LẦN CHUỖI MÂN CÔI – MỘT VIỆC ĐẠO ĐỨC ĐANG BỊ GIỚI TRẺ “XẾP XÓ”

Trước hết, các bậc cha mẹ hãy quản lý con cái của mình, quản lý cái Tivi và cái máy vi tính. Đừng cho con cái mua sắm những cái điện thoại đắt tiền, nhiều chức năng…
Trong đời sống của Giáo Hội, có hai việc tôn thờ Thiên Chúa: thứ nhất là Phụng Vụ, thứ hai là các việc đạo đức bình dân. Việc Phụng Vụ là việc thờ phượng Thiên Chúa một cách chính thức của Giáo Hội, gồm Thánh Lễ, Chầu Thánh Thể và Giờ Kinh Thần Vụ. Còn các việc đạo đức bình dân gồm có viếng Thánh Thể, lần hạt Mân Côi, đi Đàng Thánh Giá, rước kiệu… Gọi là “bình dân” vì ai cũng có thể làm được, và có thể làm được mọi nơi mọi lúc.


Trong các việc đạo đức bình dân, thiết nghĩ lần chuỗi Mân Côi là việc có giá trị nhất. Vì sao? Vì khi lần chuỗi Mân Côi là ta lặp đi lặp lại những lời kinh trọng nhất, đẹp nhất trong đạo. Bắt đầu là Kinh Lạy Cha, lời kinh do chính Chúa Giêsu dạy, lời kinh trọng nhất. Và tiếp đến là 10 kinh Kính Mừng, vốn là lời kinh cũng có nguồn gốc từ Tin Mừng. Đi kèm là việc luân phiên suy gẫm 20 mầu nhiệm Tin Mừng gắn liền với công trình nhập thể và cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô, trong đó Đức Mẹ luôn luôn góp phần một cách trực tiếp.

Đó là lý do tại sao Mẹ Maria rất yêu thích chuỗi Mân Côi. Và đó cũng là lý do tại sao, ta thấy rằng, mỗi lần hiện ra nơi này nơi nọ, Mẹ Maria đều cầm tràng chuỗi Mân Côi trên tay, và luôn nhắc nhở con cái của Mẹ lần chuỗi Mân Côi: ở Fatima, ở Lộ Đức, hay ở La Vang đều như thế!

Tuy nhiên, thực tế ngày hôm nay giới trẻ và cả giới trung niên rất lười lần Chuỗi Mân Côi, đặc biệt nam giới. Tất cả đều có chung một “họ” là họ “lười”. Nguyên nhân tại sao? Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng thiết tưởng có ba nguyên nhân chính.

- Thứ nhất là do não trạng chung, người ta vốn xem thường các việc đạo đức bình dân.

Vì là bình dân, nên nhiều người cho là bình thường, thậm chí là tầm thường, là việc của mấy bà già. Cơm bình dân thì giới bình dân ăn; việc đạo đức bình dân thì người bình dân làm. Đọc kinh, viếng Chúa, đi Đàng Thánh Giá đã mệt, lại còn mất công, tốn thời gian. Lần hạt thì toàn lặp đi lặp lại những kinh nhàm chán và buồn ngủ; trong khi đó cuộc sống hôm nay có những thứ khác hấp dẫn hơn, lý thú hơn nhiều. Rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ vẫn thường suy nghĩ như thế! 

- Thứ hai là do cuộc sống ngày hôm nay vốn nhiều bận bịu lo toan, nhất là việc học hành, làm ăn.

Người lớn thì căng thẳng vì chuyện cơm áo gạo tiền, hay vì chuyện công ăn việc làm, có khi phải tăng ca tăng kíp, có khi làm ngày không đủ phải tranh thủ làm đêm. Người trẻ thì bù đầu vào chuyện học hành: học chính khóa, học thêm, học tăng cường, học phụ đạo, học nâng cao… Tất cả những thứ đó đã khiến cho nhiều người cảm thấy mệt mỏi sau một ngày làm việc, hay học hành; vì thế mà họ không còn hứng thú, hay sốt sắng để làm các việc đạo đức nữa.

- Thứ ba là do các thú vui giải trí từ ngành công nghệ truyền thông.

Đây là lý do chính. Rảnh rang được giờ nào là xem Tivi, chat chit, lướt web, hay chơi game. Tivi thì nhiều chương trình, nhiều kênh đài phong phú và hấp dẫn, phát sóng 24/24. Đặc biệt những chương trình nóng, “hot” lại rơi vào những giờ vàng, giờ Kinh Lễ, khiến cho người ta không sao rời khỏi cái màn hình Tivi - con quái vật một mắt. Nếu rời được cái Tivi thì quay sang ôm cái điện thoại, là thứ mà lúc nào cũng kè kè bên mình: hết gọi điện lại nhắn tin, hết nhắn tin lại chơi game, hết chơi game lại nghe nhạc, hết nghe nhạc lại selfie. Chưa hết, dứt được cái điện thoại, lại chụp ngay cái máy vi tính: lướt web, chat chit, xem phim, chơi game thỏa thích, v.v…

Ngày hôm nay không ai phủ nhận những tiện ích lớn lao từ cuộc cách mạng công nghệ thông tin mà Apple, Microsoft… mang lại cho con người. Thế nhưng, có thể nói Apple, Microsoft đang là những “nhà vô địch” trong việc “đánh cắp” các linh hồn. Dĩ nhiên, chính những người sử dụng các phương tiện, cũng có phần trách nhiệm vì đã “thỏa hiệp” với những “kẻ đánh cắp” ấy.

