LINH ĐẠO VÀ NHỮNG LINH ĐẠO

Linh đạo là nỗ lực của một cá nhân hay một nhóm để gặp gỡ và cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa, của tha nhân và vũ trụ để đi vào sự sống và mừng vui cùng tất cả.

Linh đạo là gì và điều gì làm nên các linh đạo khác nhau?
Từ “linh đạo” (spirituality ) khá là mới trong thế giới nói tiếng Anh, ít ra là về mức độ sử dụng hiện nay. Trước những năm 1960, rất ít sách tiếng Anh có chữ “linh đạo” trong nhan đề, dù chuyện này đã phổ biến với thế giới nói tiếng Pháp rồi. Nửa thế kỷ trước, các ngòi bút thiêng liêng Công giáo La Mã viết về linh đạo, nhưng hầu như chỉ dùng những nhan đề như “Đời sống Thiêng liêng” và “Thần học Khổ hạnh” hay dưới các tên sùng đạo khác. Người Tin Lành và phái Phúc âm, hầu như đồng nhất linh đạo với lòng mộ đạo Công giáo La Mã và tránh xa từ này.
Hiểu trong pham vi giáo hội thời nay, thì linh đạo là gì? Có rất nhiều định nghĩa trong đủ thế loại văn học thiêng liêng, mỗi kiểu lại định nghĩa linh đạo theo một mục đích cụ thể. Có những định nghĩa hữu ích trong thảo luận hàn lâm, nhưng lại không hữu ích mấy với đại chúng. Thế nên, tôi xin mạo muội đơn giản hóa mọi chuyện bằng một định nghĩa rộng, mang tính liên tôn và đại kết, và mong là đủ đơn giản để phần nào hữu ích cho quý độc giả.
Linh đạo là nỗ lực của một cá nhân hay một nhóm để gặp gỡ và cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa, của tha nhân và vũ trụ để đi vào sự sống và mừng vui cùng tất cả. Các khuôn khổ và tập quán chung cụ thể phát triển từ điều này đã trở thành nền tảng cho nhiều linh đạo khác nhau.
Xét tận căn bản, có thể nói linh đạo là một “khuôn khổ” mà người ta chấp thuận. Ví dụ trong Kitô giáo, chúng ta gọi mình là môn đệ (disciple) của Chúa Giêsu Kitô. Từ “cương vị môn đệ” (discipleship) có gốc từ “khuôn khổ” (discipline). Một môn đệ là một người chấp nhận theo một khuôn khổ. Ấn giáo và Phật giáo gọi đây là “yoga.” Để là người theo Ấn giáo hay một Phật tử, thì phải thực hành một “khuôn khổ” thiêng liêng nhất định, mà họ gọi là yoga. Và đấy là điều cấu thành của bất kỳ việc hành đạo nào.
Mọi việc hành đạo đều là vấn đề đặt mình dưới một “khuôn khổ” nhất định. Nhưng chúng ta có thể phân biệt nhiều “khuôn khổ” tôn giáo khác nhau. Chúng ta có thể viện đến sự phân biệt của triết gia Aristotle. Ông phân biệt giữa “giống” và “loài”, ví dụ như chim là một giống, chim sẻ là một loài. Do đó, khi nhìn vào các linh đạo khác nhau, chúng ta có thể phân biệt giữa các khuôn khổ “chung” và các khuôn khổ “riêng biệt.” Kitô giáo, Do Thái giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Lão giáo, và các Tôn giáo Bản địa khác, là những linh đạo “chung.” Nhưng trong mỗi linh đạo đó, sẽ thấy có nhiều linh đạo “riêng biệt.” Ví dụ như trong Kitô giáo, sẽ thấy có Công giáo La Mã, Anh giáo, Tân giáo, Tin Lành, phái Phúc âm, Mặc Môn và phái Giáo đoàn. Đây là từng loài.
Rồi chúng ta có thể phân biệt xa hơn. Trong mỗi loài, sẽ có những “phân loài” là các “khuôn khổ” Kitô giáo riêng biệt. Ví dụ như, trong Công giáo La Mã, chúng ta có người theo linh đạo Đặc sủng của Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Camêlô, Dòng Salê. Hãy để ý cấu trúc, từ giống, đến loài, rồi phân loài. Xét về linh đạo, Kitô giáo là một giống, Công giáo La Mã là một loài, và Dòng tên hay Dòng Phanxicô (hay trong trường hợp của tôi là Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ) là một phân loài.
Tôi xin lỗi nếu có hơi thiếu tôn trọng khi dùng từ ngữ giống loài để nói đến các truyền thống đức tin được trân quý thậm chí bằng máu các vị tử đạo. Nhưng tôi hy vọng cách này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một vấn đề phức tạp và nguồn gốc của nó.
Không một ai hoàn toàn phụng sự Chúa của mình, cũng như không một ai hoàn toàn sống ngoài phẩm giá Chúa ban. Chúng ta cần được hướng dẫn. Chúng ta cần các khuôn mẫu hành xử và khuôn khổ đã được tin tưởng, được Chúa chúc phúc và xét cho cùng là phát xuất từ trên cao. Chúng ta gọi chúng là tôn giáo. Rồi trong các tôn giáo đó, chúng ta có thêm hỗ trợ qua gương mẫu đức hạnh cuộc đời các thánh và các nhân vật khôn ngoan. Như thế, trong Kitô giáo, chúng ta có mẫu gương và sự khôn ngoan đã được thử thách qua hai ngàn năm lịch sử của những người thành tín đã tạo nên các “khuôn khổ” có thể gúp ta sống cương vị môn đệ của mình tốt hơn. Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Camêlô, Dòng Don Bosco, phong trào Mazenodian, phong trào Đặc sủng, Opus Dei, Focolare, Công nhân Công giáo, Sant’Egidio, phong trào Cursillo, ACTS Missions, Catholic Christian Outreach, cùng nhiều nhóm khác nữa, đều là những linh đạo, và cũng như các bài tập và chế độ ăn kiêng từ các chuyên gia sức khỏe có thể giữ cơ thể lành mạnh, thì các bài tập khuôn khổ của các vị thánh, các vĩ nhân đường thiêng liêng, và các nhà hiền triết có thể giúp chúng ta trung thành đi theo Chúa Giêsu và được sinh ích hơn.
Linh đạo nào tốt nhất cho bạn? Điều đó tùy thuộc vào tính chất riêng, thiên hướng riêng, và hoàn cảnh của bạn. Không có kiểu một kích cỡ áp dụng cho tất cả mọi người. Cũng như mỗi một bông tuyết đều khác nhau, thì chúng ta cũng vậy. Chúa cho chúng ta tài năng và thiên hướng khác nhau, và cuộc đời lại đưa chúng ta vào các hoàn cảnh khác nhau.
Có câu rằng, những quyển sách chúng ta cần đọc tự tìm đến chúng ta, và tìm đến đúng vào lúc chúng ta cần đọc nó. Với linh đạo cũng thế. Linh đạo bạn cần sẽ tìm đến bạn, và tìm đến đúng lúc bạn cần nhất.
Ronald Rolheiser

