bình. Ngày 13 tháng 10 năm 1917 tại Fatima, Đức Mẹ đã hiện ra và ban sứ điệp: cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt, tôn sùng trái tim Mẹ. Đây chính là lộ trình nên Thánh bao gồm ba bước tiếp theo nhau. Chuỗi Mân Côi được đặt như một nhịp cầu giữa một bờ là tội lỗi nhân loại và bờ bên kia chính là ơn thánh hóa của Thiên Chúa. Cũng như việc lần hạt chuyên cần là một phương tiện hiệu quả giúp chúng ta đạt được hòa bình. Chính trong ý nghĩa này, kinh Mân Côi phải được gọi là Kinh của hòa bình. Bao giờ cũng thế, trong nghệ thuật công giáo, Đức Mẹ không đứng một mình, luôn luôn có Chúa Giêsu hiện diện, hoặc trong những thế kỷ gần đây tại Lộ Đức, cũng như tại Fatima, Đức Mẹ hiện diện với chuỗi Mân Côi. Nếu có ai hỏi tôi: Đức Mẹ có lần hạt không? Chắc chắn tôi sẽ đưa ra lời khẳng định: Có. Không chỉ vì Đức Mẹ đã lần chuỗi chung với ba trẻ ở Fatima hoặc với cô Bernadette ở Lộ Đức, mà còn ngay trong mầu nhiệm của chuỗi kinh Mân Côi đã có sự hiện diện của Đức Mẹ rồi. Có nghĩa là Mẹ cùng lần hạt với chúng ta và hơn nữa Mẹ kêu gọi chúng ta lần hạt. Cá nhân lần hạt Mân Côi, cá nhân vui sống thảnh thơi an bình; gia đình lần chuỗi Mân Côi, gia đình hạnh phúc một đời an vui. (x. ĐGM Giuse Vũ Duy Thống, bài giảng tại Tàpao ngày 13-10-2011).
Giáo hội tôn vinh Đức Mẹ Mân Côi là Nữ Vương Hòa Bình. Chuỗi Mân Côi là chuỗi kinh của nền hòa bình. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận khuyên nhủ: "Chuỗi Mân Côi là giây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm con đường hy vọng của Mẹ: âu yếm như Bêlem, khắc khoải như Ai Cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên thánh giá, vui mầng lúc phục sinh, tông đồ bên thánh Gioan. Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Đừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ" (Đường Hy vọng số 922); "Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán" (Đường Hy vọng số 947).
Lạy Mẹ Mân Côi, Nữ Vương Hòa Bình, xin giúp chúng con siêng năng lần hạt Mân Côi. Nhờ đó, chúng con có thể cộng tác với Mẹ trong công cuộc xây dựng nền hòa bình thế giới và đem ơn cứu độ cho muôn dân. Amen.

ĐỨC MẸ MÂN CÔI


ĐỨC MẸ MÂN CÔI


"Lần hạt Mân côi từ bao năm tháng đã là tỏ lòng kính mến Đức Mẹ. Thực hành này đã có một chiều sâu mới trong thời chúng ta. Ngày 7 tháng 10 năm 1571, một thuyền đoàn Kitô Giáo gồm 206 chiếc thuyền với 80 ngàn người do thánh Giáo Hoàng Piô thứ V tổ chức, và do Don John của Áo Quốc lãnh đạo đã quyết thắng thuyền đoàn của Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo với 320 chiến thuyền và 120 ngàn binh sĩ và người chèo tù nhân Kitô giáo của Thổ Nhĩ Kỳ trong vịnh biển Hy Lạp. Một lần nữa, đoàn quân Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo không chế ngự được đoàn quân Kitô giáo Âu châu. Trong trận hải chiến này, nhóm Mân Côi Rôma đã lần chuỗi Mân Côi để cầu thắng cho Hải đội Kitô Giáo trong nhà thờ Đức Bà. Khi tin đoàn thắng được loan ra, ai ai cũng nhìn nhận đó là sự bầu cử của Đức Mẹ. Đức Giáo Hoàng Piô thứ V thuộc dòng Đaminh rất sùng kính Kinh Mân côi đã lập ra lễ Đức Bà Toàn Thắng để đánh dấu sự chiến thắng nói trên. Về sau lễ này được đổi ra là lễ Đức Mẹ Mân Côi mà Giáo hội vẫn giữ vào ngày 7/10 mỗi năm. Khi người ta lần hat ở các đám tang đêm trước ngày chôn cất, người chủ sự thường nhân cơ hội dể đọc hết 150 kinh Mân côi, các Sự Vui, Sự Thương, và Sự Mừng, với kinh mở đầu cho lễ Đức Mẹ Mân Côi. Đó là tóm tắt đầy đủ nhất của cuộc đời Mẹ Maria và Chúa Giêsu Con Mẹ. Mặc dù Đức Mẹ trao chuỗi Mân Côi cho thánh Dômincô không được coi có tính cách lịch sử, nhưng sự phát triển của kinh nguyện này là nợ lớn đối với những đệ tử của thánh Đôminicô.