Viện cớ cuộc sống có nhiều áp lực và căng thẳng, nên cần giải trí, cần thứ giãn, và dần dà người ta sa đà và bị cuốn vào những thứ giải trí thường vô bổ. Hậu quả là gì? Hậu quả là các thứ này sẽ lấy hết những khoảng thời gian rảnh rỗi ít oi, và cũng xâm chiếm hết tâm trí của con người, khiến cho người ta không còn trí lòng nào, khoảng trống nào cho Chúa Mẹ và cho các việc đạo đức. Cầm điện thoại thích thú hơn cầm sách Lời Chúa, lướt web lý thú hơn lần hạt, chat chit chí thú hơn đọc kinh, v.v… Đây là một thực tế đối với nhiều bạn trẻ ngày nay.

Có thể nói chính vì những nguyên nhân trên mà lớp trẻ ngày nay đang bắt đầu rơi vào một cuộc “đại khủng hoảng” về các việc đạo đức, xa hơn sẽ là một “thảm họa” về đời sống thiêng liêng. Cứ thử xem trong giáo xứ có bao nhiêu bạn trẻ còn lần chuỗi Mân Côi mỗi tối, bao nhiêu thanh thiếu niên còn viếng Chúa Giêsu Thánh Thể mỗi ngày thì sẽ thấy thảm họa về đời sống thiêng liêng là không còn xa. Ai phải chịu trách nhiệm?

Người đầu tiên phải chịu trách nhiệm chính là các bậc làm cha mẹ. Vậy cần chấn hưng thế nào đây?

- Trước hết, các bậc cha mẹ hãy quản lý con cái của mình, quản lý cái Tivi và cái máy vi tính. Đừng cho con cái mua sắm những cái điện thoại đắt tiền, nhiều chức năng…. Chúng sẽ tiêu tốn hết thời gian rảnh rỗi của nó vào những chuyện vô bổ, tả pí lù. Bởi vì chúng chưa biết làm chủ bản thân, chưa biết sử dụng đúng đắn. Thay vì những phương tiện đó đem lại những cái hay cái được, thì lại đem đến những cái dở cái mất: mất giờ, mất tiền, mất sức và mất nết.

- Sau nữa, chính cha mẹ hãy nêu gương sáng cho con cái mình. Đây là điều quan trọng nhất. Mai sau ra trước tòa phán xét, Chúa sẽ hỏi các bậc cha mẹ về trách nhiệm này, trách nhiệm răn dạy và làm gương sáng cho con cái của mình. Cha mẹ mà không có lòng yêu mến Chúa, không đọc kinh lần chuỗi thì khó mà mong con cái có được lòng yêu mến Chúa và yêu mến Chuỗi kinh Mân Côi.

Vậy nếu ta chưa có thói quen làm các việc đạo đức bình dân, hoặc đã đánh mất thói quen tốt lành là lần chuỗi Mân Côi, do lười biếng, hay do xem nhẹ, thì tháng Mân Côi là dịp rất thuận tiện để bắt đầu tập thói quen, hoặc bắt đầu lại thói quen tốt lành ấy.

Xin Chúa giúp chúng ta có quyết tâm cụ thể trong tháng Mân Côi này và nỗ lực để thực hành, hầu kéo ơn Chúa, ơn Mẹ xuống trên gia đình và gia tộc mình; đồng thời giúp con cái mình tìm lại nguồn sức sống thiêng liêng.
 
Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

18 KHOẢNH KHẮC ĐẶC BIỆT TRONG NGÀY ĐỂ KHÁM PHÁ SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA

“Thiên Chúa hành động trong khiêm hạ và tĩnh mịch. Sự ‘phô diễn’ không phải là lối hành xử của Ngài!” (Giáo Hoàng Phan-xi-cô)
Tôi thấy chẳng hiếm họa gì để nghe những lời than vãn như “Thiên Chúa bỏ rơi tôi, Ngài chẳng nghe tiếng tôi van nài,” hay “Tôi chẳng biết Chúa ở đâu.” Con người ngày nay thường sống trong vội vã và để mình bị chôn vùi vào vòng xoáy của công việc, và của muôn vàn hoạt động mà thế giới này đòi hỏi. Những hoạt động ấy có khi làm mất đi trong họ ý nghĩa cuộc đời, và rốt cuộc chúng biến họ thành những người mất phương hướng, rồi lại cảm thấy mình cô độc.

Ngay cả khi con người không cảm thấy Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài thì Ngài vẫn luôn hiện diện giữa họ. Nếu dành một chút lưu tâm, và tạm ngưng dòng suy nghĩ trong giây lát, ta sẽ nhận ra rằng quả thực trong từng bước ta đi, từng nơi ta ở, dù tốt, dù dở, Thiên Chúa vẫn ở đó với ta. Ngài hiện diện, Ngài ước mong con người lắng nghe và cảm thấy mừng rỡ hân hoan khi gặp được Ngài. Có lẽ nhiều người đã sai lầm khi tin rằng người ta chỉ có thể tìm thấy Thiên Chúa trong những khoảnh khắc phi thường; nơi những lúc cầu nguyện sâu lắng hay những phép lạ cả thể. Quả thực Thiên Chúa hiện diện trong những khoảnh khắc đó, tuy nhiên Ngài cũng ở bên ta trong từng bước ta đi. Ngài chờ đợi con người mở toang cánh cửa tâm hồn và lắng nghe Ngài thì thầm bên tai, cảm nghiệm từng chút sự chăm sóc, sự hướng dẫn, và kể cả sự hóm hỉnh nơi Ngài nữa.

Và đây, bạn sẽ thấy 10 tình huống cụ thể diễn ra hằng ngày, mà nơi đó, Thiên Chúa sẽ cho thấy chính Ngài đang hiện diện. 

“Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20)

1. Khi ta thức dậy và dâng ý nghĩ đầu tiên cho Chúa

Tôi mở mắt ra và nhận thấy cuộc sống của tôi là một món quà khởi xuất từ một tình yêu thương vô bờ, cho dẫu đôi khi vẫn còn đó nơi cuộc đời tôi, những giây phút khó khăn đầy thách đố.

