NỮ THẦN KHIẾT TỊNH

Không như hầu hết các nữ thần khác hay bừa bãi về tình dục, Artemis lại độc thân và trinh trắng.  Sự tiết dục của Artemis thể hiện vị thế và giá trị của đức trinh tiết và đời độc thân.

Qua các thần thoại của mình, người Hy Lạp cổ đại có một nền  khôn ngoan về mặt tâm linh và tâm lý rất đậm nét. Ý định của họ không phải là hiểu thần thoại theo nghĩa đen hay theo tính lịch sử, nhưng là các ẩn dụ và minh họa mẫu cho lý do vì sao đời sống và cách con người sống vừa mang tính sinh sôi vừa mang tính hủy hoại.
Đa số thần thoại Hy lạp tập trung vào các thần nam và thần nữ. Các thần nam và thần nữ này phản ảnh sống động mọi khía cạnh đời sống, hành vi và thiên hướng bẩm sinh của con người. Thêm nữa, các thần nam, thần nữ này thường không có tác phong đạo đức trong hành vi của mình, đặc biệt là trong đời sống tính dục. Họ có đủ chuyện lăng nhăng với nhau và với con người. Tuy nhiên, bất chấp sự bừa bãi và vô luân trong hành vi tính dục của họ, một trong các đặc nét tích cực của các thần thoại là, đối với người Hy Lạp cổ đại, tình dục, luôn luôn, và xét cách nào đó, có liên kết với linh thần. Ngay cả các đền thờ mãi dâm cũng, theo cách nào đó, liên kết với việc đạt được sự sinh sôi phát xuất từ thần linh.
Ở đền Patheon thờ các thần nam, thần nữ, có một nữ thần đặc biệt là Artemis. Không như hầu hết các nữ thần khác hay bừa bãi về tình dục, Artemis lại độc thân và trinh trắng.  Sự tiết dục của Artemis thể hiện vị thế và giá trị của đức trinh tiết và đời độc thân. Artemis được họa hình với dáng cao, dung nhan yêu kiều, hấp dẫn về mặt tính dục, nhưng có một vẻ đẹp, vừa gợi tình vừa khác với kiểu hấp dẫn nhục dục của các nữ thần như Hera và Venus. Trong Artemis, tình dục được họa hình như một sự pha trộn quyến rũ giữa độc thân và chính trực. Trong thần thoại, quanh Artemis thường là các thần hay người, cùng giới nữ, hay khác giới nhưng là bạn và thân quyến chứ không bao giờ là người yêu.
Ý nghĩa ở đây là, dục vọng có thể được giữ lành mạnh và sinh ích ngay cả khi kiêng tình dục. Artemis là biểu hiện cho con đường tình dục trong khiết tịnh. Nữ thần cho chúng ta thấy rằng, giữa một thế giới chìm trong tình dục, người ta có thể sinh sôi và hạnh phúc trong khiết tịnh và thậm chí là độc thân. Có lẽ quan trọng hơn nữa, Artemis cho chúng ta thấy rằng khiết tịnh không nhất thiết phải là cằn cỗi và bài trừ tình dục. Đúng hơn, nơi nữ thần này, chúng ta thấy tính dục có nghĩa rộng hơn tình dục, và tình dục tự bản thân sẽ được phong phú và ý nghĩa hơn nếu có liên kết với khiết tịnh. Artemis là chủ trương sống độc thân, cảm nghiệm tình bạn và các kiểu thân mật khác, không phải là loại trừ tình dục, nhưng là một trong những thể thức phong phú của chính tình dục.
