CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN - B

Trong đời ta gặp nhiều trường hợp giả vờ rất đáng yêu. Chẳng hạn bà mẹ trẻ giả vờ trốn đứa con nhỏ, để nó phải lo âu đi tìm. Và khi thấy nó đã lo âu đến độ tuyệt vọng, sắp khóc đến nơi, bấy giờ bà mẹ mới xuất hiện. Vừa thấy bà mẹ xuất hiện, đứa trẻ vui mừng khôn xiết. Và nó càng yêu mến, càng bám chặt lấy mẹ nó hơn nữa.
Chúa Giêsu cũng có nhiều lần giả vờ như thế. Lần giả vờ được minh nhiên ghi lại trong Tin Mừng là khi Người cùng hai môn đệ đi trên đường Emmaus. Khi đã đến nơi, Người giả vờ muốn đi xa hơn, làm cho các môn đệ phải tha thiết nài nỉ Người mới chịu ở lại. Khi Người ở lại, các môn đệ vui mừng khôn xiết. Và niềm vui lên đến tuyệt đỉnh khi các môn đệ nhận ra Người lúc bẻ bánh.
Hôm nay tuy Tin Mừng không minh nhiên ghi lại, nhưng ta có thể đoán biết Chúa Giêsu đang giả vờ. Vì sóng to gió lớn dập vùi làm cho thuyền chòng chành nghiêng ngả, nước tràn vào đến nỗi thuyền có nguy cơ bị chìm đắm, trong khi đó các tông đồ xôn xao chạy ngược chạy xuôi, hò hét nhau tìm cách tát nước ra. Giữa khung cảnh như thế, làm sao có thể nằm ngủ ngon lành được. Chỉ có thể là giả vờ. Việc giả vờ của Chúa phát xuất do tình yêu.
Vì yêu thương ta, Chúa muốn ta đáp lại tình yêu thương của Chúa. Đó là định luật thông thường trong tình yêu. Khi yêu ai cũng muốn được đáp trả. Chúa không đi ra ngoài định luật thông thường đó. Người tha thiết yêu ta. Người mong ta yêu mến gắn bó với Người, nên đôi khi Người giả vờ lãng quên để ta nhớ mà chạy đến với Người, gắn bó với Người hơn. Như bà mẹ muốn đứa con tỏ ra cần đến mẹ, tha thiết đi tìm mẹ, hốt hoảng khi không thấy mẹ, Chúa cũng mong ta cần đến Chúa, tha thiết đi tìm Chúa và hốt hoảng lo âu khi thấy vắng bóng Chúa.
Vì yêu thương ta, Chúa muốn rèn luyện ta nên người. Để rèn luyện ta, Chúa gửi những thử thách tới. Cuộc đời ví như mặt biển cả mênh mông. Mỗi người là một con thuyền lênh đênh trên mặt nước. Sóng gió là những thử thách trong cuộc đời. Những thử thách Chúa gửi đến giúp ta trưởng thành ở ba phương diện.
Những thử thách giúp ta biết mình hơn. Bình thường ta nghĩ mình chẳng kém thua ai. Nhưng khi gặp thử thách mới biết mình thật yếu đuối. Thánh Phêrô thấy Chúa đi trên mặt nước thì tưởng mình cũng đi được. Nhưng chỉ được mấy bước đã chìm xuống. Các tông đồ là những bạn chài đã quen với sóng nước. Thế mà vẫn kinh hoảng trước bão tố. Đã chứng kiến biết bao phép lạ Chúa làm, nhưng khi gặp gió bão vẫn hoảng kinh. Thử thách giúp ta biết mình. Biết mình để thêm khôn ngoan, thêm trông cậy và nhất là để biết rèn luyện bản thân cho tiến bộ hơn.
Thử thách giúp ta biết yêu mến, cậy trông vào Chúa hơn. Có thử thách ta mới biết sức mình, biết có những việc ở ngoài tầm tay của mình, chẳng ai có thể giúp mình ngoài Chúa. Vì thế gặp nhiều thử thách giúp ta biết cậy trông phó thác vào Chúa hơn. Gặp thử thách ta mới biết chẳng ai yêu thương ta bằng Chúa. Chúa sẽ không để ta bị thử thách quá sức chịu đựng, nên ta sẽ biết yêu mến Chúa hơn.
Thử thách giúp đức tin vững mạnh. Chẳng có thử thách nào kéo dài mãi mãi. Chúa chỉ cho thử thách một thời gian. Rồi Chúa lại can thiệp để sóng yên biển lặng. Khi sóng yên biển lặng rồi, các môn đệ càng vững tin nơi Chúa hơn. Để từ nay các ngài không còn cuống quít lo sợ mỗi khi gặp gian nan nữa. Đời sống mỗi người chúng ta cũng thế. Ai càng gặp nhiều thử thách thì càng trở nên từng trải, vững vàng.
Đời sống không thể thiếu thử thách. Hãy biết rằng Chúa cho phép thử thách vì yêu thương ta, để rèn luyện ta nên người. Hơn nữa Chúa luôn ở bên ta. Vì thế ta hãy vững tin, hãy cậy trông phó thác và hãy biết tận dụng những khó khăn để đức tin thêm vững mạnh. Thử thách rồi sẽ qua đi. Nhưng cách ta phản ứng trước thử thách lại tồn tại và tạo thành giá trị đời ta. Ước gì mọi thử thách ta gặp trong đời đều biến thành cơ hội cho ta được thêm lòng, lòng cậy và lòng mến Chúa.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