2. Khi tôi chia sẻ những món quà

Đôi lúc tôi chợt nhận ra những kỹ năng và tài khéo độc nhất vô nhị của tôi, chẳng hạn như khả năng trao ban những lời khuyên tốt lành, sửa chữa thứ gì đó, vẽ một bức tranh tặng cho các con tôi, hát một bài hát, và đôi khi nở một nụ cười tươi duyên dáng,…, những tài khéo ấy biến tôi thành duy nhất và khác biệt, đúng như Thiên Chúa muốn tôi là.

3. Khi sự giận dữ xâm chiếm con người tôi, nhưng ngay sau đó, tôi có thể khống chế và điều khiển lối phản ứng của mình

Sự hiện diện của loại phản ứng cáu gắt như thế trong đời sống là một dấu chỉ cho thấy có thứ gì khác thúc đẩy tôi. Việc tôi không bị cuốn theo, nhưng tỉnh thức trước thôi thúc ấy cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong tôi.

4. Khi tôi cảm thấy cô đơn, nhưng ngay sau đó, một hình ảnh ủi an tôi (trước khi tôi rơi vào tuyệt vọng)

Rất nhiều lần trong những khoảnh khắc cô đơn tuyệt vọng, tôi trở về với Thập Giá Chúa Kitô và tìm thấy nơi đó ý nghĩa của những đớn đau, phiền muộn tôi gặp phải. Ngài đã mang vác chúng trước tôi.

5. Khi tôi có được những giây phút riêng tư và cầu nguyện

Ngày lại ngày trôi qua tôi hầu như chẳng có được chút thì giờ cầu nguyện. Nhưng có lẽ khi chọn chúng để kết thúc một ngày sống, những khoảnh khắc, những giây phút ấy lại là niềm an ủi cho tôi. Đó là những khoảnh khắc cho phép tôi nghỉ ngơi bên Ngài, để tạ ơn Ngài, và để tìm thấy một sự thanh thản diệu vời.

6. Khi nỗi đau của người khác biến thành nỗi đau của chính tôi 

Tôi cảm thấy nỗi đau của người khác. Có những người tôi chưa bao giờ gặp gỡ, hoặc họ ở những nơi tôi chẳng thể nào thăm viếng, nhưng tự nhiên tôi cảm thấy niềm đau xót của họ chính là nỗi đau của tôi. Đó là dấu chỉ Chúa nói trong tôi: “Hãy yêu người thân cận như chính mình.” (Mc 12,31)

7. Khi tôi chiêm ngắm những kỳ quan trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa

Khi chiêm ngắm những kỳ quan trong công trình sáng tạo, tôi trở nên một chứng nhân cho một trật tự đang vận hành vũ trụ. Tôi thấy mình được nhắc nhớ rằng thế giới này xoay vần nhịp nhàng theo một trật tự nhất định, không thể do một định mệnh ngẫu nhiên nào đó.

8. Khi tôi chứng kiến tình yêu mà đứa con yêu quí của tôi dành cho người khác

Một nụ hôn ngây thơ của đứa trẻ vén mở cho tôi dấu chỉ về Thiên Chúa. Dấu chỉ ấy dạy em bé bài học yêu thương ngay từ khi còn thơ ấu.

9. Khi tôi thấy niềm vui của những người đã dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa

Niềm vui của những người bạn sống đời dâng hiến luôn gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi, đặc biệt khi tôi nói chuyện với họ và khi nhìn họ đón chào người khác. Đời sống họ tỏa lan một thứ niềm vui hẳn phải đến từ một điều gì đó lớn lao hơn nhiều, một sự đồng hành liên lỉ, một sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.

10. Những khuôn mặt bé thơ đầy hối hận

Khi các con tôi nghịch ngợm và đột nhiên hiểu rằng chúng đã làm một việc không tốt, chúng tỏ ra hối hận. Hối hận là điều vô cùng quan trọng để bắt đầu lại. Thiên Chúa hiện diện trong tình huống như vậy để dạy tôi cách làm mẹ và làm sao để hướng dẫn các con tôi biết hành động theo những điều tốt lành.

11. Khi tôi giúp đỡ người khác

Tình yêu gắn liền với việc trao hiến và phục vụ. Mỗi khi tôi giúp đỡ ai đó, cho dù là bạn bè hay một người xa lạ, trái tim tôi vẫn ngập tràn hoan lạc, và tôi cảm nghiệm được ý nghĩa của điều răn mới Chúa Giêsu để lại cho chúng ta, đó là yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương người thân cận như chính mình.

12. Khi tôi nhớ đến người thân yêu đã khuất

Khi tưởng nhớ đến những người thân yêu của tôi đã li trần, đó là ông bà, chú bác, và cả những người bạn của tôi, Thiên Chúa luôn đến trong tâm tư tôi với một niềm an ủi và lời hứa chúng tôi sẽ gặp lại nhau trong cuộc sống vĩnh cửu mai ngày.

13. Ngợi khen Chúa vì ân huệ có được những người bạn tốt

Tôi có thể chia sẻ với người bạn thiết thân kinh nghiệm, ký ức, những ngày rực sáng, và cả những ngày tăm tối trong cuộc đời tôi. Tình bạn là ân huệ cao vời mà Thiên Chúa ban tặng cho ta. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)

14. Khi sức mạnh sáng tạo của nhân loại làm tôi thấy ngỡ ngàng

Nhìn vào tất cả nhưng gì con người có thể tạo ra, nơi những đỉnh cao của trí tưởng tượng họ vươn tới, những điều ấy vén mở một thực tại rằng Đấng Tạo Hóa vẫn đang hoạt động trong chúng ta.