J.B. Thái Hòa dịch

BẢY MỐI TỘI ĐẦU: TRIỆU CHỨNG VÀ CHỮA TRỊ

Bảy mối tội đầu tập trung và nuôi dưỡng tất cả các hình thức khác của tội và muôn vàn cách sa chước để cho tội lỗi hoành hành. Chúng là các căn bệnh của tâm hồn. Linh mục Sébastien Antoni kê các triệu chứng và cách chữa trị.

Nghĩ rằng có một danh sách đầy đủ các tội là bất cẩn. Làm sao biết hết tất cả tội? Thay vì gom lại, Giáo hội đề nghị nên nhận diện các khuynh hướng, các xung năng, các cội rễ của mọi hình thức tội, vì nếu không sẽ có nguy cơ chú ý đến hành vi mà không chú ý đến tội nhân trong bối cảnh của nó: con người, lịch sử, tâm lý…

Thánh sử Mátthêu viết danh sách do chính Chúa Giêsu đưa ra: “Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó là những cái làm cho con người ra ô uế” (Mt 15, 19). Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Galát đưa ra danh sách của mình: “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (Gl 5, 19-21).

Trong Tổng luận Thần học, Thánh Tôma Aquinô (1225-1274) trích lời Thánh Gregoria, ngài đưa ra danh sách những gì ngài gọi là tệ nạn. Có 7 tệ nạn biểu tượng cho toàn thể, tóm tắt tất cả những gì dẫn đến tội. Chúng tập trung và nuôi dưỡng tất cả các hình thức khác của tội và muôn vàn cách sa chước để tội lỗi hoành hành. Chúng là các căn bệnh của tâm hồn. Đó là bảy mối tội đầu.

Kiêu ngạo

Triệu chứng: Xác quyết mình tự đủ để có hạnh phúc. Tội này là tội muốn vượt lên Chúa và các người khác. Nó thúc giục người phạm tội “chèn người khác”, tìm cách chiếm đoạt để thành công, không bao giờ đi tìm sự giúp đỡ của người khác. “Tôi trước hết!” là châm ngôn của người kiêu ngạo. Kiêu ngạo là đầu mối của các tội khác.

Chữa trị: Tinh thần hài hước! Cười chính mình, cười các lỗi lầm của mình, cuối các quá độ của mình. Trau dồi lòng khiêm nhường chân thật, nhận thức mình luôn lệ thuộc vào Chúa và vào người khác.

Hà tiện

Triệu chứng: Đánh mất tự do khi chiếm hữu của cải và tiền bạc. Muốn có, và lúc nào cũng muốn có nhiều hơn, cho đến khi không còn biết phải làm gì với nó, và làm bằng mọi giá, bạo lực, phản bội, kể cả ăn cắp. “Luôn luôn thêm!” là châm ngôn của người hà tiện.