Thomas Moore, khi nói về Artemis, đã viết rằng: “Dù nàng trinh khiết nhất trong số các nữ thần, Artemis không phải loài vô tính. Nàng hiện thân cho một dạng tính dục đặc biệt, đặt nơi cá nhân, nguyên vẹn, và độc thân.” Và như thế, Artemis là hình mẫu không chỉ cho người độc thân mà còn cho những ai có cuộc sống tình dục năng động. Với những người này, Artemis là lá cờ báo hiệu: Tôi muốn được đón nhận một cách nghiêm túc, đảm bảo sự nguyên vẹn và độc lập của tôi.
Cũng vậy, tác giả Thomas Moore cho rằng, cho dù độc thân hay năng động tính dục, chúng ta tất cả đều “có những giai đoạn trong đời, hay những thời điểm trong ngày, cần được ở một mình, tách khỏi tình yêu và tình dục, tận hiến toàn bộ cho bản thân, một cách tách biệt xa khỏi tất cả. Artemis cho chúng ta biết rằng chọn lựa này không phải là chối bỏ xã hội và con người, nhưng đơn thuần là việc tập trung thâm sâu, tích cực, và thậm chí là mang tính tình dục vào bản thân và thế giới của mình.”
Bài học từ nữ thần này là bài học rất cần cho thế giới ngày nay. Thời đại chúng ta đã biến tình dục thành con đường cứu độ, nghĩa là, với chúng ta, tình dục được xem là công cụ để đạt đến thiên đàng, và bản thân nó được xem là thiên đàng. Tình dục được cho là lẽ sống của chúng ta. Một trong những hệ quả của việc này là chúng ta không thể xem nhận thức trưởng thành tương hợp với đức khiết tịnh, hay tính phức tạp chân thật, và sự phong phú của tình dục. Thực sự, với nhiều người trong chúng ta, khiết tịnh và độc thân bị xem là tự vệ sợ sệt, làm cho con người khô khan, cằn cỗi, đạo đức, bài tình dục, căng thẳng về mặt tình dục, và không có được niềm vui trong cuộc sống. Và gắn chặt với suy nghĩ này là khái niệm cho rằng tất cả những hiện thực phong phú đã được khắc họa rõ nét đầy tích cực nơi Artemis (cũng như nơi quan niệm khiết tịnh của Kitô giáo), cụ thể là, tình bạn, các dạng thân mật không tình dục khác, các khoái lạc không tình dục, và nhu cầu nguyên vẹn và trung tín trong tình dục, đều là chọn lựa loại trừ tình dục, và là lựa chọn thứ yếu, chứ không phải là một thể thức tình dục phong phú.
Chúng ta đang bị bần cùng hóa về mặt tâm lý và tâm linh, do khái niệm đó, nó làm cho đời sống tình dục của chúng ta chịu đựng sự căng thẳng phi lý. Khi gán cho tình dục vai trò hàng đầu đối với hạnh phúc và sinh sôi của con người, thì nó thành thiển cận và mất mát mà thôi. Và chúng ta đang thấy điều này trong thế giới ngày nay.
Tất nhiên, là Kitô hữu, chúng ta có nữ thần khiết tịnh của mình, đó là Đức Mẹ, Mẹ của Chúa Giêsu, cũng như nhiều nữ thánh khác. Tại sao chúng ta không rút lấy linh đạo khiết tịnh của mình từ những người nữ này, thay vì nhìn về các nữ thần ngoại đạo trong các chuyện thần thoại? Nhìn chung, chúng ta đang hướng về các hình mẫu Kitô giáo.  Nhưng hơn nữa, tôi cho rằng, cả Đức Trinh nữ Maria và tất cả các thánh trinh nữ của chúng ta, sẽ là bạn bè rất tuyệt với nàng Artemis.
Ronald Rolheiser,