15. Khi những đám mây gợi cho tôi nhớ về Thiên Đàng… Bạn có nghĩ như tôi không?

Nhìn lên bầu trời và cảm thấy nỗi nhớ mong vô tận. Điều này nhắc tôi rằng tôi được mời gọi để sống một cuộc đời vĩnh cửu trên Trời.

16. Tôi cảm thấy dạt dào lòng biết ơn khi biết mình có khả năng cảm nghiệm được tình yêu tận nơi sâu thẳm của tâm hồn

Trái tim tôi được lấp đầy bằng một niềm vui khôn tả khi tôi dành tình yêu sâu sắc của mình cho một ai đó, và điều ấy cho phép tôi dám dâng hiến chính bản thân mình. Tôi muốn trao hiến tất cả cho tình yêu. Tôi muốn yêu như Chúa đã yêu thương tôi.

17. Trong những khoảnh khắc tôi nhận ra trái tim mình đau nhói trước sự thoáng qua của cuộc song.

Nhớ rằng đời sống này là thoáng qua, nhưng tôi vẫn khát khao một cuộc sống vĩnh cửu. Đây là cảm giác mà tất cả chúng ta đều có. Và đó là dấu chỉ của Thiên Chúa rằng Ngài đã chuẩn bị cho chúng ta một cuộc sống trường tồn.

18. Bất thình lình, một vài tư tưởng xuất hiện trong tôi, nhưng tôi không biết chúng đến từ đâu

Biết bao lần thấy mình có được những từ ngữ chính xác, những giải pháp tuyệt vời hay đôi khi, một sự gợi hứng nào đó tự nhiên đến trong tư tưởng, nhưng tôi không biết chúng đến từ đâu. Tuy nhiên, chúng đến thật đúng lúc. Và điều này tỏ cho tôi thấy có ai đó vẫn ở bên cạnh, thì thầm với tôi và luôn chăm sóc tôi.

Tác giả: Silvana Ramos
Chuyển ngữ: Đaminh Phan Quỳnh, SJ
 (dongten.net 10.10.2018catholic-link.org

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN - B - CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