Chữa trị: Mở lòng ra với thế giới chung quanh và nhất là với những người nghèo nhất. Chia sẻ, cho đi. Khuyến khích sự tin tưởng vào ngày mai, phó thác mình trong bàn tay Chúa.

Dâm dục

Triệu chứng: Rối loạn trong quan hệ với cơ thể của mình và với người khác. Chỉ có lạc thú cho riêng mình mới quan trọng, trong khi cần phải chia sẻ một tình dục triển nở. Tình dục không phải là chuyện xấu, nó dự vào hành động sáng tạo và tăng trưởng của tình yêu, và đừng lẫn lộn với dâm dục. “Lạc thú của tôi trên hết!” là châm ngôn của người đồi bại về tình dục.

Chữa trị: Khiết tịnh. Có nghĩa là cân nhắc đúng đắn cơ thể mình và cơ thể người khác, nhớ rằng lạc thú của cơ thể không có ý nghĩa nếu nó không liên kết với quả tim.

Giận dữ

Triệu chứng: Tật xấu phá hủy mọi ngăn chặn để làm tổn thương người khác, không tự chủ, không kiềm chế bản thân. Đôi khi nó trào ra bằng bạo lực. Nó không chấp nhận bất cứ một kháng cự nào. “Tôi có lý!” là châm ngôn của người tức giận.

Chữa trị: Từ độ cao lùi lại một bước. Học kiên nhẫn, từ bỏ khao khát cầu toàn và làm hòa với quá khứ của mình bằng cách tha thứ.

Tham ăn

Triệu chứng: Vấn đề ở đây là trong chừng mực, phải biết các rối loạn nào dẫn đến chứng cuồng ăn hoặc chán ăn. “Sống để ăn!” là châm ngôn của người tham ăn.

Chữa trị: Tự chủ, cố gắng ăn chay. Lắng nghe cơ thể của mình, để ý đến nhu cầu cần thiết để sống của mình.

Ghen ghét

Triệu chứng: Tật xấu có họ hàng với tham lam, ghen ghét là nói đến con người, tham lam là nói đến của cải. Cả hai đều đưa đến việc không có khả năng bằng lòng và vui hưởng. Người ghen tương không những chỉ muốn mình được yêu mà còn muốn mình là người được yêu nhất. Để được như vậy, đối với họ, mọi phương tiện đều tốt! “Không có ai ngoài tôi!” là châm ngôn của người ghen tương.

Chữa trị: Nhận thức giới hạn cũng như đức tính của mình. Không được so sánh. Học để cùng vui với điều tốt đẹp người khác làm, với của cải người khác có.

Lười biếng

Triệu chứng: Lười biếng là hai thái quá của hành động. Trước hết là thiếu sáng kiến, từ chối trách nhiệm và phục vụ. Sau đó là nghịch lý, buông mình theo tất cả xung năng của mình, từ chối kiên trì. Tính hay thay đổi là anh em họ với tính lười biếng. Nó làm cho người lười biếng không “ở lâu” cầu nguyện, không dấn thân lâu dài, không có quan hệ với ai lâu dài. “Tôi không thích!” là châm ngôn của người lười biếng.

Chữa trị: Không làm những chuyện chỉ vì “thích”, giữ vững mục đích, bám trụ, đừng để sự việc quyết định giùm cho mình. Phải dấn thân!

Marta An Nguyễn dịch
(phanxico.vn/ croire.la-croix.com, Sébastien Antoni)

Tâm tình sống Mùa Chay: Dòng sông thanh tẩy (bài 3)

Cần nhìn ngắm Đức Giêsu, không chỉ để thanh tẩy lời nói, cách nói, mà còn đào luyện cho mình khả năng biết dùng lời nói để làm dịu nhẹ những cơn giận dữ, để tha thứ cho những ai xúc phạm, để cảm thông...

 I. THANH TẨY BÊN NGOÀI
Việc thanh tẩy nội tâm là điều thiết yếu, vì mọi hành động của con người đều bắt nguồn từ bên trong. Tuy nhiên, nó cũng phải gắn liền với việc thanh tẩy bên ngoài qua cách nói năng, làm việc, và mọi biểu hiện của nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý, mà nhà Phật gọi là Lục căn. Nếu coi thường việc thanh tẩy bề ngoài, e rằng chúng ta lại rơi vào chủ nghĩa “duy tâm”, trở nên xa lạ với cuộc sống hiện tại, xa vời với những hoàn cảnh thực tế, xa xôi với những gì mình đang là. Sống siêu thoát như thế có nguy cơ bị “siêu vẹo”, nên cần có sự chống đỡ và hỗ trợ từ bên ngoài.