DỤC VỌNG XÁC THỊT BIỂU LỘ SỰ CÔ ĐƠN CỦA LINH HỒN

"Tôi quyết định hôn phối với sự thinh lặng của cánh rừng. Hơi ấm kín đáo ngọt ngào của toàn thế giới sẽ phải là hôn thê của tôi. Từ hơi ấm kín đáo đó, là một bí mật"

Dag Hammarskjold, cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, đã viết những lời này và chúng đã nêu bật phần ý thức thâm sâu hơn của dục vọng. Và với Hammarskjold, thấu suốt này không chỉ là lời nói suông. Ông đã từng biết đến cô đơn và khát vọng không trọn vẹn.

Khi ngày càng nhiều bài viết của ông được chuyển dịch sang tiếng Anh, chúng ta càng thấy rõ hơn rằng Dag Hammarskjold vừa là một con người hết mực chính trực và vừa có chiều sâu tâm linh vô cùng. Ông nên như thế cũng là hợp lẽ. Cha ông, từng giữ chức thủ tướng Thụy Điển, là một chính khách lớn đầy chính trực, không chút thỏa hiệp, và mẹ ông là một phụ nữ nồng hậu và có chiều sâu tâm linh. Hammarskjold thừa kế những tinh túy của hai người, và nhờ đó, ông trở thành, vừa là một chính khách hiếm có, vừa là một ngòi bút tâm linh lớn. Nhưng không phải mọi sự trong đời ông đều được trọn vẹn.

Trong sự nghiệp, ông xử lý những vấn đề hệ trọng của thế giới và cống hiến đến giọt mồ hôi cuối cùng, nhưng những quãng đời khác, ông lại không được trọn vẹn như vậy. Khi còn trẻ, ông đã mất người phụ nữ mà ông yêu hết lòng vào tay người khác, và điều này đã để lại một vết thương không bao giờ lành trong ông. Ông không bao giờ hẹn hò hay có ý muốn kết hôn lần nữa. Ông khao khát được kết hôn, nhưng cũng như hàng triệu người khác, vì đủ mọi lẽ, nó chẳng bao giờ thành sự. Theo lời của người viết tiểu sử cho ông, Walter Lipsey, thì ông «bị chiếu bí hơn là đi chiếu bí».

Hammarskjold, trong những bài viết của mình, thường suy tư về «chiếu bí» này và về lỗ hổng nó để lại trong đời ông. Ông thành thực đến héo hon về nỗi đau này và về cách ông cố gắng vật lộn với nó. Một mặt, ông nói rõ ràng rằng đây là một nỗi đau không thể loại bỏ không thể làm lơ, mặt khác, ông lại có thể tái định hướng nó theo cách nào đó, thăng hoa nó thành một vòng tay ôm rộng lớn hơn, thành một chiếc giường tân hôn khác.

«Tôi thấy đau đớn, khát khao được chia sẻ cái ôm (vợ chồng), được hòa lẫn vào nhau, được sẻ chia trong sự gặp gỡ này. Một khao khát giống như ham muốn xác thịt, nhưng lại hướng đến địa cầu, nước nôi, bầu trời, và được đáp lại bằng tiếng thì thầm của hàng cây, mùi hương của đất, làm mơn trớn của gió, cùng vòng ôm của nước và ánh sáng.»  Như thế có là thỏa mãn hay không? Không hẳn, nhưng nó đem lại sự bình an nhất định: «Hài lòng? Không, không, không – nhưng là khoan khoái, nghỉ ngơi, trong lúc đợi chờ».