Dầu đã được trực tiếp tham gia vào công tác ‘truyền giáo’ trong thời gian 02 năm tại Mongolia, nhưng khi được nhiều bạn gửi ‘mail’ khuyến khích viết bài suy niệm nhân Khánh Nhật Truyền Giáo, tôi vẫn cảm thấy ngại ngùng. Lý do là vì suy nghĩ của tôi sau thời gian ‘truyền giáo’ trở về đã bị thay đổi nhiều quá; tôi cảm thấy lạc lõng và cô đơn trong suy tư, cũng như hụt hẫng trong truyền đạt về đề tài này. Cuối cùng thì sáng nay trong thánh lễ, sau khi lắng nghe lời chia sẻ của các tập sinh, tôi đã quyết định viết, nhưng không phải cho ai khác mà là viết cho chính mình đấy thôi.
Tôi nhớ là: năm 2003, sau khi kết thúc nhiệm kỳ giám tỉnh cuối cùng, tôi vẫn chưa có một định hướng rõ rệt nào cho tương lai phục vụ của mình. Vì Bề Trên trung ương rộng phép cho tôi được hưởng một năm bồi dưỡng tại bất cứ đâu…, nên tôi đã quyết định xin có một năm trau dồi thêm kiến thức về tu đức, và học hỏi về các tôn giáo thế giới tại đại học Berkeley – California (Hoa Kỳ); chính trong thời gian này mà tôi đã đi tới quyết định xin bề trên cho phép đi truyền giáo tại Mongolia (Mông Cổ), nơi mà tôi đã lui tới nhiều lần trong thời gian, với tư cách giám tỉnh, thành lập các cơ sở truyền giáo cho anh em tỉnh dòng Don Bosco Việt Nam. Hơn nữa, trước khi lên đường đi Mongolia, tôi còn được tham dự một khóa học ba tháng chuyên đề về truyền giáo học tại đại học Universitá Pontificia Salesiana – Roma; ấy thế mà khi thực sự tới và làm việc trực tiếp tại một nơi truyền giáo ‘Ad Gentes’ thứ thiệt như Mongolia, cái kinh nghiệm ‘truyền giáo’ tuy còn rất nông cạn và bé nhỏ mà tôi đã thủ đắc được trong thời gian ngằn ngủi này đã đủ để làm đảo lộn (upside down) mọi suy nghĩ trước đó của tôi về lãnh vực này.
Trước hết, tôi thấy mình dị ứng ghê gớm với cái từ ‘truyền giáo’ thông dụng, vì thấy nó quá mập mời dễ gây hiểu lầm. Nếu truyền giáo hàm ý làm cho một người ‘không có đạo’ được rửa tội để gia nhập đạo Công giáo theo nghĩa ‘cải đạo’ (proselytism), thì rõ ràng là ta đã hiểu sai ẩn ý của Đức Kitô mất rồi. May mắn thay nội dung này đã chính thức bị Công Đồng Va-ti-can II phế bỏ! ‘Missio’ phải được hiểu là sứ vụ được sai đi (‘thừa sai’) để ‘rao giảng Tin Mừng’ (evangelisare), có nghĩa là để loan báo Tin Mừng cứu độ, để loan truyền tình yêu thương xót của Thiên Chúa đã từng được Đức Kitô Giêsu thực hiện trong cuộc sống của Người, đặc biệt qua cái chết Thập Giá. Quan niệm cho rằng: ai đó phải gia nhập đạo, phải được rửa tội, thì mới được hưởng nhờ lòng nhân ái cứu độ của Thiên Chúa là một sai lầm lớn. Lòng thương xót và ơn cứu độ đã được Chúa ban cho hết thảy mọi người cách vô điều kiện (xem thư Rô-ma chương 5). Như thế ‘Loan báo Tin Mừng’ không làm gì khác hơn là mở mắt cho người ta nhận biết rằng họ đã được hưởng ơn cứu độ và lòng thương xót, nhờ vào sự chết và phục sinh của Đức Kitô Giêsu; và một khi họ đã tin nhận điều đó, ta mời gọi họ gia nhập cộng đoàn tín hữu để cùng chúng ta dâng lời cảm tạ tri ân lên Thiên Chúa về hồng ân vĩ đại đó.
Một suy nghĩ khác mà tôi cảm thấy rất ‘dội’ đó là: nếu không có ai đi truyền giáo thì các dân ngoại sẽ mất linh hồn hết…, rằng nhà truyền giáo là những người mang ơn cứu độ tới cho kẻ ngoại…, rằng ơn cứu độ lệ thuộc vào một lối sống được xây dựng trên nền ‘luân lý Kitô giáo’ mà ta sẽ mở mắt cho họ biết, để rồi, nhờ nắm giữ cặn kẽ các qui định, luật lệ đó, họ sẽ được vào hưởng nước thiên đàng. Thiết tưởng: khi Đức Kitô sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng, Người đâu có ám chỉ điều này: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Ngay câu nói: ‘Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” đâu có nghĩa là, chính phép rửa sẽ ban ơn cứu độ! Nhìn vào chính Đức Giêsu ta sẽ thấy: Tin Mừng của lòng thương xót cứu độ vẫn có thể được rao giảng và mời gọi ngay cả một người nữ Sa-ma-ri đang sống chung chạ sau năm đời chồng. Khi còn ở Mongolia, cha sở nhà thờ chính tòa Ulaanbataar, một nhà truyền giáo người Ca-mơ-run, xin tôi dạy giáo lý cho một nhóm sinh viên. Ngài muốn tôi dạy theo chương trình giáo lý tân tòng mà ngài đã soạn sẵn, khởi đầu bằng nội dung thập giới của Chúa và lục giới của Hội Thánh… Ngài căn dặn: đó là các điều kiện tiên quyết để gia nhập đạo hầu được rỗi linh hồn… Tôi đã quyết định không áp dụng chương trình đó, xác tín rằng ‘truyền giáo’ tiên quyết phải là rao giảng Tin Mừng, mà Tin Mừng chính là cho mọi người nhận biết Thiên Chúa xót thương và cứu độ toàn thể nhân loại. Tôi dọn một chương trình riêng, trong đó tôi phân tích cho các sinh viên Mongolia hiểu ra rằng: Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô yêu thương họ, không như các thần linh đạo Shaman của người du mục, luôn gieo rắc sợ hãi kinh hoàng khắp nơi. Thế đấy, cái kinh nghiệm rất cụ thể của tôi về sự khác biệt quá lớn giữa ‘truyền giáo’ và ‘loan báo Tin Mừng’ đại loại là như thế.
Từ cái kinh nghiệm ‘thừa sai’ còn rất thô thiển tại Mongolia tôi đã học được một bài học cơ bản: Thiên Chúa, không biết từ thuở nào, đã yêu mến và cứu chuộc các người Mông Cổ du mục sinh sống trên vùng thảo nguyên lạnh giá mênh mông tại Trung Á. Cuộc sống du mục nay đây mai đó của họ, với văn hóa và các truyền thống từ bao đời, cho dầu có nhiều điểm khác biệt với nền ‘luân lý Kitô giáo’ mang tính định canh định cư của lịch sử, vẫn không hề tách họ ra khỏi lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã và đang chủ động thực hiện nơi họ nhờ Đức Kitô Giêsu. Công việc của một ‘thừa sai’ như tôi đích thị phải là rao giảng Tin Mừng, là loan báo cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ trong chính lối sống và văn hóa của họ…, đồng thời mời gọi họ tin vào Đức Kitô Giêsu Cứu Chúa…, mời gọi họ lãnh nhận phép thánh tẩy… và gia nhập vào Hội Thánh là cộng đoàn những người nhận biết Thiên Chúa từ ái và yêu thương để không ngừng cất cao lời cảm tạ. Và cũng từ đó tôi nghiệm ra một điều còn quan trọng hơn nữa là: một ‘người loan báo Tin Mừng’ trước hết phải chính mình có cảm nghiệm sâu sắc về lòng thương xót cứu độ của Chúa. Cảm nghiệm này chính là nền tảng của việc được sai đi, là sức mạnh trong khiêm tốn phục vụ, là hy vọng không hề suy chuyển trước các khác biệt và thách đố, và là chương trình và hành động trong sứ vụ thừa sai.
Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con được tham gia chút ít vào chương trình cứu độ đầy yêu thương của Chúa đối với dân tộc Mongolia. Cảm tạ Chúa đã mở lòng cho con nhận biết Chúa yêu thương họ vô cùng, trước cả khi con được sai tới với họ để nói cho họ biết điều đó. Qua tâm tình tri ân này, xin cho con tiếp tục không ngừng khao khát tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa yêu thương và cứu độ, và tìm cách làm chứng cũng như loan truyền điều đó cho mọi người con gặp gỡ và tiếp xúc hàng ngày. Con coi đó chính là công việc ‘truyền giáo = thừa sai’ Chúa đang dành cho con lúc này và trong điều kiện sống này. Amen.
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

KHIẾT TỊNH VÀ TÌNH YÊU

Tính dục và khiết tịnh không phải là đối thủ như kiểu nền văn hóa và giáo hội chúng ta thường nhận định. Chúng chỉ là hai mặt của đồng xu. Chúng cần nhau. Tính dục không có khiết tịnh thì vô hồn và không đáng trọng.