J.B. Thái Hòa dịch

NGƯỜI TRẺ TRƯỚC MẦU NHIỆM GIÁNG SINH

Nếu chúng ta có mặt trong đoàn người mục đồng năm xưa, khi họ đến tôn thờ Thiên Chúa, chắc chắn chúng ta cũng thấy Hài Nhi Giêsu. Bạn thử xem Hài Nhi có giống chúng ta không, nghĩa là Người có linh hồn, có tâm trí có thân xác không?

Các bạn trẻ thân mến,
Mỗi dịp Noel về,  chắc hẳn đường phố luôn đông vui nhộn nhịp. Già trẻ, lớn nhỏ đều muốn lướt một vòng ngắm hang đá, xem diễn nguyện. Nơi đó, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những đôi nhân tình tay trong tay dạo bước với những điệu nhạc Giáng sinh. Nói chung đó là một ngày lễ hội đáng mừng. Hơn nữa, là người Công giáo, đó còn là một ngày nhắc nhớ chúng ta vào một đêm đông năm xưa Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người.
Có lần một bạn trẻ hỏi tôi, “Tại sao những sách viết về Chúa Giêsu lại gọi là Phúc Âm hoặc Tin Mừng?” Điều ấy thật thú vị, vì tất cả những gì kể về cuộc đời Chúa Giêsu, từ khi giáng sinh cho tới phục sinh, đều là tin vui. Hơn nữa, những gì liên quan đến Đức Giêsu, đều có giá trị cứu độ, kể cả những ngày tháng Người được sinh hạ nơi làng Bê Lem. Chính Người là Con Thiên Chúa hằng sống đã làm người, giống chúng ta mọi phần, chỉ trừ tội lỗi. (Dt 4,15).
Các bạn biết câu chuyện giáng sinh được trình bày khá dài nơi Tin Mừng Nhất Lãm. Ở đây chúng ta có thể tóm tắt như sau: Khi tới hồi viên mãn, Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến gặp một trinh nữ tên là Maria. Sau buổi truyền tin ấy, Đức Mẹ có thai. Bất ngờ hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Bởi đó, Mẹ Maria và thánh Giuse đang ở Nazarét, phía bắc Israel, phải về quê quán, phía nam, để khai tên tuổi. Đến làng Bêlem, họ không tìm được quán trọ nên phải tá túc ngoài đồng. Khi hai người đang ở đó, thì Mẹ Maria sinh Đức Giêsu. Mẹ lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ. Như thế, tuy các tác giả kể cho chúng ta sự kiện Chúa giáng sinh rất đỗi bình thường, nhưng ẩn chứa trong những chi tiết đó là cả một màu nhiệm cao vời.
Các bạn có bao giờ dám nghĩ có một hoàng nhi trần gian lại sinh ở chốn giá lạnh đêm đông, không cửa không nhà. Không đời nào! Ở đây, cả chiều dài lịch sử dân Do Thái ngóng chờ Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa đến để cứu họ. Một Thiên Chúa cao trọng vô song, giờ lại mang hình hài trẻ nhỏ, mong manh trước sóng gió cuộc đời. Như nhiều bạn trẻ nói vui rằng: “Sao Thiên Chúa không phán một lời để cứu độ con người? Tại sao Thiên Chúa lại phải nhập thể nơi Đức Giêsu?” Kinh Tin Kính Công đồng Nixêa (năm 325) đã trả lời: “Vì loài người chúng tôi, và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế.” Thật nhiệm mầu đến nỗi ta khó thể hiểu hết. Dẫu sao, Thiên Chúa vì con người, vì tôi, vì bạn mà Người mặc lấy xác phàm để ở với chúng ta. Đúng như lời thán phục của ĐGH Bênêđictô XVI: “Thiên Chúa quá cao cả đến nỗi Người có thể trở nên bé nhỏ, quá toàn năng đến nỗi có thể trở nên yếu kém và để gặp gỡ ta như một đứa trẻ không có bảo vệ để ta có thể yêu mến Người.”
Gọi là mầu nhiệm giáng sinh vì nơi Đức Giêsu luôn có hai bản tính mà người trẻ chúng ta thường khó hiểu. Nói màu nhiệm, nghĩa là “một thực tại (hoặc là một mặt của thực tại) mà sự hiểu biết do lý trí không thể đạt tới được.” Chẳng hạn, tại sao Chúa Giêsu Kitô “vừa là Thiên Chúa thật lại vừa là người thật”. Hay Người chỉ giả bộ làm Người? Quanh vấn đề này, các bạn thấy có một thời gian người ta tranh luận gắt gao với nhau. Chung cuộc, Công đồng Calcêđôn (năm 451) dạy chúng ta rằng: “Thiên tính và Nhân tính đã nên một trong Chúa Giêsu Kitô, không chia lìa hoặc lẫn lộn.”
Nếu chúng ta có mặt trong đoàn người mục đồng năm xưa, khi họ đến tôn thờ Thiên Chúa, chắc chắn chúng ta cũng thấy Hài Nhi Giêsu. Bạn thử xem Hài Nhi có giống chúng ta không, nghĩa là Người có linh hồn, có tâm trí có thân xác không? Chắc ở đây chúng ta phải nhờ đến bản văn của Công Đồng Vaticanô II, để hiểu: “Có. Vì Chúa Giêsu là người thật, nên Người làm việc với đôi tay con người, nghĩ tưởng với tâm trí con người, hành động với ý muốn con người, và yêu thương với trái tim con người.”(Hiến chế Mục vụ số 22). Thực ra, chúng ta đang đứng trên khía cạnh tìm hiểu về Hài Nhi Giêsu nên những câu hỏi ấy mới trồi lên. Và để giải thích tường tận màu nhiệm giang sinh là điều không thể. Nói như ĐGH Bênêđictô XVI: “Khi nào chúng ta từ bỏ tham vọng nắm bắt Thiên Chúa và tôn trọng huyền nhiệm khôn dò của Người, thì chúng ta mới có thể nói về Người cách thích hợp.” Ở đây, chẳng hạn như các mục đồng hay những nhà chiêm tinh, trước Màu Nhiệm Giáng Sinh, họ chỉ chiêm ngắm, tôn thờ và hát vang: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời – Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” Hoặc nói như thần học gia công giáo Thụy Sĩ Hans Urs Von Balthasar: “Còn Chúa Giêsu là một hiển nhiên (quá rõ ràng không còn gì có thể nghi ngờ).”
Ước gì mỗi dịp Giáng sinh về, hoặc mỗi khi chúng ta gặp ngỡ Hài Nhi Giêsu, người trẻ chúng ta cũng mang tâm tình của Đức Mẹ, Thánh cả Giuse và các mục đồng. Cùng nhau quây quần nơi máng cỏ, quanh Hài Nhi Giêsu, luôn là một hình ảnh đẹp. Chúc cho các bạn trẻ luôn có một Giáng Sinh an lành, một bình an của Chúa Giáng Sinh luôn tỏa bóng trên cuộc đời các bạn.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG - C