Lạy Chúa xin đổ tràn tim chúng con với tình thương của Chúa. Chúa đã sai thiên thần báo cho chúng con, Con Chúa giáng trần làm người. Xin hãy đưa chúng con đến sự vinh quanh phục sinh nhờ cuộc khổn nạn và cái chết của con Chúa. Amen.
                                                                                        Nguồn giáo phận Vĩnh Long




THÁNG 10

NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
01/10
Lễ thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu
*Chị Bề trên Giám tỉnh 
* Bổn mạng Tuyển Sinh
04/10
Lễ thánh Phanxicô Assisi
Chị Khiêm
05/10
Lễ thánh Faustina
Chị Tuyết
07/10
Lễ Mẹ Mân Côi
* Bổn Mạng Hội Dòng
* Chị Thủy Tiên
15/10
Lễ thánh Têrêsa Avila
Chị Cần
16/10
Lễ thánh Maguerite
Chị Tươi
18/10
Lễ Thánh Luca
Chị Hà

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM
TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN


NGÀY
LỄ GIỖ
16/10
Bà cố Maria - Thân mẫu Dì Cẩm


Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu - Trinh nữ, Tiến sĩ Hội Thánh


Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Ngày kính: 01 tháng 10
Ngày 19 tháng 10 năm 1997, thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu được ĐGH Gioan Phalô II trao tặng danh hiệu Tiến sĩ Hội thánh. Ngài là người trẻ nhất (24 tuổi) trong 3 vị nữ thánh được trao tặng danh hiệu này.
Nhìn vào cuộc đời của chị Têrêsa chúng ta chắc không khỏi ngạc nhiên thắc mắc: “Đâu là điều khiến chị có được danh hiệu ấy?”; bởi cuộc đời chị quá đơn giản và bình thường, chẳng có chi là nổi trội. Thậm chí có người còn nhận xét: “Có lẽ với cuộc đời ấy chị đã chìm vào quên lãng, nếu không để lại cuốn tự thuật ‘Truyện một tâm hồn’ mà chị viết vì vâng phục.”
Bạn đã bao giờ nghe về Thánh Thérèse hay Thánh Têrêsa Hài Đồng và những bí mật về thánh nữ? Bạn có biết tại sao có rất nhiều người chọn ngài làm thánh quan thầy, và là người bạn gần gũi nhất của mình không?
Chúng ta hãy bắt đầu tìm hiểu…
Câu chuyện của Thérèse Martin
Thérèse Martin sinh ra trong một thị trấn thuộc Alencon, Pháp vào ngày mùng 2 tháng 1 năm 1873. Chị ấy là con gái út trong gia đình gồm 5 chị em gái. Khi chị ấy còn rất nhỏ, mẹ của chị ấy mắc căn bệnh ung thư. Vào thời đó, họ không có thuốc và sự điều trị tốt như ngày nay. Các bác sĩ đã cố gắng hết sức nhưng căn bệnh của bà Martin vẫn ngày càng nặng thêm. Bà ấy đã mất khi Thérèse mới chỉ 4 tuổi.
Đó là khi bố của Thérèse quyết định tốt hơn nên chuyển nhà đến Lisieux, một thị trấn khác, nơi có nhiều người thân sinh sống. Ở đó có tu viện Carmelite, một tu hội dòng kín, nơi mà các thiếu nữ làm một công viêc đặc biệt đó là cầu nguyện cho toàn thế giới. Khi Thérèse được 10 tuổi, một chị gái của chị là Pauline đã xin nhập dòng Carmelite ở Lisieux. Điều đó thật khó khăn cho Thérèse vì chị Pauline giống như người mẹ thứ hai của Thérèse, chăm sóc và dạy dỗ chị ân cần như mẹ chị đã từng làm. Thérèse nhớ chị Pauline đến phát ốm. Suốt cả tuần sau đó chị vẫn chưa khỏi, các bác sĩ không biết chị ấy đã gặp vấn đề gì. Bố và 4 chị gái của Thérèse đã cầu xin Thiên Chúa giúp. Một ngày sau, tượng Đức Mẹ trong phòng ngủ của Thérèse bỗng dưng mỉm cười với Thérèse và chị ấy hoàn toàn bình phục!