Đây là những lời của thầy dòng Biển Đức, Benoit Standaert, và tôi tin chúng có thể rất hữu ích trong văn hóa thời nay, nơi mà hầu như mọi người cả trong giới thế tục lẫn sống đời khiết tịnh tận hiến đều nghĩ rằng tính dục và khiết tịnh là thứ đối lập nhau như tử địch.

Thật đáng buồn khi thời nay người ta không hiểu rõ sự đối lập này, cả trong văn hóa lẫn trong Giáo hội chúng ta. Trong văn hóa đương đại, sự khiết tịnh hầu như được xem là ngây thơ ngơ ngác, thiếu sự khai sáng quan trọng, và chỉ là một phẩm chất được tôn vinh và bảo vệ trong tuổi ấu thơ. Thật vậy, trong nền văn hóa thời nay, khiết tịnh thường bị khinh thị và bị xem là sự khắc nghiệt về đạo đức dựa nên nỗi sợ. Mỉa mai thay, nhiều người trong Giáo hội đang cố bảo vệ sự khiết tịnh lại, cũng chẳng lành mạnh hơn gì. Chúng ta không bao giờ liên kết sự khiết tịnh với một linh đạo có thể tôn vinh tính dục như là món quà đẹp đẽ của Thiên Chúa vốn được định để gắn kết sự phong phú, thiêng liêng và vui mừng.

Tính dục và khiết tịnh không phải là đối thủ như kiểu nền văn hóa và giáo hội chúng ta thường nhận định. Chúng chỉ là hai mặt của đồng xu. Chúng cần nhau. Tính dục không có khiết tịnh thì vô hồn và không đáng trọng. Ngược lại, khiết tịnh tự xem mình là cao vượt hay tách rời tính dục, thì sẽ kết cục trong cằn cỗi, phán xét và giận dữ. Khốn cho cả hai, nếu không biết tôn trọng mặt kia.

Bất hạnh thay, ngoại trừ vài ngoại lệ, Giáo hội chưa từng hiểu thấu về tính dục, và cũng như vậy, trừ số ngoại lệ còn hiếm hoi hơn, nền văn hóa của chúng ta chưa từng hiểu thấu sự khiết tịnh. Người ta tìm kiếm, và hầu như chẳng thấy, một linh đạo kitô giáo về tính dục thật sự bao quát và tôn vinh chính đáng món quà tuyệt vời mà Thiên Chúa ban tặng chúng ta trong tính dục. Cũng như thế, người ta cũng tìm kiếm, và hầu như chẳng thấy, một tiếng nói thế tục nào toát lên được tầm hệ trọng của khiết tịnh. Khi ông Môsê đứng trước bụi gai bốc cháy và Thiên Chúa bảo ông, “Cởi giày ra vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh,” cũng có lẽ là lời Thiên Chúa đang nói về chúng ta khi đứng trước mặt nhau trong mầu nhiệm tình yêu và tính dục. Tính dục đem lại sự sống chỉ khi nó được trao ban và đón nhận cùng lòng tôn trọng thích đáng.

Tính dục không chỉ là tình dục. Khi tạo thành con người đầu tiên, Thiên Chúa nhìn họ và nói, “Con người ở một mình thì không tốt!” Điều này không chỉ đúng với ông A-dong và bà E-và, mà còn đúng với tất cả mọi con người, mọi sinh vật, và mọi phân tử nguyên tử trong vũ trụ. Ở một mình thì không tốt, và tính dục là ngọn lửa tồn tại trong chúng ta ở mọi mức độ hiện sinh, ý thức và không ý thức, cả thân xác và linh hồn, hướng chúng ta ra khỏi sự cô độc của bản thân, hướng về gia đình, cộng đồng, tình bạn, kết giao, sinh sôi, đồng sáng tạo, mừng vui, phấn khởi và giao hợp. Tính dục có liên kết với bản năng sống của chúng ta, và không thể tách rời khỏi sự thiêng liêng mà chúng ta cảm nhận trong mình với tư cách thụ tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. Và là một sinh lực, tính dục là điều thiêng liêng, không bao giờ đáng bị dè bỉu hay bị hạ giá xuống một thứ tầm thường.

Còn khiết tịnh, nhiều người chúng ta không biết, trước hết không chỉ là một khái niệm trong tình dục. Nó hơn thế nhiều. Khiết tịnh là sự tôn trọng thích đáng và kiên nhẫn thích đáng, không chỉ là lập trường của chúng ta với hôn nhân, mà thật ra là lập trường của ta trước mọi chuyện trong đời. Khiết tịnh không phải là độc thân, và càng không phải là lãnh đạm. Người ta có thể độc thân nhưng không khiết tịnh, cũng như người ta có thể có sinh hoạt tình dục tích cực nhưng vẫn khiết tịnh. Nếu hiểu đúng, thì khiết tịnh không phải là bài tình dục, mà nó bảo vệ tính dục khỏi sức mạnh quá dữ dội của chính nó bằng cách tạo nên những bộ lọc cần thiết, là sự kiên nhẫn và tôn trọng, để cho người khác được là chính mình, cho chúng ta được là chính mình, và cho tình dục được là một ơn thiêng liêng đem lại sự sống như mục đích của nó.

Trong quyển Holy the Firm, Annie Dillard đã cho chúng ta một hình ảnh rất thú vị về khiết tịnh. Bà kể rằng, một ngày nọ, khi ngắm một chú bướm vất vả chui ra khỏi kén, và bà đã mất kiên nhẫn. Tiến trình thoát kén thật đẹp nhưng chậm kinh khủng, nên bà đã lấy một cây nến và thêm nhiệt lượng cho nó. Chú bướm chui ra khỏi kén nhanh hơn, nhưng bởi tiến trình đã không theo đủ thời gian và sự tự do cần thiết của nó, nên chú bướm chui ra với đôi cánh bị hỏng. Quy luật tự nhiên đã không được tuân thủ, một lỗi lầm trong khiết tịnh, một sự mất kiên nhẫn thiếu khôn ngoan, một sự hấp tấp dẫn đến khiếm khuyết xảy ra trong tự nhiên.