Cả trong cách ông cảm nghiệm nỗi đau không trọn của mình và trong cách ông cố gắng tái định hướng những khao khát này, chúng ta thấy cảm giác của ông tương tự với cảm giác của Thomas Merton. Merton từng được một ký giả hỏi xem ông nghĩ gì về đời độc thân. Merton trả lời rằng «độc thân là địa ngục», nó kết án người ta phải sống trong sự cô đơn mà chính Thiên Chúa cũng lên án (Không tốt khi con người sống một mình), và thực sự đó là một cách sống đầy nguy hiểm bởi nó là một cách sống bất thường. Nhưng rồi Merton tiếp tục nói rằng, chỉ bởi nó bất thường và nguy hiểm, không có nghĩa là nó không thể sinh sôi tuyệt diệu và đem lại sự sống, cả cho những người sống độc thân lẫn cho những ai sống quanh người đó. Và điều này chắc chắn đúng trong trường hợp của Merton, cũng như với Hammarskjold. Cả hai đã mang thêm nhiều sinh khí cho địa cầu này.

Hơn nữa, với nỗi khao khát đêm tân hôn, Merton đã thăng hoa nó theo cách giống hệt Hammarskjold: «Tôi quyết định hôn phối với sự thinh lặng của cánh rừng. Hơi ấm kín đáo ngọt ngào của toàn thế giới sẽ phải là hôn thê của tôi. Từ hơi ấm kín đáo đó, là một bí mật chỉ nghe thấy được trong thinh lặng, nhưng đó là cội rễ của tất cả bí mật đang thì thầm trên môi mọi tình nhân đang tình tự khắp cùng thế giới.»

Cả Hammarskjold và Merton đều khao khát sự thân mật sâu đậm riêng tư đó, cũng như khao khát cái ôm tình dục quyện chặt hai con người với nhau, một điều mà họ đã bị khước từ vì vị thế một thời của họ, cũng như bị khước từ với hàng triệu người trong chúng ta vì đủ kiểu hoàn cảnh và cưỡng bách khác nhau. Merton đã chọn, một cách ý thức cân nhắc, bỏ qua sự hòa hợp tính dục để giữ lời thề dòng tu, và Hammarskjold cũng đã chọn như thế, bởi hoàn cảnh. Đến cuối cùng, hiệu ứng vẫn như nhau. Cả hai đều cố gắng thăng hoa nhu cầu và khao khát muốn thân mật bẩm tính của mình, bằng cách, theo lời họ là, hôn phối với thế giới và tình tự theo một cách ít cá thể hơn.

Nhiều người đã kết hôn, đã được hưởng cái chiều sâu độc nhất vô nhị của sự thân mật giữa hai con người mà Hammarskjold và Merton khao khát, nhưng tôi cho rằng, họ cũng mơ hồ khao khát được tìm thấy trong sự thân mật tính dục của mình một cái ôm rộng lớn hơn mà hai nhân vật trên từng nói đến.

Các tư tưởng gia đã luôn luôn nghiền ngẫm vấn đề riêng mà chung này, mối quan hệ qua lại giữa cá thể và toàn thể, bởi đây không chỉ là vấn đề lý thuyết suông trong siêu hình học để các triết gia tung hứng, nhưng nó còn là một chướng ngại không thể tách rời bên trong áp lực áp bức của tính dục trong những tình nhân đang tình tự với nhau khắp thế giới.


J.B. Thái Hòa dịch (phanxico.vn)

ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ

Sống trong cộng đoàn, tu sĩ phải học cách sống vâng phục người khác, chịu sự sai phái của bề trên mà có khi người này chưa chắc có những quyết định phù hợp với ý mình.

Tại sao đời sống cộng đoàn luôn có những thách đố? Đơn giản là vì nơi cộng đoàn, có nhiều người sống với nhau, nhưng lại khác nhau về bối cảnh, văn hoá, suy nghĩ, lối sống, quan điểm. Những khác biệt này ít nhiều cũng sẽ gây ra những xung khắc hay trục trặc. Con người tuy là loài có tương quan nhưng cũng là loài có chủ nghĩa cá nhân khá cao. Hai con vật ban đầu không biết nhau, nhưng sống chung với nhau trong chuồng một thời gian dài thì có thể thân thiết với nhau. Con người có khi ngược lại: càng sống với nhau lâu, họ càng trở nên xa lạ, không còn thân với nhau như trước. Trong cộng đoàn, không phải ai cũng hợp tính với mình, không phải ai cũng có cùng sở thích với mình, cùng quan điểm với mình. Người tu sĩ mang vào dòng tu toàn bộ con người yếu đuối của mình, chứ chẳng phải một con người nào khác thánh thiện hơn. Có những bất hoà giữa anh chị em với nhau. Cũng có những vấn đề đến từ hàng dọc: bề trên – bề dưới. Hay những xung đột về tư tưởng giữa các thế hệ… Tất cả làm nên những sắc màu khác nhau trong bức tranh cộng đoàn.