Một lần khác, Thérèse nghe tin về một người đàn ông đã gây ra ba vụ giết người và thậm chí còn không biêt hối lỗi. Chị ấy quyết định cầu nguyện và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho ông ấy (như từ bỏ một cái gì đó mình thích hay làm một việc nào đó mà mình không thích). Chị ấy cầu xin Chúa thay đổi tâm hồn người đàn ông ấy. Trước khi người đàn ông đó chết, ông ta hỏi về cây thánh giá và hôn lên hình Chúa Giêsu. Thérèse cảm thấy rất hạnh phúc, chị biết rằng ông ta đã tin vào Chúa và nhân đón nhân ơn sám hối.
Thérèse rất yêu mến Chúa Giêsu. Chị muốn dâng hết cả con người mình cho Chúa. Chị  muốn gia nhập dòng Camelô để có thể dâng hiến đời mình để làm việc và cầu nguyện cho mọi người, nhất là những người còn chưa biết đến lòng thương xót Chúa. Nhưng Thérèse  gặp một trắc trở. Chị ấy còn quá trẻ, chị cần phải cầu nguyện và chờ đợi thêm. Cuối cùng thì chị  cũng được 15 tuổi, được phép gia nhập vào tu viện.
Chị Thérèse đã làm gì trong thời gian ở tu viện? Không gì đặc biệt cả. Bí mật của chị ấy là:  YÊU MẾN. Có một lần Thérèse nói rằng: “Thiên Chúa không muốn chúng ta phải làm điều này điều kia cho Ngài, mà Ngài muốn chúng ta yêu Ngài là đủ”. Vì thế, Thérèse đã ước muốn và thực hành đời sống yêu mến Chúa. Chị tập kiên nhẫn và ân cần với mọi người, điều đó thật không dễ chút nào. Trong thời ấy, lúc các chị đang giặt quần áo bằng tay (lúc đó máy giặt chưa được phát minh!).  Có một chị luôn làm bắn tóe nước bẩn vào mặt chị Thérèse. Nhưng Thérèse chẳng bao giờ tỏ ra bực bội. Thérèse thường hay giúp đỡ một chị lớn tuổi có tính cáu gắt và luôn phàn nàn về mọi thứ, bởi vì chị Thérèse không cảm thấy thích việc đó. Thérèse muốn đối xử với chị ấy như với chính Chúa Giêsu. Chị biết rằng khi mình yêu những người khác tức là mình đang yêu chính Chúa Giêsu. Tình yêu khiến Thérèse trở nên hạnh phúc.
Thérèse chỉ sống đời tu 9 năm. Căn bệnh lao đã xảy đến với chị, nó khiến chị phải chịu rất nhiều đau đớn. Không có sự điều trị đối với căn bệnh ấy, các bác sĩ cũng không thể giúp được nhiều cho chị. Thérèse qua đời khi mới chỉ 24 tuổi. Nhưng trước khi chết, chị đã hứa sẽ không từ bỏ điều bí mật của mình. Chị hứa sẽ luôn yêu thương và giúp đỡ mọi người khi về quê trời. Trước khi mất, Thérèse đã nói: “Tôi sẽ gửi mưa ơn lành từ trời xuống mặt đất”. Và chị ấy đã làm được điều đó! Tất cả mọi người trên thế giới, những người đã nhờ thánh Thérèse Lisieux cầu xin đến Thiên Chúa đều nhận được sự đáp trả qua lời cầu nguyện của họ.
Bí mật của Thánh Têrêsa Hài Đồng
Thérèse đã khám phá ra “con đường nhỏ” để đến với Thiên Chúa: Thérèse muốn nên Thánh. Ngài biết Thiên Chúa rất muốn giúp đỡ mình và đặt hết mọi tin tưởng nơi Thiên Chúa và yêu Chúa hết cả tấm lòng, sau đó ngài quan tâm, đối xử tốt với mọi người xung quanh, từ những việc đơn giản nhất. “Con đường nhỏ” của Thérèse là làm mọi việc bạn có thể làm cho người khác vì yêu mến Chúa. Đó chắc chắn là cách để bạn có thể nên thánh.