Tính dục và khiết tịnh cần nhau. Tính dục đem lại sinh lực, khát khao, nồng nhiệt và khẩn bách khiến chúng ta nhận ra, trong vô thức hay ý thức, rằng ở một mình thì không tốt. Nếu dập tắt tiếng nói của tính dục, chúng ta sẽ trở nên cằn cỗi và giận dữ. Mặt khác, khiết tịnh cho chúng ta biết rằng, trên hành trình tìm kiếm sự hòa hợp với mọi thứ vượt ngoài bản thân, chúng ta phải đủ kiên nhẫn và tôn trọng để cho người khác được trọn vẹn là chính họ và chúng ta được trọn vẹn là chính mình.

Ronald Rolheiser

J.B. Thái Hòa dịch

ANNA, TỪ VŨ NỮ KHỎA THÂN ĐẾN NỮ TU

“Khi tôi nhảy, mọi người xem tôi như cô gái điếm. Nhưng nhờ Chúa Giêsu, tôi hiểu thân thể tôi không phải là thùng rác”. Nữ tu Anna Nobili, cựu vũ nữ khỏa thân, bây giờ là nữ tu nói chuyện với báo Aleteia.

Trước khi gặp Chúa, Anna Nobili là vũ nữ khỏa thân. Cô nhảy trong các hộp đêm ở thành phố Milan, nước Ý, cho đến ngày cô gặp Chúa Kitô. Sáu năm sau, cô nghe tiếng gọi của Chúa và trở thành nữ tu Dòng các nữ tu Nhà Nazareth. Nữ tu Anne Nobili kể cho chúng tôi nghe câu chuyện trở lại lạ lùng của xơ.

Cái gì đã làm cho cô gái trẻ đẹp và nhạy cảm như xơ khỏa thân trong các hộp đêm?
Nữ tu Anna Nobili: Cha mẹ tôi ly dị năm tôi 13 tuổi. Cha tôi rất hung bạo với mẹ tôi, vừa bằng lời vừa đánh đập. Cha tôi là một người bất hạnh, ông trút hết nỗi bực tức của mình trên con cái. Không ai dạy cho cha tôi biết yêu thương là như thế nào. Cha tôi không thể mang tình thương đến cho vợ con. Lớn lên, sự thiếu tình thương phụ tử này làm cho tôi ngày càng không thể chịu đựng nỗi. Trong lòng tôi là một nỗi trống vắng xúc cảm to lớn. Tôi rất rụt rè, tôi nói ngọng… 

Để lên sân khấu tôi không được rụt rè…
Khi đó tôi nghĩ tôi chẳng có giá trị gì. Ở trường, tôi cảm thấy bị loại ra rìa. Các bạn học làm cho tôi có cảm tưởng tôi chẳng được tích sự gì. Tôi phải giống các bạn để được chấp nhận. Khi đó tôi bắt đầu ăn mặc lập dị, tôi bắt mẹ tôi phải mua áo quần đắt tiền và hợp thời trang cho tôi. Tôi trang điểm và ăn mặc khiêu khích để các bạn gái phải ghen tức với tôi. Dung mạo của tôi rất xinh và gợi cảm. Các cô xem tôi như một hiểm nguy cho họ. Tôi lại bị cô độc và ruồng bỏ. Tôi bắt đầu bị suy thoái tinh thần.

Khi đó xơ không có bạn trai?
Có chứ. Anh ta phớt lờ tôi ban ngày nhưng lại lợi dụng tôi ban đêm. Chúng tôi ở chung với nhau ban đêm, nhưng ban ngày tôi ở một mình. Khi tôi hiểu anh ta không yêu tôi, tôi rất phẫn nộ. Khi đó tôi đổi qua lối sống về đêm. Tôi bắt đầu làm việc ở một vài hộp đêm ở thành phố Milan, rượu chảy như suối cũng như khỏa thân. Với công việc này, tôi gặp không biết bao nhiêu là đàn ông. Tôi biết tất cả các người canh hộp đêm của thành phố. Tôi có thể vào miễn phí bất cứ đâu. Hai giờ sáng tôi xong việc, sau đó tôi đi một vòng các tiệm nhảy disco cho đến sáng. 

Khi đó xơ có hạnh phúc không?
Tôi sống trong ảo tưởng của hạnh phúc. Tôi không yêu chính mình, nhưng đàn ông thích cơ thể của tôi. Thân thể và điệu nhảy của tôi là dụng cụ để tôi săn đàn ông như săn chiến lợi phẩm. Càng ngày càng nhiều hơn, mỗi đêm là một người mới. Tôi còn học nhảy để diễn trong các vở diễn và giúp tôi mở cánh cửa bước vào lãnh vực truyền hình. Tôi trở nên người nổi tiếng. Tôi đi khắp nơi trên thế giới.

Biến cố nào đã làm cho xơ từ giả nhảy khỏa thân đến đi tu?
Dù thành công, tôi vẫn cảm thấy trống rỗng. Thật ra tôi cảm thấy mình cô độc và… dơ bẩn. Cơ thể tôi không nhận một cử chỉ dịu dàng nào. Luôn hung bạo và khiêu khích, không một chút êm ái dịu dàng. Tôi mơ có ngày tôi sẽ gặp một người con trai nói yêu tôi, rung động vì tôi. Tôi không bao giờ gặp.