Khi đang lâm bệnh ngặt nghèo, thập tử nhất sinh hay đang cơn hấp hối mà có người thân yêu ở kề bên chia sẻ cảm thông thì đó là niềm an ủi lớn lao không gì sánh được. Khi gặp cô đơn sầu não không kẻ đoái hoài mà có một người bạn chân tình hiện diện bên cạnh thì không gì quý báu hơn. Trong những trường hợp đó, người ta mới cảm nhận được nhu cầu có người thân sống-với mình hay hiện-diện-bên-cạnh mình cần thiết xiết bao!
Vì thế, Đức Cha Gaillot, một giám mục Pháp, đã nhận định rất xác đáng rằng:
“Sống quảng đại thì tốt, nhưng sống-với tốt hơn;
việc từ thiện là cần thiết, nhưng hiện-diện-bên-cạnh cần thiết hơn.”
Như thế, chấp nhận sống-với tha nhân, hiện-diện-bên-cạnh tha nhân thì tốt hơn mọi hình thức trao ban giúp đỡ khác.
Thiên Chúa là Người Cha nhân lành rất yêu thương nhân loại nên Người muốn sống với, muốn hiện diện bên cạnh nhân loại mãi mãi không cùng. Chính vì thế, Thiên Chúa tự xưng mình là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa hằng ở cùng chúng ta. (Is 7, 14. Mt 1, 23)
Vì muốn ở cùng nhân loại nên Ngôi Hai Thiên Chúa đã vượt qua khoảng cách vô tận giữa trời và đất để đến ở với loài người.
Vì muốn ở cùng nhân loại nên Chúa Giêsu đã sống kiếp phàm nhân suốt ba mươi ba năm để chia sẻ mọi vui, buồn, sướng, khổ của phận người.
Vì muốn ở cùng nhân loại nên dù đã sống lại và lên trời vinh hiển, Chúa Giêsu vẫn không rời xa các môn đệ. Người nói với họ:
“Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
“Thầy đi để dọn chỗ cho các con… Thầy sẽ trở lại để đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng sẽ ở đó.” (Mt 14,3)
Vì mong muốn ở lại mãi với các môn đệ, nên Chúa Giêsu khấn nguyện với Chúa Cha:“Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con” (Mt 17,24)
Thế rồi Chúa Giêsu lập nên Bí Tích Thánh Thể để không những ở với, ở cùng, hiện diện bên cạnh mà còn ở trong chúng ta và nên một với chúng ta.
Vì biết rằng nhu cầu được thăm viếng, được sống với, được hiện diện bên cạnh là rất cần thiết nên khi hay tin người chị họ cao niên của mình được Chúa đoái thương cho cưu mang quý tử, Đức Maria đã không quản ngại thân gái dặm trường, sẵn sàng băng rừng vượt núi tiến lên miền sơn cước để chúc mừng, để phục vụ và nhất là để sống với, để hiện diện bên cạnh người chị họ cao niên suốt cả ba tháng trời.
Về sau nầy, khi tâm hồn các môn đệ hoang mang xao xuyến sau biến cố Chúa Giêsu về trời, Mẹ Maria tiếp tục hiện diện bên các môn đệ, củng cố niềm tin đang chao đảo của các ngài.
Và rồi trong suốt dòng lịch sử Hội Thánh, Giáo Hội phải nhiều phen trải qua gian lao sóng gió, Mẹ Maria luôn có mặt trong những thời điểm khó khăn đen tối, để hiện diện và đồng hành với đoàn con cái trong lúc gian nan, để ủi an khích lệ họ trong cảnh u sầu.
“Sống quảng đại thì tốt, nhưng sống-với tốt hơn.
Việc từ thiện là cần thiết, hiện-diện-bên-cạnh, cần thiết hơn.”
Hôm nay, noi gương Chúa Giêsu là Emmanuen, Đấng luôn ở với loài người để cùng chia sẻ ngọt bùi, noi gương Mẹ Maria là Đấng luôn ở cùng nhân loại để che chở ủi an họ trong những lúc gian truân khốn khó, chúng ta hãy trở nên những Emmanuen khác, để viếng thăm, an ủi, để sống-với, để hiện-diện-bên-cạnh những người đang gặp hoàn cảnh đau thương.
Lm. Ignatiô Trần Ngà

"LÚC ĐÓ, TÔI NGHĨ GÌ"

Nằm đó, đối diện với nền sân khấu, tôi thấy mình gần “mặt đất” hơn bao giờ hết. Tôi tự nhắc nhở mình về điều mà mình sắp lãnh nhận. Tôi được mời gọi để biết mình cũng chỉ là bụi đất mà thôi, yếu đuối và mong manh lắm giữa dòng đời. 