Khi sống trong cộng đoàn, mọi sự phải được đặt làm của chung. Sẽ chẳng còn gì là của mình nữa. Trên thực tế, ta có thể được sở hữu một vài vật dụng nào đó, nhưng trên tinh thần, nó là vật của cộng đoàn. Căng thẳng này không dễ giải quyết. Mọi cái đều có phép tắc của nó, muốn làm gì, có điều gì thì cũng phải xin phép bề trên. Nhận được điều gì là nhận cho cộng đoàn, hay nhận từ cộng đoàn. Nhiều người không chấp nhận được điều này, nên vẫn tìm cách giữ riêng cho mình. Họ thích nhận từ cộng đoàn, nhưng không thích nhận cho cộng đoàn. Họ có thể chia sẻ những điều tốt cho người mình thích, còn người mình không ưa thì chẳng thèm đoái hoài đến, hay tệ hơn, coi như họ không tồn tại.

Sống trong cộng đoàn, tu sĩ phải học cách sống vâng phục người khác, chịu sự sai phái của bề trên mà có khi người này chưa chắc có những quyết định phù hợp với ý mình. Tính tự ái nổi lên làm họ thấy khó chịu. Phải phục tùng một bề trên chẳng ra gì? Phải sống với người mà ngay cả nhìn mặt thôi mình cũng đã phát ngán? Sống trong một tập thể thì làm gì cũng phải ngó trước ngó sau, chứ không được tự ý tự tiện. Nếu không, sẽ bị người ta đánh giá. Có người còn mách lẻo với bề trên. Sống hiền từ thì bị chê là khù khờ. Sống vui vẻ thì bị nói là giả tạo. Sống kính trên nhường dưới thì bị nói là hai lòng. Sống khôn ngoan thì bị cho là mánh lới… Chẳng thể nào tránh được miệng lưỡi thế gian.

Trong đời sống cộng đoàn, cũng có thể xảy ra những trường hợp lệch lạc trong tính dục. Con người thì vẫn mãi là con người. Tiếng gầm thét của xác thịt vẫn còn đó trong thân xác họ. Những ai có thể đảm đương được sự khiết tịnh thì sống hạnh phúc thăng hoa. Người nào không thể thì sẽ tìm cách bù trừ bằng cách này hay cách khác. Đây là một vấn đề rất tế nhị, nhưng không ai dám chắc là nó không xảy ra. Dù sống chung với những người cùng giới tính, những lệch lạc vẫn tìm được kẻ hở để tấn công vào. Người tu sĩ phải biết cách xây dựng tương quan và gìn giữ nó ở mức độ trong sáng nhất. Dù biết là sẽ có những người mình thân thiết hơn những người khác nhưng không nên tỏ ra quá thân thiết đến mức dị thường với một ai. Tình thân ái phải được trải đều cho tất cả mọi người. Phải cố gắng sống sao để không chỉ hoàn thiện mình mà còn cảm hoá người khác nữa. Đây rõ ràng là một thách đố không dễ vượt qua.

Trong cộng đoàn, chắc chắn sẽ luôn có một hay một vài người nào đó làm ta khó chịu. Đó là người luôn tự hào cho rằng mình là người có kinh nghiệm sành sõi trong cuộc sống, biết nhiều chuyện, trải nghiệm nhiều. Rồi cũng có người chỉ thích nhắc nhở người khác mà ít khi nhìn lại bản thân mình, thích làm cho mình nổi bậc hơn những người khác. Có người chỉ muốn tương giao với bề trên và người ngoài, chẳng lo chu toàn bổn phận. Hay có ai đó chỉ biết lo giữ luật và xem luật như chuẩn mực tối cao, và lấy mình như một mẫu gương để người khác bắt chước. Ta cũng sẽ rất bực mình với những người khờ khạo, luôn có lối hành xử ngược đời, hay người chỉ phục vụ khi mình là chỗ nhất và được coi trọng hoặc người chỉ biết dòm nhó đến người khác mà không lo đào luyện mình… Và nhiều kiểu người khác nữa. Đây chính là sự phong phú của cộng đoàn và chính nó cũng làm nên sự phức tạp.