Biết rằng “Tướng tự tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”, nhưng cũng phải biết cách biểu hiện dung mạo và tận dụng hoàn cảnh để nói lên tấm lòng. Tu tâm nhưng cũng phải tu tướng. Bản tính con người là hồn và xác, có phần nội tại và ngoại tại, nên động tác của mỗi bên đều ảnh hưởng trực tiếp lên nhau. Chẳng hạn, khi chúng ta định chế hành động, thì chúng ta có thể định chế tư tưởng một cách gián tiếp được. Chúng ta không thể dùng ý chí để thay đổi cảm xúc, nhưng khi thay đổi hành động thì cảm xúc cũng khác đi do tư tưởng đã chuyển hướng từ hành động. Hoặc khi mất sự vui vẻ mà muốn lấy lại, thì chỉ cần tỏ ra một thái độ vui vẻ và hành động nói năng như là sự vui vẻ đã tới rồi vậy.

Trong một vỡ tuồng, anh chàng A. Dieudonné sau khi đóng vai Napoléon, anh ta thấy mình đổi khác. Những cử chỉ và dáng điệu của Napoléon mà anh bắt chước lâu ngày đã thâm nhiễm vào người anh. Trước kia anh là người nhút nhát, nhưng nay anh đã can đảm, quả quyết và tự tin hơn. Cuộc sống là như vậy, những tác động bên trong và ngoài đều góp phần để tạo nên một trạng thái mới tùy theo hướng tiêu cực hoặc tích cực. Vì thế, ta cần thanh tẩy tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, miệng nói, mình làm.

1. Thanh tẩy điều mình thấy
Người xưa có câu: “Họa hổ họa bì nan họa cốt. Tri nhân tri diện bất tri tâm”. (Vẽ cọp vẽ da, khó vẽ xương. Biết người biết mặt không biết lòng). Chúng ta không thể đánh giá người khác thông qua hình thức bên ngoài. Không thể nhìn mặt mà bắt hình dong”.
Biết rằng “Trăm nghe không bằng một thấy”, nhưng thấy cái gì? thấy như thế nào? Phải thanh lọc cái thấy của mình bằng việc tìm hiểu ý nghĩa từ phía sau, đừng vội quyết đoán mà gây ra ân oán. Ngay cả Khổng Tử cũng đã mắc vào lầm lỗi đó. Câu chuyện như sau:
Thời Đông Chu bên Tàu, chiến tranh liên miên, dân chúng lầm than đói khổ... Thầy trò Khổng Tử trên đường từ Lỗ sang Tề cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi. May thay có một nhà hào phú đem biếu thầy trò một ít gạo. Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc thổi cơm. Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng "cộp" từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử liếc mắt thấy Nhan Hồi mở vung xới cơm cho vào tay và vốc vào miệng... Thấy vậy, Khổng Tử đau lòng và than: "Chao ôi! Học trò giỏi nhất của ta mà lại đi ăn vụng đốn mạt như thế này ư? Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!".

Khi dọn cơm lên, Khổng Tử nói: “Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn thầy trò ta lại có được bữa cơm... Thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ, nhớ đến cha mẹ... nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ... Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?". Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì. Còn Nhan Hồi chắp tay thưa: "Dạ thầy, nồi cơm này không được sạch." Khổng Tử hỏi: "Tại sao?"
Nhan Hồi thưa: "Khi con mở vung ra xem thử cơm chín chưa, chẳng may một cơn gió thổi vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi... nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì mất một phần ăn. Nên con đã mạn phép thầy và anh em ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và anh em... Bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau”.
Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời than rằng: "Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Suýt chút nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!"

Khổng Tử ít ra còn mở lòng để Nhan Hồi tỏ rõ sự tình. Còn chúng ta nhiều khi khép lại, ngầm đánh giá rồi mang nặng thành kiến suốt đời, không chịu tìm hiểu ý nghĩa sự việc, cũng chẳng cho người kia một cơ hội để giải thíchCó nhiều điều dễ làm ta lầm tưởng: thấy vậy mà không phải vậy. Cái ta thấy trước mắt chỉ là hiện tượng hay sự kiện bên ngoài, còn ý nghĩa và sự thật nằm ở bên trong. Có những nguyên nhân tiềm ẩn mà ta không thể biết ngay được, và người khác cũng không thể hoặc chưa thể nói ra được. Quyết đoán vội vàng những gì mình thấy khiến mình dễ trở nên mù tối, và có thể làm hư hại cả đời người khác. Điều này xảy ra không ít trong đời sống hằng ngày. Câu chuyện Quan Âm Thị Kính cũng là một giai thoại điển hình.  

2. Thanh tẩy lời mình nói
Cũng như tư tưởng là một sức mạnh tạo nên những hệ quả lớn lao, thì lời nói cũng có một tác dụng khôn lường trên đời sống con người. Tư tưởng thì thai nghén, còn lời nói thì sản sinh. Tư tưởng xấu còn có thể ngăn chặn, nhưng lời nói xấu thì không thể thu hồi (x. Cn 25, 11). Tư tưởng chỉ tác động trên chính mình, còn lời nói xâm nhập vào không gian và thời gian, tác động đến nhiều người, nhiều thế hệ.