Vì thế đó là bước ngoặt của xơ?
Tôi không biết. Ma quỷ kiểm soát đời tôi. Nó nói tôi phải làm gì và tôi vâng lời nó. Tôi sống như một người mù. Tôi xem nhà mình như khách sạn. Tôi đi ngang anh chị em tôi mà không nói chuyện với họ. Trước khi ra khỏi nhà, tôi trang điểm cả giờ. Tôi để hàng tấn mỹ phẩm lên mặt mà cũng không hài lòng. Mỗi lần tôi ngồi trước gương, mẹ tôi đến nói chuyện với tôi. Bà nói với tôi về Chúa Giêsu. Một ngày nọ tôi tức lên, tôi nói với mẹ tôi, tôi không xin để sống. Nhưng mẹ tôi vẫn tiếp tục nói với tôi về Chúa Giêsu. Bà đi lễ mỗi chiều để cầu nguyện cho tôi. 

Cái gì đã thúc đẩy xơ thay đổi?
Một ngày nọ có một bà gọi tôi ngoài đường. Tôi không biết bà ấy, nhưng bà biết rõ về tôi. Chúng tôi bắt đầu nói chuyện… Tôi hiểu mẹ tôi đã cho bà một tấm hình của tôi. Với tất cả các bạn gái của mẹ tôi, bà xin họ cầu nguyện cho tôi, đây là một thói quen đặc biệt của người Ý. Bà bạn này của mẹ đề nghị tôi đi một khóa tĩnh tâm ở Axixi. Tôi thuận đi. Khi đến đó, chỉ trong vòng một ngày, tôi đã sống một cái gì rất tuyệt vời. Ở đây có các bạn trẻ hát và cầu nguyện. Họ cũng vui chơi nhưng không say sưa. Đối với tôi, đó là một chuyện rất mới và rất đẹp. Tôi giàu, tôi có trong tay tất cả mọi đứa con trai tôi muốn, tôi tổ chức các buổi dạ tiệc địa ngục, nhưng tôi chưa bao giờ biết một bầu khí vui vẻ như vậy. Một vài tháng sau, tôi đi lễ. Tôi nghe linh mục nói, trong nhà thờ lúc này, Chúa rất yêu người nào đến đây lần đầu. Tôi có cảm tưởng cha đang nói về tôi. Lời của cha đã làm cho tôi rất xúc động. Có một cái gì vỡ tan trong lòng tôi. Tôi mới 22 tuổi, tôi tiếp tục làm vũ nữ khỏa thân nhưng tôi đi lễ mỗi chúa nhật. Thường thường, tôi đi thẳng đến các hộp đêm, nơi tôi nhảy suốt đêm. Khi ra về, tôi nói với các bạn tôi sẽ đi lễ vì Chúa thương tôi. Chúng xem tôi như con điên. Còn tôi, tôi ở trong hai trạng thái “điên”: điên của đời sống về đêm và điên vì tình yêu của Chúa Giêsu. 

Như thế cũng khó chọn lựa giữa hai cái điên này?
Đúng… tôi đung đưa giữa hai cái điên. Cho đến ngày tôi cảm thấy sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu. Đó là trong một khóa tĩnh tâm. Ngày hôm đó là ngày tôi nhảy lần cuối. Ngày hôm sau, tôi quyết định thay đổi cuộc sống. Khi tôi nhảy trong các hộp đêm, mọi người xem tôi như cô gái điếm. Chính Chúa Giêsu làm cho tôi thấy, thân thể tôi không phải là thùng rác. Ngài cho tôi thấy, tôi là hạt ngọc đích thực. Khi đàn ông tặng tôi lời khen để đổi lấy thân thể tôi thì tình yêu của Chúa Giêsu là không điều kiện.

Khi đó xơ từ bỏ tất cả để theo Ngài?
Tôi cần phải bỏ tất cả: hộp đêm, truyền hình, tất cả… Tôi muốn biết Ngài! Dù vậy, ngày tôi bắt đầu nghe tiếng gọi đi tu, tôi hoảng lên. Tôi sợ phải chấp nhận đời sống này, tôi sợ Chúa sẽ lấy đi niềm vui sống, lấy đi hạnh phúc của tôi. Nhưng ngày hôm sau khi gặp cơn hoảng sợ này, tôi đọc một đoạn trong sách Diễm ca: “Này em gái của anh, người yêu anh sắp cưới, em là khu vườn cấm, là dòng suối canh phòng nghiêm mật, là giếng nước niêm phong” (4, 12). Đoạn này đã mở tâm hồn tôi đến với Ngài.

Xơ có lời khuyên nào cho các bạn trẻ cảm thấy mất định hướng, bị cô độc, không có ai hiểu mình, bị gạt ra bên lề như xơ hồi trước không?
Rất nhiều phụ nữ tìm giá trị của mình nơi người đàn ông. Đôi khi sau một quan hệ bất hạnh, họ rơi vào vòng tay của người đầu tiên để cảm thấy mình được xứng đáng, để lấy lại tự tin. Điều này không bao giờ có hiệu quả. Chúng ta không thể đi tìm người đàn ông với bất cứ giá nào. Tốt hơn phải ở một mình một thời gian và nhìn lại đời sống nội tâm của mình. Không có gì đáng giá hơn là nhìn lại nét đẹp riêng của mình, giấc mơ của mình, những chuyện không dính gì đến việc đi tìm một người yêu. Khi một phụ nữ biết tôn trọng chính mình, biết yêu chính mình, khi họ chăm sóc cho họ và biết giá trị đích thực của mình, thì cuối cùng họ sẽ tìm được người đàn ông thật sự yêu thương họ và tôn trọng họ. Họ sẽ không còn bị lôi cuốn bởi những người đàn ông muốn lợi dụng họ. Họ sẽ lôi cuốn những người đàn ông đi tìm một phụ nữ xinh đẹp và tự do đến với họ.

Marta An Nguyễn dịch (phanxico.vn)