Các giáo dân thường tự hỏi, có thể là một câu hỏi vui, nhưng chắc cũng là một câu hỏi thật lòng: “Lúc các tiến chức nằm xuống để hát kinh cầu các thánh trong nghi thức truyền chức, họ cảm thấy gì và đang nghĩ gì vậy?”.Ai cũng phải thừa nhận rằng, đó là một khoảnh khắc rất đẹp và linh thiêng. “Cảm thấy gì” hay “đang nghĩ gì” là những câu hỏi rất thường hằng mà người ta dành cho nhau trong những thời điểm đặc biệt nào đó của cuộc đời. Có một đụng chạm thiêng liêng nào lúc đó không? Bồi hồi, xúc động, lắng lo…? Chắc là mỗi người sẽ có những cảm nghiệm khác nhau.
Riêng tôi,
Nằm xuống, tôi bất chợt tự hỏi mình: mình là ai mà được nhiều người quan tâm cầu nguyện cho như thế. Tôi là ai mà được “Thiên Chúa nhớ đến và bận tâm” (x. Tv 8). Cả triều thần thiên quốc chuyển cầu cho tôi [và cho các anh em đang nằm cạnh tôi]. Thế giới và vũ trụ như nhỏ lại. Tôi có cảm tưởng ơn Chúa cứ dạt dào tuôn đổ qua từng giọng hát kinh cầu được cất lên. Một cảm giác thấy mình được yêu thương và bao bọc bởi ân sủng Chúa, được “ở lại” trong Ngài. Nó ấm nồng, lâng lâng… Thật khó mà diễn tả!
Tình thương ấy của Ngài, tôi cảm nghiệm được qua những con người mà tôi gặp gỡ trong suốt hành trình đời mình. Nằm đó, tôi nghĩ đến ba mẹ và gia đình, nơi tôi đã có được những cảm nghiệm chân thực đầu tiên của cái gọi là tình yêu thương nồng ấm; xuất hiện trong đầu tôi cũng là hình ảnh của người tôi được cơ may gặp gỡ trên hành trình sứ mạng. Rồi tôi nhớ đến khoảnh khắc tôi được biết đến Dòng trong một cuộc gặp gỡ không hẹn trước. Kể từ đó, một chân trời mới được khai mở dần dần. Hết cánh cửa này đến cánh cửa khác của sự bất ngờ cứ hiện ra, lôi kéo tôi đến những điều mới mẻ của tình Chúa, tình người, tình anh em và của sự dâng hiến.
Tôi cảm nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho mình ngang qua Dòng và những người tôi gặp gỡ trên bước đường sứ mạng. Tôi biết ơn Dòng vì Dòng đã rất kiên nhẫn với tôi, luôn khích lệ và tạo điều kiện để tôi đào luyện mình. Những lúc tôi muốn bỏ cuộc thì Dòng lại cho tôi sức mạnh. Những yếu đuối của tôi, Dòng sẵn sàng bỏ qua. Tôi thấy mình được khuôn đúc và che chở trong Dòng, trong tình huynh đệ để cùng với anh em mình sống cho sứ mạng của Đức Kitô.
Nằm đó, đối diện với nền sân khấu, tôi thấy mình gần “mặt đất” hơn bao giờ hết. Tôi tự nhắc nhở mình về điều mà mình sắp lãnh nhận. Tôi được mời gọi để biết mình cũng chỉ là bụi đất mà thôi, yếu đuối và mong manh lắm giữa dòng đời. Tôi sắp được thánh hoá để trở thành linh mục. Nhưng điều đó không giải thoát tôi khỏi thân phận của một kiếp sống nặng bụi trần. Tôi phải trả về cho đất thấp này những gì thuộc về nó để tìm đến một giá trị cao quý hơn, ứng xử theo một cung cách được Tin Mừng hoá và luôn lấy Giêsu làm chuẩn mực cho từng hành vi nếp nghĩ.
Đối diện với đất, tôi biết là mình sẽ được sai vào giữa dòng đời này, chứ chưa được thảnh thơi, nghỉ yên hay hưởng thụ. Ơn trở thành linh mục được ban cho tôi để tôi phục vụ người khác, chứ không phải là một quà tặng cho riêng tôi để tôi cất giữ trong tủ trưng bày. Kiểu “ở lại” mà Chúa mời gọi tôi không phải là một kiểu cảm xúc hay an phận thủ thường, nhưng là được chìm sâu trong tình yêu và sứ mạng của Đức Giêsu trong một mối tương quan cá vị với Ngài: tôi và Giêsu sẽ vui với nhau, khóc với nhau, đi đứng với nhau, hứng chịu mọi việc với nhau, làm việc cùng nhau…
Nhưng dòng đời này cũng chua cay lắm! Tôi biết! Giữa bầy sói dữ mà! Tôi chỉ là một con chiên non, kinh nghiệm chưa có, khả năng hạn hẹp, trong khi những yếu đuối và bất toàn vẫn cứ còn nhan nhản, đào luyện mình mãi mà chẳng thấy tiến bộ được bao nhiêu. Ngoài kia, có biết bao nhiêu người đang cần ơn Chúa, cánh đồng lúa đã nặng trĩu bông. Tôi lo sợ, không biết mình có đủ sức để cầm chiếc liềm để gặt lúa và không biết liệu mình có thể luôn là một người thợ nhiệt thành… hay sẽ bị những ngọn cuồng phong làm cho chao đảo và những ảo tưởng của thế trần làm mê say? Tôi sợ!
Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình cần lời cầu nguyện của mọi người nhiều như lúc này và tôi hiểu được rằng vì sao cả cộng đoàn dân Chúa phải cùng hiệp ý kêu van các thánh trên trời chuyển cầu cùng Chúa cho chúng tôi. Họ mong chờ tôi sẽ trở thành một linh mục tốt lành như vị mục tử Giêsu. Họ mong chờ nơi tôi rất nhiều. Chúa Cha đã ban Thánh Thần cho tôi, để tôi được trở nên như Chúa Con, khuôn mẫu từ đó tôi được tạo thành và cũng là cùng đích mà tôi phấn đấu mỗi ngày để hướng đến. Thánh Thần đến với tôi, chẳng phải vì tôi thánh thiện hay tài năng gì cả, chỉ bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi đã yêu tôi và muốn tôi như thế!
Đứng dậy, tôi bỗng nhớ đến hình ảnh người lính mà Thánh Inhaxio phác hoạ trong Linh Thao. Một sự sẵn sàng nào đó xâm chiếm tâm hồn. Dù biết là mình bất xứng, nhưng…
“nhờ ơn huệ và sự trợ giúp của Chúa,
con xin tiến dâng chính mình con lên trước lòng nhân từ vô biên Chúa
và trước mặt Mẹ vinh hiển Chúa
cùng tất cả các thánh nam nữ của triều đình thiên quốc,
con mong muốn và ước ao noi gương Chúa chịu mọi sỉ nhục,
mọi khinh chê và mọi nghèo khó thực sự cũng như thiêng liêng,
miễn là điều ấy phụng sự và ngợi khen Chúa hơn…” (Lt 98)