Lời nói quả lợi hại vô cùng, với ba tấc lưỡi người ta có thể lập nên cơ đồ, nhưng cũng có thể làm tiêu tan sự nghiệp; có thể xây dựng tất cả, nhưng cũng có thể phá đổ tất cả. Tốt hay xấu cũng đều do cái lưỡi, “vinh hay nhục đều ở lời nói cả.” (Hc 5, 13).
Tạo nên môi trường tốt hay xấu, thuận lợi hay bất lợi, phần lớn đều do lời nói mà ra. Nếu cứ luôn phàn nàn hay bực bội về hoàn cảnh, con người, hay những tệ trạng, là ta cứ tự giam mình trong thế giới buồn chán. Cũng một lời gây bế tắc đời sống, mà cũng một lời làm đả thông cuộc sống. Tại sao ta không thể chọn một lối nói tốt hơn làm thay đổi tình trạng của mình và người khác?

Thật ra, tình trạng nào cũng là do tâm trạng mà ra, nhưng khi tâm trạng đang bị phủ lấp thì phải biết vận dụng lời nói để kích hoạt lên. Đừng diễn giải thành vấn đề, nhưng hãy nói về sự tiến bước; đừng đề cập những cản trở, nhưng hãy nói đến quyết tâm; đừng biện minh cho những tệ trạng, nhưng hãy nói về hoạch định mới.

Những rào cản cuộc sống có thể là một cơn bệnh, một sự nghèo túng, một trắc trở, một tai nạn, một thất bại, một sự xúc phạm... Dù vậy, cứ hãy để cho mình được thanh thoát vượt lên tất cả bằng những lời nói thanh cao, lạc quan, hy vọng và tin tưởng. Đó là điều mà Thánh Phaolô đã nói: “Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.” (2Cr 12, 10).

Đặt vào trường hợp của Thánh Phaolô, đáng lý ta phải than trách về những hoàn cảnh xui rủi hay ác ý của người đời cứ đổ dồn lên mình. Đáng lẽ ta phải cảm thấy buồn tủi, chán ngán vì những gian nan thất bại cứ liên tiếp xảy đến. Đáng buồn hơn nữa là đang khi hết lòng sống cho mọi người, thì dường như bị mọi người phủ nhận, cô lập, tẩy chay, khinh thị, bất cần, nhất là đang hết lòng phụng sự Chúa thì dường như cũng bị Chúa lãng quên. Thánh Phaolô không tự nhủ mình cách tiêu cực và bi quan, nhưng tích cực và lạc quan dưới cái nhìn đức tin, và vì yêu mến Đức Kitô.

Dưới cái nhìn đức tin và quen sống cận kề bên Chúa, ta sẽ học biết cách hóa giải những sự kiện nặng nề ra nhẹ nhàng, để những khi đen tối ta vẫn tìm ra ánh sáng cho đời mình. Đừng nguyền rủa bóng tối nhưng hãy cất lời ca ngợi cho ánh sáng đến. Điều đó làm nên phép lạ từ nơi miệng lưỡi ta. Nếu muốn thay đổi thế giới chung quanh ta, thì hãy bắt đầu thay đổi lời ăn tiếng nói sao cho phù hợp với ý muốn tốt lành của Chúa. (x.1Tm 4, 12).

Chúa không bao giờ muốn ta lải nhải về những khó khăn và bất trắc của mình. Ngài không muốn ta phàn nàn hoặc phê phán về những tiêu cực của người khác. Ngược lại, Chúa muốn ta hãy dùng lời nói“để xây dựng, để khích lệ và an ủi.” (1Cor 14, 3).  Quả thật, “Lời nói mà không chủ ý làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn lên là lời nói hư không.” (Roland Dorgeles).
Thánh Phaolô còn khuyên nhủ: “Lời nói của anh em phải luôn luôn mặn mà dễ thương...” (Cl 4, 6). Những lời nói càng mạnh bạo, chua cay, gắt gỏng, càng chứng tỏ một lý lẽ yếu đuối và nông nổi, không có sức thuyết phục. Vì vậy, “Lời nhã nhặn, lời ôn tồn, tựu trung là lời mãnh liệt nhất.” (Glodden).

Trong mọi hoàn cảnh, hãy biết tự nhủ mình bằng những lời nói đầy tự tin và an vui. Tự nhủ mình bằng những lời tốt đẹp là phương thức tự kỷ ám thị để đưa đến những điều tốt đẹp. Dù không như ý mình muốn, nhưng lại như ý Chúa muốn, “gặp thời thế, thế thời phải thế”. Hoàn cảnh không may, cuộc sống không thuận lợi, thì cũng là một cơ hội giúp ta rèn luyện ý chí và nghị lực. Thật ra, xét cho cùng, chẳng có gì là cản trở nếu ta không tự mình cản trở mình. Tất cả chỉ là thách đố để khơi sáng lên cuộc sống mới.