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM C 2019


Vô Cảm, Cái Chết Từ Trong Tâm Hồn
Lm. Giuse Nguyễn

Những ngày này, chỉ cần vài giây, Google sẽ cho ra hàng triệu kết quả với cụm từ vụ án VN Pharma, là vụ án gây chấn động và bức xúc trong dư luận về việc mua bán thuốc điều trị ung thử giả xảy ra tại Công ty cổ phần VN Pharma. Những người liên quan đến vụ án này không chỉ phạm pháp, mà hơn thế nữa họ còn mang trong mình căn bệnh vô cảm. Thực tế trong y học không có bệnh vô cảm. Đó là căn bệnh của cách hành xử, căn bệnh của lối sống khi người ta không biết quan tâm đến người khác. Sự vô cảm càng nặng nề hơn khi họ lợi dụng nỗi đau của kẻ khác để trục lợi cho bản thân mình, trong khi lẽ ra họ phải là những người xoa dịu nỗi đau cho người khác. Dư luận lên án và bức xúc là phải, vì vụ án xảy ra liên quan đến nghành y tế, là nghành chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhưng nay lại lấy đi sức khỏe và mạng sống của họ. Ấy vậy mà trong quá trình xét xử, lại xuất hiện những hồ sơ mật. Báo Pháp Luật đưa tin: “Trong phiên xét xử ngày 24/09, đáng chú ý, trước khi chuyển sang phần xét hỏi, chủ tọa phiên tòa có lưu ý: Hồ sơ vụ án có một số tài liệu đóng dấu mật, tuyệt mật. Những người nào sử dụng tài liệu này phải chú ý, còn ai cố tình làm lộ bí mật sẽ bị xử lý theo quy định”. Vô cảm đến thế là cùng! Khi người ta phạm pháp mà còn cố tình dùng mọi cách để bao che.
Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật 26 Thường Niên hôm nay sẽ nói với chúng ta về chứng bệnh vô cảm này.
Bài đọc I (Am 6, 1a.4-7): Thời của tiên tri Amos là thời vinh quang tột đỉnh của miền Bắc Israel. Dân chúng sống sa hoa hưởng thụ, bám víu vào của cải vật chất, thể hiện một sự thịnh vượng mà không có nền tảng đạo đức. Nhưng đến thời đất nước lâm nguy bởi kẻ thù là Assua, họ vẫn quen với lối sống đó. Chính vì vậy Amos được sai đến để khiển trách họ. Họ bị lên án là vì lo hưởng thụ, ăn uống, chè chén say sưa mà không quan tâm đến vận mạng của đất nước. Tiên tri nói rõ: “Vì thế, giờ đây chúng sẽ bị lưu đày…. Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn!” (Am 6, 7). Đức Chúa không chấp nhận lối sống vô cảm, tức là sống mà không biết nghĩ đến người khác, không biết nhìn ra xung quanh.
Như thêm bằng chứng tố cáo lối sống vô cảm, Tin Mừng (Lc 16, 19-31) thuật lại việc Đức Giêsu kể một dụ ngôn mang tên ông nhà giàu và người nghèo khó Lazarô. Người giàu có trong dụ ngôn này không có lỗi gì để đáng bị hình phạt hỏa ngục. Đức Giêsu không hề nói sự giàu có của ông là nhờ ăn hối lộ, bán thuốc tây giả, làm ăn bất chính, hay trộm cắp, cướp giật… Ngài cũng không nói ông vi phạm ngày Sabat hay lề luật khác như bất hiếu, giết người, tà dâm… Ngài chỉ nói: “Ông ta mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”. Như vậy hưởng thụ tài sản do mình làm ra cũng có tội sao? Hay ông ta có tội không giúp đỡ Lazarô?
Lazarô không hề mở miệng xin: “Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại!” Lazarô chỉ “nằm trước cổng, thèm ăn những miếng bánh vụn từ trên bàn ông nhà giàu rớt xuống”. Không nói thì ai biết. Không xin thì ai cho. Chết đói là phải! Nhưng ông nhà giàu vẫn phải sa hỏa ngục không phải vì ông có tội, không phải vì ông ích kỷ, nhưng vì ông vô cảm. Thấy người kế bên mình đau khổ mà không một chút xót thương. Tội của ông là vô tâm, vô tình dẫn đến hậu quả tệ hại cho người khác. Hoặc chỉ đơn giản ông không hay có người nghèo trước cổng nhà mình.