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

200 NĂM STILLE NACHT, HEILIGE NACHT 1818-2018

Hằng năm vào tháng Mười Hai, trước cùng trong mùa mừng lễ Chúa giáng sinh , bản nhạc Stille Nacht heilige Nacht thần thoại thời danh cùng phổ thông khắp nơi trên thế giới được hát vang lên, không chỉ trong thánh đường Công Giáo ,Tin Lành, mà còn cả ở nhà tư, nơi công cộng nữa.

Bản nhạc thời danh này là bản nhạc thánh ca được hát trong đêm mừng lễ Chúa giáng sinh. Nhưng dần dần trong dòng thời gian bài hát được ưa chuộng hát khắp nơi, cả trong những buổi trình diễn nhạc giáng sinh hay nơi bữa tiệc liên hoan mừng giáng sinh nữa. Nó trở thành bài hát thần thoại thời danh trong dân gian. Lời cùng âm điệu cung nhạc bản nhạc thời danh này gợi gây cảm hứng được dịch ra hay phổ lời bằng tiếng địa phương mỗi quốc gia dân tộc rộng rãi trên thế giới .

Bài nhạc thánh ca này không thể thiếu trong ngày lễ mừng Chúa giáng sinh, đêm 24. tháng 12. và ngày 25. tháng 12. Ngày lễ mừng Chúa giáng sinh mà không hát bài này, như còn thiếu điều gì, hay có người còn cho là chưa mừng lễ Chúa giáng sinh trọn vẹn đầy đủ!!!