Khi nói, ta cũng phải biết mình đang nói với ai, cần nói hay không đáng nói. Khổng Tử khuyên rằng: “Khả dữ ngôn nhi bất dữ chi ngôn, thất nhân. Bất khả dữ ngôn nhi dữ chi ngôn, thất ngôn” (Người nào đáng nói mà mình không nói thì mất người. Người nào không đáng nói mà mình lại nói thì mất lời). Mất cái nào cũng đáng tiếc, nhưng đáng tiếc hơn cả là mất chính mình khi nói những điều không cần nói, hoặc nói những cái không nên nói và không được phép nói, hoặc nói không đúng lúc, đúng thời, đúng nơi, đúng người. Sách Châm Ngôn viết: “Lời nói ra đúng lúc đúng thời khác chi táo vàng trên đĩa bạc chạm trổ.” (Cn 25, 11).

Cần nhìn ngắm Đức Giêsu, không chỉ để thanh tẩy lời nói, cách nói, mà còn đào luyện cho mình khả năng biết dùng lời nói để làm dịu nhẹ những cơn giận dữ, để tha thứ cho những ai xúc phạm, để cảm thông với ai lầm lỗi, để an ủi những ai sầu khổ, để nâng cao tinh thần người yếu đuối, để khen thưởng người thành công, để nhủ bảo người non kém.

Ai cũng đều muốn nghe những lời động viên, khích lệ, đặc biệt là lời khen ngợi đúng lúc. Các nhà khoa học đã làm một cuộc thí nghiệm đối với nước. Sự kết tinh hình dạng của nước có chịu ảnh hưởng của âm thanh bên ngoài. Tiến sĩ Masaru Emoto, giám đốc Viện Hado (tổ chức IHM) ở Tokyo, Nhật Bản đã tiến hành thí nghiệm sự biến hóa của nước dưới sự ảnh hưởng của âm thanh tác động bên ngoài và phát hiện: khi ông phát những ca khúc nổi tiếng của Mozart và Beethoven rồi dùng kính hiển vi quan sát, ông nhận thấy các tinh thể nước sẽ thuận theo những giai điệu đẹp đó mà không ngừng sản sinh ra những biến hóa đẹp mắt.

Nói những lời dễ nghe thì các tinh thể nước cũng tạo thành những hoa văn hết sức đẹp mắt. Khi nói những lời khó nghe thì các tinh thể nước lại chuyển động hỗn loạn, không có trật tự. Khi ta biết nói những lời yêu thương, khích lệ, tạo niềm vui hay gieo hy vọng cho người khác, ta cũng sẽ làm rung động tinh thần của người đó, gây sự phấn chấn, tăng thêm năng lượng, sáng lên thần sắc, và kết quả còn có thể là sự biến đổi sâu xa trong đời sống họ.
Lm. Thái Nguyên

LỜI “XIN VÂNG” TRONG LỄ TRUYỀN TIN

Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng. Thiên thần báo tin cho Đức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Đức Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ. Phản ứng của Đức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng (Lc 1, 38). Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa. Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa. Lập tức sau lời “xin vâng” của Đức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Đức Mẹ. Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn. Từ đó “xin vâng” đã được coi như một giao ước mới, một bài ca mới, một con đường mới, của con người mới.
Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Đức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Ê-li-da-bét (Lc 1, 39 – 45). Đi thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Ê-li-da-bét. Theo Đức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác. Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác. Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.
Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Đức Mẹ trong kinh Tạ Ơn “Linh hồn tôi tung hô Chúa” (Lc 1, 46 – 55). Tâm tình Đức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa. Tâm tình Đức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại. Tâm tình Đức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.
Thiết tưởng đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi là một con đường mới, tôi nhớ lại biến cố Đức Mẹ sinh Chúa Giê-su tại hang đá Bê-lem (Lc 2, 1 – 7). Đang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu gía trị con người, thì Đức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy. Trái lại, Đức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo. Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Bê-lem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Đức Mẹ. Trên con đường đó, Đức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.
Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng. Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Đức Mẹ là con người mới. Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ (Lc 1, 35).
Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Đức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí.
Do đó, Đức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh. Với đặc điểm là Đức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.
Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng Lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.
Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại. Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa. Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa. Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình. Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình. Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở. Thời sự hôm nay là Ít-ra-en, quê hương của Đức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu. Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân. Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hoà bình thế giới. Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Đức Mẹ.
Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta. Ta có lắng nghe ý Chúa không ? Và ta có xin vâng ý Chúa thực không ? Đoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:
“Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Đức Giê-su đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”. “Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy” (Lc 13, 1 – 5).
Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa. Đó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình. Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình. Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.
Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó. Rất rõ ràng. Ở Fatima Đức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó. Cũng rất rõ ràng. Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.
Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa. Hãy bước đi với những bước nhỏ. Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi. Như hằng ngày đến bên trái tim Đức Mẹ, để xin trái tim Đức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó. Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ. Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị. Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.
Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Đức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam chúng ta, và cho tất cả nhân loại.