Lời Chúa soi dẫn như vậy để chúng ta đừng tưởng mình không làm gì sai trái, mình giữ đạo đàng hoàng là đương nhiên lên thiên đàng. Thưa đó chỉ là giữ đạo. Bước theo Đức Kitô là phải sống đạo. Sự sống động của đạo Công giáo như chính dòng máu chảy trong con người, nó phải được luân chuyển chứ không thể ở yên một chỗ. Nếu ngày nào máu không được lưu thông, con người sẽ chết ; hoặc nếu lưu thông quá chậm chạp, sự sống cũng rất mong manh.
Sống đạo không phải chỉ là việc mến Chúa, mà còn phải là yêu người, vì đó là “mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy”. Thường thì chúng ta chỉ dừng lại ở việc mến Chúa: đi lễ, tuân giữ giới răn của Chúa, lề luật của Hội thánh thế là xong; có vất vả, có nặng nề, nhưng nếu cố gắng cũng sẽ được. Còn yêu người thì đòi hỏi ta phải hy sinh, chấp nhận dấn thân, chịu mất mát; thường ta chưa làm, hoặc làm mà chưa được, hoặc được mà chưa đủ.
Thiên Chúa là Tình Yêu nên Ngài không thể làm ngơ trước nỗi đau của nhân loại. Ngài phải đánh đổi bằng việc để Ngôi Hai xuống thế làm người, chuộc tội, chịu chết cho nhân loại. Con người không biết kêu đến ai, nhưng Thiên Chúa thấy được nỗi đau của họ nên đã ra tay cứu giúp.
Dân tộc Việt Nam sẽ chẳng biết Chúa là ai, chẳng thể kêu xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con!” nếu không có các nhà thừa sai Châu Âu tình nguyện đi truyền giáo, chấp nhận mọi gian lao, khổ cực, kể cả hy sinh mạng sống. Họ không an phận để tìm sự an nhàn cho bản thân.
Ngược lại với những tâm hồn dạt dào tình yêu, “trái tim không ngủ yên” là những con người vô cảm, họ yêu nhưng yêu chính bản thân họ. Vô cảm chính là sự trơ lì cảm xúc, dửng dung, thờ ơ, “máu lạnh” với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân. Họ đã chết từ bên trong tâm hồn.
Có thể dễ dàng nhận thấy đó là những người chẳng quan tâm gì đến việc chung của cộng đoàn, của Giáo xứ. Họ nghĩ rằng đó là việc của cha sở, của những người có trách nhiệm… Đúng vậy, trước hết nó là việc của những người có trách nhiệm, nhưng sự vô cảm, lối sống cầu an chính là nguyên nhân khiến người phú hộ phải rơi vào hỏa ngục. Sức sống của một Giáo xứ thể hiện qua tinh thần đoàn kết, qua việc mỗi người đều góp phần vào việc chung của Giáo xứ ; nếu không Giáo xứ đó đã chết từ bên trong vì lối sống vô cảm.
Lối sống vô cảm còn được nhìn thấy qua việc chúng ta sống quá giàu sang, sung túc, trong khi còn quá nhiều những người nghèo bên cạnh chúng ta. Đành rằng sự hưởng thụ của tôi chẳng làm hại ai, nhưng thử nghĩ một phần niềm vui của tôi nếu được san sẻ thì chắc chắn có nhiều người khác được nhờ.
Không khó nhận ra căn bệnh vô cảm trong cuộc sống khi càng ngày càng có nhiều người thờ ơ trước những đau khổ, trước những hoàn cảnh đáng thương của người khác, nhưng làm sao để chữa trị căn bệnh ung thư trầm kha này mới là vấn đề, nhất là người Công giáo luôn tự hào là đạo của yêu thương. Nếu không lo chữa trị thì căn bệnh này sẽ giết chết tâm hồn chúng ta khiến đời sống khô khan, cằn cỗi, không có sức sống.
Trước hết mỗi người phải kiên trì làm gương về sự phục vụ dù nhiều người muốn sống hưởng thụ. Cuộc đời vẫn tươi đẹp khi còn rất nhiều người âm thầm lo việc chung, thậm chí việc “bao đồng”. Cụ già 82 tuổi ở Đồng Tháp đã miệt mài 15 năm đi vá đường cho người dân đi. Ông già ngoài 70 tự nguyện đến nhà nào có cây kiểng trong xã để cắt tỉa.
Kế đến cần lập những nhóm bạn để chung tay giúp sức làm những việc có ích. Ví dụ đội tình nguyện cứu hộ SOS của các bạn trẻ ở Cà Mau, sẵn sàng giúp đỡ những ai gặp trục trặc về xe cộ. Những em thiếu nhi ở các Họ đạo bỏ ống heo để giúp đỡ những người nghèo…
Sau cùng, cần tập cho đi nhiều hơn là lãnh nhận.
Lạy Chúa, xin cho con một trái tim nhạy cảm để con biết “vui với người vui, khóc với người khóc”  ; đừng để con “chơi một mình”, nhưng biết đi cùng với người khác, dù việc đi cùng lắm lúc gây phiền toái cho con.