Bài hát này tuy được hát hằng năm, hầu như thuộc lòng lời cùng âm điệu khắp nơi trên thế giới, nhưng nó vẫn luôn hằng sống động. Phải, nó luôn luôn có sức hấp dẫn gây mang đến cho người hát cùng người nghe tâm tình, tình cảm rung động cảm kích, cùng cảm giác thư thái bình an. Bản nhạc này đi vào lịch sử âm nhạc và vào trái tim lòng con người.

Tác gỉa bài hát thánh ca thời danh này là một Linh mục được cử sai đến trợ giúp ở xứ đạo Công giáo Thánh Nikolaus vùng Oberndorf bên nước Áo, và Ông thầy giáo đánh đàn nhà thờ Thánh Nikolaus.

Linh mục Joseph Mohr, người sáng tác viết lời bản nhạc Stille Nacht heilige Nacht sinh ngày 11. 12.1792 ở thành phố Salzburg nước Áo - Salzburg cũng là quê quán của nhạc sĩ thiên tài Wolgang Amadeus Mozart - Cha của Joseph đã bỏ vợ con trốn ra đi nửa năm trước khi Joseph sinh ra. Hai ông bà chỉ sống chung với nhau không có lễ cưới về phân đời cũng như phần đạo.

Vào thời lúc đó, cậu bé sau khi chào đời 4 tiếng đồng hồ đã được rửa tội với tên Joseph Mohr . Theo Hlavac viết về tiểu sử của Joseph Mohr đã mô tả cậu Joseph này đã sống trải qua thời thơ ấu trong hoàn cảnh nghèo nàn tội nghiệp. Nhưng dẫu vậy thân phận nghèo nàn thời thơ ấu lại giúp cậu Joseph trở thành người tốt cùng thời danh.

Cha phó nhà thờ chính tòa Johann Nepomuk Hiernle đã nhìn ra nơi Joseph khả năng thiên phú còn tiềm ẩn, nên đã tận tình nâng đỡ Joseph rất quảng đại. Chính cha phó nhận ra tài năng nơi cậu và hướng dẫn dậy học cùng tạo điều kiện cho Joseph có thể từ 1808 đến 1810  vào học ở đại học Kremsmuenster. Nhờ thế Joseph Mohr có cơ hội kiếm tiền nuôi sống mình bằng chơi dạy nhạc cụ và ca hát.

Tổng giám mục Hieronymus von Colloredo đề ra chương trình cải cách đổi mới việc đào tạo linh mục ở chủng viện. Theo đó không chỉ chú trọng huấn luyện về mục vụ , nhưng còn về trí thức, về tâm lý, về sức khoẻ, về thiên nhiên nông nghiệp. Vị Tổng giám mục chú ý nhiều đến thánh nhạc bên nước Đức.

Những điều này đã gây ấn tượng phấn khởi nơi Joseph Mohr rất mạnh, và cậu muốn đem áp dụng vào thực tế. Là người con ngoại hôn không có cha chỉ sống với mẹ, nên Joseph cần phép chuẩn của Giáo Hội để có thể được truyền chức làm linh mục. Và phép chuẩn đã có cho Joseph.

Ngày 20.08.1815 Joseph Mohr được truyền chức Phó tế và một ngày sau đó được phong chức Linh Mục lúc 23 tuổi. Linh mục trẻ Joseph Mohr được sai cử trước hết làm mục vụ ở Ramsau vùng Bayern. Những năm sau đó đổi chỗ làm việc nhiều lần tiếp theo.

Theo những nguồn thuật lại Linh mục Mohr là người có tính tình hài hước vui vẻ, bình dân rất gần với dân chúng xứ đạo, cùng có trái tim tâm hồn với những người nghèo khổ. Ông thích chơi đàn Guitar, ca hát, vũ múa vui nhộn như sở trường của ông.

Năm 1817 được sai cử về trợ giúp nhà thờ Thánh Nocolaus ở Oberndorf, linh mục Mohr quen với Franz Xaver Gruber ( 1787 - 1863), là thầy giáo và là người đánh đàn nhà thờ. Hai người hiểu nhau rất thân tình. Họ trở nên bạn thân thiết với nhau.

Ngày lễ mừng Chúa giáng sinh 1818 Linh mục Mohr đã đưa lời bài hát do ông viết cho Gruber phổ nhạc, và cũng do chính Franz Gruber hát giọng Bass, Joseph Mohr hát giọng Tenor và Joseph Mohr chơi đàn Guitar đệm theo trước hang đá Chúa giáng sinh sau thánh lễ mừng Chúa giáng sinh.