Phải làm sao để sống với những loại người ấy? Hay nói cách khác, làm sao để mình có thể dẹp tan được những bất hoà, những khác biệt với người anh chị em trong cộng đoàn với mình?

Trước hết, hãy xem xét một cách bình tâm và trong tinh thần cầu nguyện nguyên nhân của điều này: do người ta hay tại mình ích kỷ. Nếu người ta thật sự có lỗi sai và nhiều người trong cộng đoàn đồng ý như vậy, hãy cầu nguyện cho họ và giúp họ sửa sai. Nếu tại mình, phải lo mà sửa. Hãy nhớ rằng, nếu mình không chủ động xây dựng tương quan, chính là mình đang dần dần phá hoại nó. Vì thế, hãy cố gắng trong khả năng có thể, rồi Chúa sẽ bổ khuyết cho những điều mình không làm được.

Người ta sẽ thấy thế giới màu đen khi người ta đeo kính đen, sẽ thấy thế giới màu xanh khi đeo kính xanh. Vì thế, nếu mình có một cái nhìn khác về người anh chị em, mình cũng sẽ không còn thành kiến và khó chịu về họ nữa. Có một số cách giúp ta nhìn về họ với một cặp kính mới. Chẳng hạn, hãy tìm điểm nào nơi họ mà mình khâm phục, hãy nhớ lại những lần mình mang ơn họ, hãy nhớ những kỷ niệm giữa mình với họ, hãy nghĩ đến lợi ích của việc làm hoà và hậu quả của việc ghen ghét, và đặc biệt, hãy tìm cách bào chữa cho những sai lầm của họ hơn là hùa theo kết án họ, bởi vì bản thân mình cũng yếu đuối và cũng sẽ vấp ngã vào một lúc nào đó thôi. Sự tha thứ và hoà hợp mới làm chúng ta bình an, chứ không phải chia rẽ. Có nhiều khi ta không thích ai đó chỉ vì không thích, chứ cũng chẳng có lý do gì. Người ta cũng chẳng bận tâm đến việc mình có yêu hay ghét người ta không. Tất cả chỉ do mình tạo ra rồi mình tự gánh lấy mệt mỏi. Dù họ có thế nào, Chúa cũng vẫn chết cho họ, dù mình có ghét họ, Chúa vẫn yêu họ. Sự ghét bỏ của mình chẳng có tác dụng gì cả. Những ý thức này cần được đưa vào cầu nguyện. Nó sẽ giúp mình từ từ vượt qua những rào cản để sống tình cộng đoàn vượt trên những thành kiến.

Thực ra, phải sống trong một cộng đoàn phức tạp, ở một mức độ nào đó, cũng giúp kiểm tra mức độ trưởng thành của mình. Nó giúp tôi luyện sự kiên nhẫn và dạy ta biết cách ứng xử sao cho thích đáng và phù hợp. Nhân đức của ta cũng nhờ đó mà được cải thiện. Ai cũng khao khát sống trong một cộng đoàn đầy ắp yêu thương vì đó là nguồn an ủi rất lớn cho ta. Nếu phải sống với người luôn chống đối mình thì đó cũng là một cơ hội tốt giúp ta nhìn lại bản thân mình mà củng cố lại lối sống. Người kia chính là phản ánh mặt trái của con người mình. Ta ghét người đó, nhưng thật ra là ghét cái đang ở trong mình mà bấy lâu nay mình không nhận ra.

Cách duy nhất để sống tốt đời sống cộng đoàn là hãy sửa đổi bản thân mình cho tốt.


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ (dongten.net)

KHÓ NGHÈO, KHIẾT TỊNH, VÂNG LỜI TRONG THỜI ĐẠI THẾ TỤC

Khó nghèo đem lại sự giàu có của nó, khiết tịnh đem lại sự triển nở của nó, và vâng phục cho chúng ta sự tự do sâu sắc nhất của con người.

Có người từng hỏi Hồng y Francis George rằng ngài nghĩ sao về chủ nghĩa hòa bình triệt để của những người như Dorothy Day và Daniel Berrigan, những nhân vật mang tính ngôn sứ, những người tin vào bất bạo động tuyệt đối. Họ bảo ngài rằng chủ nghĩa hòa bình không có chút thực tế nào cả, thật quá ngây thơ khi tin rằng chúng ta có thể sống mà không có cảnh sát hay quân đội. Và ngài trả lời thế này: Thế giới cần những người theo chủ nghĩa hòa bình, cũng như cần có những người khấn giữ đời độc thân. Họ không thực tế. Họ như không thuộc về thế giới này vậy. Nhưng họ hướng về thế giới cánh chung, thế giới thiên đàng, một thế giới trong đó không có súng đạn, một nơi mà sự riêng biệt quan hệ không như kiểu hiện thời, một nơi mà gia đình không dựa trên sinh học, huyết thống, hôn nhân, một nơi không có người nghèo, và một nơi mọi thứ thuộc về mọi người.

Gần đây tôi đã nghĩ về điều này khi hướng dẫn tĩnh tâm về đời sống tu trì cho một nhóm thanh niên đang nhận định xem mình có đi vào đời sống tu trì hay không. Nhiệm vụ của tôi không phải là thuyết phục họ vào một dòng tu, mà là giúp họ hiểu rằng cuộc sống đó như thế, mà từ đó là quyết định có gia nhập hay không. Dĩ nhiên là có một cuộc thảo luận dài về ba lời khấn trong đời sống tu trì là khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời.

Trong một thế giới đặt hy vọng vào sự giàu có vật chất, đánh đồng khiết tịnh với lãnh cảm, và xem tự do cá nhân cao hơn bất kỳ điều gì, thì chúng ta nói gì về khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục đây?

Chắc chắn ba đức tính này bị xem là phản văn hóa triệt để, nhưng chủ yếu là bởi người ta không hiểu rõ chúng (thậm chí có khi cả những người sống ba đức tính này cũng vậy). Chúng chủ yếu bị xem là một sự từ bỏ quyết liệt, hy sinh cả đời mình, một sự chối bỏ phi tự nhiên tính dục của mình, và nông nổi từ bỏ tự do cũng như sự sáng tạo của mình. Nhưng đấy là hiểu lầm.

Khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, không hề tránh đi sự giàu có, tính dục, và tự do. Đúng ra, chúng là một phương thức đích thực và phong phú, của sự giàu có, tính dục và tự do.

Lời khấn khó nghèo không phải chủ yếu là để sống với những thứ rẻ tiền, không có máy rửa chén và phải làm việc nhà. Cũng không phải là từ bỏ những dạng giàu có có thể làm triển nở cuộc đời. Một đời sống khó nghèo tự nguyện là một cách sống nói lên rằng mọi sở hữu vật chất đều là ơn ban, rằng thế giới thuộc về tất cả mọi người, rằng không ai làm chủ cả một quốc gia, và không một ai được đặt nhu cầu của mình lên hàng đầu. Đấy là một lời khấn đối đầu với chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa bộ lạc, nó đem lại những sự giàu có tuyệt vời của nó với ý nghĩa và hạnh phúc vui mừng của đời sống chia sẻ.

Lời khấn khiết tịnh cũng thế. Hiểu cho đúng, thì đó không phải là bỏ lỡ những niềm vui của tính dục. Mà đó là một phương thức phong phú của tính dục, nói lên rằng tính dục không chỉ là tình dục. Tính dục thật đẹp, là ơn Chúa ban và thúc đẩy chúng ta làm rất nhiều điều: xây dựng cộng đồng, tình bạn, sự gần gũi, sự trọn vẹn, gia đình, vui chơi, vị tha, thưởng thức, phấn khởi, sáng tạo, chăn gối, và mọi thứ đưa chúng ta vượt ra khỏi sự cô đơn cũng như làm cho chúng ta sinh sôi. Và thế là nơi cộng đồng, tình bạn, và việc phục vụ người khác có những niềm vui thực sự, chứ không chỉ là một thứ thay thế hạng hai cho tình dục. Chúng đem lại sự triển nở tính dục theo nghĩa đưa chúng ta ra khỏi sự cô độc.

Về lời khấn vâng phục cũng thế. Nếu hiểu đúng, thì đấy không phải là bỏ qua tự do đích thực. Mà là một phương thức phong phú của tự do, một phương thức mà Chúa Giêsu đã sống: (Ngài nói rằng: “Ta không tự mình làm việc gì. Mà Ta làm theo ý Cha Ta.”) Lời khấn vâng phục, không phải là nông nổi từ bỏ tự do và sự chính chắn của mình. Đúng ra đấy là sự quy phục triệt để bản ngã con người (cùng mọi thương tích, khao khát, dục vọng, tham vọng và ghen tỵ) cho một sự và một Đấng cao hơn chính mình, như chúng ta đã thấy nơi những người dấn thân nhân văn và tu trì của Chúa Giêsu, Teilhard de Chardin, Dag Hammarskjold, Simone Weil, Mẹ Teresa, Jean Vanier, Daniel Berrigan. Nơi Chúa Giêsu và các vị ấy, chúng ta thấy một con người sống trên đời này với sự tự do mà chúng ta phải ghen tỵ, nhưng cũng là một tự do dựa vào sự quy phục ý mình trước một sự cao trọng hơn.

Suy nghĩ và cảm giác của chúng ta bị chi phối nhiều bởi tâm thức văn hóa mà chúng ta đang sống. Do đó, với cách hiểu của nền văn hóa ngày nay về sự giàu có, tính dục và tự do, thì đây có lẽ là thời kỳ khó khăn nhất trong nhiều thế kỷ qua, để ai đó tuyên khấn khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, và sống theo những lời khấn ấy. Các cộng đoàn dòng tu nhỏ tuyệt vời cũng không phải chỗ người ta đổ xô đến xin vào. Nhưng vì hiện tại là thời điểm khó khăn hơn bao giờ hết, thì cũng cần hơn bao giờ hết, những người nam nữ tự nguyện chọn sống những lời khấn này trong tinh thần ngôn sứ.

Và cái có vẻ như là hy sinh của họ sẽ là phần thưởng dư dật, vì nghịch lý thay, khó nghèo đem lại sự giàu có của nó, khiết tịnh đem lại sự triển nở của nó, và vâng phục cho chúng ta sự tự do sâu sắc nhất của con người.

Ronald Rolheiser,

J.B. Thái Hòa dịch

CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN - B

Bước vào Chúa nhật XI thường niên B, trung tuần tháng Sáu, tháng kính Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu. Lời Chúa mời gọi chúng ta sống tin tưởng và hy vọng vào Chúa là Thiên Chúa tình yêu. Quả thật, tình yêu của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta là vô cùng vô tận, một tình yêu nhập thể (gieo vào thế gian) đối thoại với con người, khiến con người tin tưởng, kiên nhẫn, phó thác trong tin yêu vào Chúa là nguyên nhân mọi sự (x. Ed 17, 22-24), là sức mạnh, là niềm vui và là động lực, giúp con người nhận được ơn của Chúa, và sống tốt đời sống làm con Chúa.
Chủ nhật này, thánh Marcô, người con tinh thần của Thánh Phêrô thuật lại cho chúng ta hai dụ ngôn tuyệt vời, giàu ý nghĩa của Chúa Giêsu: dụ ngôn hạt giống tự mình mọc lên và dụ ngôn hạt cải (x. Mc 4, 26-34). Qua những hình ảnh nông nghiệp bình dân ấy, Chúa trình bày mầu nhiệm Nước Trời, và mời gọi con người hy vọng và tin tưởng nơi Chúa là Thiên Chúa quyền năng (x. Ed 17, 22 – 24).
Có người gọi dụ ngôn này là “hạt giống mọc lên một mình”. “Người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa” (Mc 4, 27). Thực tế, hạt giống không có tự mình mọc lên được như Phaolô nói: “Tôi trồng, Apôllô tưới, những chính Thiên Chúa cho mọc lên” (1Cr 3, 6). Một khi hạt giống được gieo vào lòng đất, tương quan giữa hạt giống với đất được thiết lập, một chuỗi những kỳ bí vô hình tuyệt vời bắt đầu, quá trình nảy mầm sẽ xảy ra, nếu như nhà nông không để ý đến những gì ông đã gieo và không ai quan tâm đến hạt rơi vào thửa đất.
Đây là một trong những dụ ngôn lạc quan nhất mà chúng ta có được. Mưa hay nắng, các thực tại thần linh được gieo trong nhân loại và chắc chắn mỗi ngày một triển nở, sự yếu đuối của chúng ta là sức mạnh của hạt giống. Hạt giống Chúa Giêsu Con Thiên Chúa được gieo vào mảnh đất nhân loại chúng ta.
Nước Thiên Chúa được sánh ví như hạt cải với sự lớn mạnh của nó... Liệu tất cả những người tin có hy vọng thế không ? Và các tín hữu có trông đợi như vậy không ? Phải chăng “những điều mắt chẳng hề thấy, tai không hề nghe, và đã không hề nảy lên nơi lòng một người phàm, hết thảy là những điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người sao ?” (1 Cr 2, 9) Thật vậy, “sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn loài người” (1Cr 1, 25), nên điều nhỏ nhặt tốt lành của Chúa cũng lộng lẫy hơn sự bao la của thế giới.
Chúa Giêsu là Nước Trời. Theo cách thức của người gieo hạt, Người đã được gieo vào lòng đất thân xác Đức Trinh Nữ Maria. Người đã lớn lên và trở thành cây che phủ toàn thể địa cầu. Sau khi bị nghiền nát bởi cuộc Thương Khó, trái cây sinh ra đủ mọi hương vị, phù hợp với khẩu vị và tỏa hương thơm cho mọi vật sống chạm đến Người. Vì, như hạt cải, sự kiện hạt bị nứt ra chính là mạnh của nó. Tương tự như vậy, Chúa Kitô muốn thân mình được nghiền tán ra để sức quyền năng Thiên Chúa được thể hiện trong thế gia... Chúa là vua, là nguyên lý của mọi quyền hành là Nước Trời, vì tất cả vinh quang của nước ấy ở nơi Chúa.
Lời Chúa Giêsu : “Chúng ta sẽ lấy gì mà hình dung nước Thiên Chúa? Hay dùng dụ ngôn nào mà so sánh nước đó được? Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được” (Mc 4, 30-32). Với ngôn ngữ văn chương của người Do thái, các loài chim tượng trưng cho các dân ngoại và những người nước ngoài đến ẩn náu với số lượng lớn. Tiên tri Êdêkien đã nói rất chí lý : “Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi Israel, nó sẽ đâm chồi, kết quả, và trở thành cây hương nam vĩ đại; các thứ chim trời đều đến ẩn náu dưới thân cây và làm tổ dưới tàn nó” (Ed 17, 23). Hình ảnh của hạt cải lớn lên trở thành nơi cho “chim trời” ẩn núp không có mục đích gì hơn là giúp cho chim trời sống thoải mái và bình an! Hình ảnh này nhấn mạnh đến Nước Thiên Chúa ở trong chúng ta, và hạt cải nhỏ bé sẽ trở thành một cái cây lớn, trong đó chim trời đến làm tổ, ám chỉ tình yêu vô cùng của Thiên Chúa được ban nhưng không cho chúng ta. Vương quốc của Thiên Chúa sẽ lan rộng đến tất cả các quốc gia trên khắp thế  và người ta tìm nơi trú ẩn nơi một Kitô giáo tốt lành.
Ơn gọi của Giáo Hội Chúa Giêsu Kitô không phải là để trở nên mạnh mẽ. Trở nên vĩ đại, không phải là ơn gọi của Chúa Kitô. Giáo hội không tìm cách trở thành bình đẳng của các vương quốc thế trần : đó không phải là sứ mạng của Giáo hội, càng không phải là chứng nhân mà Thiên Chúa mong muốn nơi Giáo hội. Dụ ngôn nói rằng chim trời đến ẩn núp. Đây không phải là sự bành trướng nhưng là sự hiếu khách. Nước Trời không đến để áp đặt lên con người, nhưng đón nhận họ. Trong cây sự sống hoặc cây mà cho phép loài chim đến đậu rồi bay đi và đôi khi được đón nhận ở đó, cho đến ngày làm tổ, đẻ ấp trứng và sống hình thành.
Trong bước đường thiêng liêng, chúng ta thường có thói quen mơ tưởng những điều được coi là vĩ đại. Và rồi thất vọng. Không, chúng ta phải tin tưởng và hy vọng. Niềm hy vọng nơi chúng ta qua đức tin và lòng mến, cho phép chúng ta khám phá ra Thiên Chúa bao bọc chung ta, khiến chúng ta không nản lòng hay thất vọng trong việc truyền giáo, nhưng giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng sẽ dẫn dắt mọi sự đến thành toàn mà Ngài đã khởi đầu. Dù điều gì xảy ra với chúng ta đi chăng nữa, thì đời chúng ta đã được đồng hành bởi lời hứa đáng tin này: “Nếu ta cùng chết, ta sẽ cùng sống! Nếu ta chịu đựng, ta sẽ đồng trị. Nếu ta chối Ngài, Ngài sẽ chối ta” (2Tm 2, 11-12).
Lạy Chúa Giêsu, chúng con yêu mến Chúa, chúng con đặt tin cậy và hy vọng nơi Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