Đức Cha JB. Bùi Tuần

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY - C

Hành trình đức tin của tổ phụ Abraham là mẫu gương sáng ngời soi chung cho mọi người ở mọi nơi và trong mọi thời. Dòng dõi con cái cháu chắt nhiều đời của ông tổ đã trở nên một dân tộc đông đúc sinh sống ở Ai-cập. Trong chương trình cứu độ, từng bước Thiên Chúa đã hướng dẫn lịch sử của dân đã được chọn này. Thiên Chúa mạc khải cho ông Môisen về ý định cứu dân ra khỏi vùng đất bị làm tôi đòi nô lệ để đi vào miền Đất Hứa. Ông Môisen đã chứng kiến: Thiên sứ của Thiên Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Mô-sê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi (Xh 3,2). Ông Môisen nhìn thấy sự lạ là bụi gai cháy, nhưng không bị thiêu rụi. Đây là dấu hiệu của trời cao loan báo một sứ điệp. Ông đã tiến lại gần để ngắm nhìn và lắng nghe: Thiên Chúa phán: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng (Xh 3, 7). Lời hứa năm xưa với ông Abraham, hơn bốn trăm năm sau, nay mới bắt đầu khai mở.
Thiên Chúa mạc khải chính mình: Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Ta là Đấng Hiện Hữu.” Người phán: “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.”(Xh 3, 14). Dân chúng sống tạm nhờ trong miền đất Ai-cập đã qúa lâu, nhiều cháu chắt không còn nhớ đến các tổ phụ cha ông. Trong suốt thời gian lưu lạc ở đất Ai-cập, sách sử không ghi lại những chứng tích biến cố vĩ đại nào. Sau khi tể tướng Giuse, con của ông tổ phụ Giacob qua đời, dân chúng sống trong âm thầm và sinh xôi nẩy nở rất đông. Thiên Chúa luôn ghé mắt đoái nhìn đến đoàn con dân của Người. Khi thời gian đã mãn, Thiên Chúa chọn và gọi ông Môisen thi hành sứ mệnh giải thoát dân. Chúng ta nghe biết câu truyện của Môisen được cứu vớt lên khỏi nước và trở thành thủ lãnh đưa dân ra khỏi nước Ai-cập. Thiên Chúa đã ban cho ông uy quyền biến đổi và thực hiện các sư lạ trước mặt vua quan Ai-cập để minh chứng bàn tay uy quyền Thiên Chúa.
Hành trình đi về đất hứa đầy gian nan và thử thách. Khi gặp những sự khó khăn mà không thỏa mãn nhu cầu vật chất về cái ăn cái uống, dân chúng đã nổi loạn và kêu trách ông Môisen. Chúa phạt rồi Chúa lại tha. Ông Môisen như người trung gian cũng đối diện với khó khăn tư bề. Thiên Chúa hướng dẫn dân đi theo đường chính nẻo ngay, trong khi dân chúng bị ảnh hưởng cuộc sống thế tục và đa thần giáo, nên nhiều lúc họ đã bỏ Chúa chạy theo các thần dân ngoại. Môisen phải cùng phấn đấu với các thử thách để vượt qua những sự yếu đuối của kiếp người. Chúng ta biết ông Môisen cũng chỉ là một con người mỏng dòn và giới hạn mọi điều. Khi dân hối lỗi, Chúa lại tha thứ. Suốt 40 năm lang thang trong hoang địa, Môisen đã dẫn đoàn dân tới bờ miền Đất Hứa. Ông đã chu toàn sứ mệnh thanh luyện niềm tin của Dân vào Thiên Chúa duy nhất.
Mùa sám hối, xin kể câu truyện: Ngày kia một giáo sư già đi chơi qua khu rừng, bên cạnh có cậu học trò cùng đi. Thình lình ông dừng chân chỉ vào bốn cây gần đó. Cây thứ nhất mới ló lên khỏi mặt đất, cây thứ hai khá hơn, cây thứ ba lớn hơn và cây thứ bốn đã khá to rồi. Thầy nói: Trò hãy nhổ cây thứ nhất. Chỉ với hai ngón tay, cậu đã nhổ dễ dàng. Thầy tiếp: Bây giờ con hãy nhổ cây thứ hai. Cậu phải dùng cả hai tay. Nhổ tiếp cây thứ ba, cậu phải dùng hết sức lực hai cánh tay mãi mới nhổ được. Thầy nói: Bây giờ hãy cố gắng nhổ cây thứ tư. Hai cánh tay ôm lấy thân cây, cậu cố sức lay nhưng lá nó cũng chẳng rung rinh. Thầy nhẹ nhàng bảo: Đó con thấy không. Về các tính hư và tật xấu của ta cũng vậy. Khi mới nhiễm thì dễ khử trừ, nhưng nếu để chúng đâm rễ sâu trong tâm khảm và trong thân xác, con sẽ khó mà trừ khử.