Đó là lần đầu tiên bài Stille Nacht heilige Nacht được hát vang lên trong thánh đường vào ngày lễ mừng Chúa giáng sinh ở thánh đường Thánh Nikolaus bên nước Áo. Bài hát này ngày đó được hát không phải với ba phiên khúc nhưng với sáu phiên khúc. Lời bài hát và âm điệu cung nhạc bài hát thuyết phục làm cảm động say mê mọi người trong nhà thờ từ ngày hôm đó.

Động lực nào đã thúc đẩy Linh mục Mohr sáng tác ra lời bài hát, không có bằng chứng chắc chắn rõ ràng. Một suy đoán tích cực là Fr. Gruber và J. Mohr đã viết bài nhạc này với đàn Guitar chơi đệm trong nhà thờ là điều trước đó chưa xẩy ra. Và trong dòng thời gian có nhiều suy luận, suy đoán mang tính cách trang điểm thêu dệt huyền thoại cũng như lịch sử mang tính cách thi vị của bài Stille Nacht heilige Nacht.

Xưa nay có thắc mắc tại sao bản thánh ca này lần đầu tiên trong đêm thánh vô cùng do chính tác giả viết lời, J. Mohr,  hát và chơi đệm đàn Guitar mà không do Fr. Gruber chơi trên phím đàn Orgel trong thánh đường? Người ta đưa ra câu chuyện là chiếc đàn Orgel nhà thờ Thánh Nikolaus đã cũ cần phải sửa chữa điều chỉnh lại âm thanh đã đang đàn ngang cung, và lại thêm con chuột nhà thờ đã chui vào làm tổ cắn phá làm cho tiếng đàn bị sai lạc. Vì thế linh mục J. Mohr, cũng là người có tài chơi đàn Guitar, đã chơi đệm bản nhạc này với chiếc đàn Guitar của riêng Ông.    

Một năm sau lễ mừng Chúa giáng sinh 1818 với bài hát thời danh thần thoại Stille Nacht heilige Nacht, Linh mục Joseph Mohr được thuyên chuyển khỏi Oberndorf. Sau đó Ông còn thay đổi nhiệm sở bẩy lần nữa. Nhiệm sở sau cùng của Ông từ năm 1837 ở Wagrain vùng Pongau. Nơi đây Linh mục Joseph Mohr qua đời ngày 04.12. 1848 vào tuổi 56 vì mắc bệnh phổi.

Năm 2018 kỷ niệm 200 năm bản nhạc thời danh cùng phổ thông Stille Nacht, heilige Nacht được 200 tuổi. Vùng thành phố Salzburg bên áo, quê hương của tác gỉa bản nhạc, đã thành lập Hội Stille Nacht. Và năm 2018 Hội sẽ tổ chức lễ hội trọng thể mừng kỷ niệm bản nhạc thần thoại thời danh được 200 tuổi.

Năm 2011 bản nhạc thời danh thần thoại này được công nhận liệt kê vào danh sách Di sản Văn hóa thế giới. Và lời bản nhạc được dịch hay phổ lời ra hơn 200 ngôn ngữ địa phương trên khắp thế giới. Tiếng Việt Nam có bản Việt ngữ „Đêm thánh vô cùng“ do cố nhạc sĩ Hùng Lân viết lời.  

Lúc qua đời Linh mục Mohr, tác giả lời bản nhạc Stille nacht, heilige Nacht là người vô sản không có gì sở hữu. Vì lúc còn sinh thời Ông đã đem những gì mình có trao tặng tất cả, chỉ còn vài bộ quần áo để mặc. Năm 1912 người ta muốn tạc tượng vẽ hình linh mục tác giả J. Mohr, nhưng không tìm được hình ông. Vì tromg suốt đọc đời sống J. Mohr luôn luôn từ chối cho chụp hình mình. Nên sau khi ông qua đời không có một hình nào của ông để lại. Để có hình hài của Ông, người ta đã tìm thấy ngôi mộ Ông ở Wagrain, và cho đào lên lấy bộ xương sọ của ông làm mẫu đễ đúc tượng. Sau khi đã vẽ họa lấy mẫu, xương sọ ông được đưa về an táng ở bức tường nhà nguyện kỷ niệm Stille Nacht ở Oberdorn.

Ông đã qua đời, nhưng bài nhạc thần thoại bất hủ Stille Nacht heilige Nacht ca mừng Chúa giáng sinh của Ông đi vào lịch sử đời sống dân gian cho tới ngàn thu.

Lễ mừng Chúa giáng sinh

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long