Chúng ta biết các thói hư tật xấu giống cỏ dại, nơi đâu cũng có thể mọc lên mà không cần vun tưới. Cỏ dại nơi lòng người cũng cứ tự nhiên phát triển. Điều tốt mình muốn nhưng lại không làm. Bản năng con người có cảm tình với các tật xấu, tội lỗi và hướng chiều về sự dữ. Tội lỗi có một ma lực kéo lôi và quyến rũ. Nếu chúng ta không cẩn thận ngăn ngừa và cắt bứng ngay. Khi hạt giống sự dữ được gieo vào lòng thì lớn lên nhanh. Thói quen xấu lâu ngày trở thành tật bệnh. Sự sám hối là nhận biết chính mình để phục hồi sự tốt lành thánh thiện. Bài phúc âm nhắc nhớ câu truyện của mấy người Galilêa bị ngược đãi, bị ghép tội và bị giết. Chúa Giêsu nhắn nhủ mọi người: Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy (Lc 13, 3). Chưa chắc những người này là những người tội lỗi. Mùa chay, mỗi người chúng ta hãy tự xét chính mình trước mặt Chúa.
Có đôi khi biết thân và biết ý xấu nhưng chúng ta lại tiếc thân ý xấu, không muốn dứt bỏ. Rất tiếc khi bỏ đi những ý tưởng xấu, lời nói hành, bịa truyện gian dối, cờ bạc, rượu chè và gian dâm. Ai nghiện hút thuốc cũng biết, bên ngoài bao thuốc có chữ ‘hút thuốc có hại cho sức khỏe’ hay ‘hút thuốc có thể gây bệnh ung thư phổi’. Biết có hại đó, cám ơn lời nhắc nhở, nhưng lại tiếc thân nghiện và không dám dứt bỏ. Tất cả các thói hư tật xấu mà chúng ta mắc phải cũng đã được nuôi dưỡng từng ngày. Chúng ta biết rằng sự xấu, sự dữ là tội, là sai trái và là sự hư đốn, nhưng lại tiếc như tiếc của, chẳng muốn rời xa. Đôi khi chúng ta bị lún sâu và ngụp lặn trong những cơn mê lầm này. Vì tội kéo theo tội. Nói dối điều này, kéo theo điều khác để biện minh. Chúng ta không thể tưởng tượng rằng đã có nhiều vụ án ghê gớm xảy ra cũng chỉ vì tội nhân dấu diếm một lỗi phạm nhỏ ban đầu. Người ta tìm cách phi tang dấu vết và dùng thủ đoàn để che dấu lỗi lầm, nên đã dẫn đến những hậu qủa khó lường như trả thù đánh đập, gia đình tan vỡ, phá thai hay giết người. Khởi đầu là những nguyên nhân và sự cố rất nhỏ, vì sợ bị phát hiện nên dấu bớt sự thật, dần dần sự dối trá sinh ra nhiều oan trái và báo thù khủng khiếp.
Tại sao nhiều người thích nói dối? Nói dối vì muốn dấu diếm sự thật không tốt và không muốn bị rầy la quở trách. Nói dối loanh quanh sẽ không có điểm dừng, nói dối này kéo theo dối trá khác. Vì nói thật thì mất lòng. Nói thật thì mất lợi lộc. Nói thật có thể bị mất danh hờ. Nói thật thì mất nhiều thứ khoái và nói thật thì bẽ bàng. Chúng ta biết chỉ có sự thật mới giải thoát. Sự thật thì đơn giản và vắn gọn. Sống đạo là sống trong sự thật. Hạt giống đức tin của tình yêu và sự thật cần được vun trồng tưới gội để phát triển. Đừng để niềm tin bị bóp nghẹt giữa đám cỏ dại của sự gian dối. Biết rằng chúng ta không thể tránh được mọi thói hư tật xấu ở đời, nhưng vẫn có thể khắc phục nó bằng cách tu tâm luyện tính mỗi ngày. Xa tránh và dám dứt bỏ các dịp tội và đừng níu kéo nó. Vun xới cho các đức tính tốt có cơ hội phát triển hơn mỗi ngày. Vì nếu sống đời Kitô hữu mà không sinh hoa trái tốt, cuộc sống sẽ trở nên vô dụng. Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây vả để cảnh báo: “Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?(Lc 13, 7). Nhân đức không phát triển giống như cây không sinh trái, sẽ bị chặt đi.
Thánh Phaolô trong thơ gởi cho tín hữu thành Corintô nhắc nhớ câu truyện của những người Do-thái ương ngạnh và sống bê tha đã bị phạt trong cuộc lữ hành về Đất Hứa: Nhưng phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là họ đã quỵ ngã trong sa mạc (1Cor 10, 5). Phaolô kêu gọi mọi người hãy xem gương đó mà ăn năn sám hối. Không ai trong chúng ta có thể hãnh diện khoe mình là người đạo đức và thánh thiện. Cuộc lữ hành còn dài, chúng ta còn gặp nhiều chông gai và thử thách. Hãy luôn ý thức thân phận yếu hèn và tội lỗi để cảnh tỉnh và hối cải: Bởi vậy, ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã (1Cor 10, 12).
Lạy Chúa, chúng con đã lãnh nhận muôn hồng ân phúc lộc của Chúa, xin cho chúng con biết dùng thời giờ, của cải và khả năng để sinh lợi cho đời sống thiêng liêng của chúng con và anh chị em. Chúng con dâng lời tạ ơn Chúa tới muôn ngàn đời.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng