NHỮNG RÀO CẢN CỦA SỰ VÂNG PHỤC TRONG ĐỜI TU

Nơi bản thân đương sự luôn có mâu thuẫn giữa vâng phục Giáo hội và bề trên với nhận định và quyết định cá nhân; mâu thuẫn giữa cố định và di động, giữa sáng kiến và vâng phục, giữa chuyển động nội tâm và trung thành với Giáo Hội.

Chúng ta đã biết rằng nếu vâng phục được tuân giữ tốt, nhờ sự nỗ lực của cả bề trên lẫn bề dưới, đời tu và sứ mạng của người tu sĩ sẽ sinh nhiều hoa trái. Điều đáng buồn là trong rất nhiều dòng tu, kiểu hoa trái này vẫn còn rất hạn chế, nếu không muốn nói là có vị chát chua. Vẫn còn đó những tình trạng bề dưới đón nhận sứ mạng chỉ vì cắn răng chịu đựng, sống cho qua ngày đoạn tháng, chờ cho kỳ hạn qua đi để được chuyển đi chỗ khác. Hay tệ hơn, luôn có những phàn nàn trong nội bộ cộng đoàn và chỉ mong cho bề trên sớm hết nhiệm kỳ để không còn phải chịu đựng. Rồi cũng có những trường hợp bề trên đau đầu vì không biết phải điều chuyển một tu sĩ nào đó đi đâu. Chỗ nào người đó cũng từ chối, đưa ra đủ kiểu lý do để thoái thác. Đôi khi, sai một tu sĩ trẻ mới chập chững bước vào đời tu dễ dàng đối với vị bề trên hơn là một tu sĩ đã sống lâu năm trong dòng. Đây quả là một điều ngược ngạo. Đáng lẽ càng tu lâu, người ta phải càng khiêm nhu hơn, mềm mại hơn. Đàng này, ỷ lại vào phán đoán của mình, cho rằng mình đã có nhiều kinh nghiệm, một số tu sĩ lớn tuổi tỏ ra cứng đầu, bất chấp, chẳng coi bề trên ra gì, vừa làm cho tương quan giữa mình với bề trên thêm căng thẳng, vừa làm gương xấu cho người khác. Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đáng buồn này? Đâu là những rào cản khiến cho sự vâng phục trong thể phát huy được hiệu quả của nó?
Nguyên nhân có thể xuất phát từ bề trên. Họ quá lạm dụng quyền, xem quyền là tất cả. Họ quá tin vào phán đoán, quá bám vào ý riêng của mình, chẳng chịu tham khảo ý kiến của các tư vấn và của chuyên gia, hay thậm chí là của chính đương sự. Họ không thấy được hoạt động của Thánh Thần nơi bề dưới, không chịu tiếp cận để hiểu điểm mạnh điểm yếu của bề dưới. Để rồi, khi đưa ra quyết định, họ chỉ đơn thuần đưa ra ý kiến cá nhân, dựa trên suy nghĩ cá nhân, bất chấp nó có phù hợp với hoàn cảnh thực tế hay không. Đây là một hành vi thiếu đức ái, thiếu tôn trọng. Nó không khuyến khích và cổ võ cho bầu khí cộng tác giữa bề trên với bề dưới và giữa bề dưới với nhau. Rốt cuộc, bề dưới cảm thấy mình bị bỏ rơi, không được cảm thông và thấu hiểu. Thay vì hứng khởi chờ đợi sứ mạng, họ chỉ nơp nớp lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mình.
Tốt nhất không nên chọn một người không biết lắng nghe làm bề trên, vì người không có khả năng lắng nghe là người không biết mở lòng. Người đó chỉ chú trọng đến cái tôi, sở thích và phán quyết cá nhân, chứ không đưa ra quyết định dựa trên những yếu tố khách quan và những ý kiến đóng góp của cộng đoàn. Không biết lắng nghe thì cũng sẽ không chịu ngồi đó để nghe bề dưới trải lòng, chia sẻ những khó khăn, những thành công thất bại, không cảm thông được và cũng không biết cách nâng đỡ họ. Người không biết lắng nghe thì chỉ chú trọng đến công việc chứ không quan tâm đến con người. Họ đề cao thành quả lao động, chứ không để ý đến những người đang phải lao động để có được thành quả ấy. Đây là một điều rất tai hại.
Cũng có khi do bề trên quá cứng rắn, quá thẳng thắn, khiến cho bề dưới sợ hãi. Sự sợ hãi có thể làm cho tương quan giữa hai bên có những rạn nứt. Công việc có thể được chạy tốt, nhưng không giúp cho cả hai được thăng tiến trong đời sống thiêng liêng. Hoặc cũng có khi bề trên khá vụng về khi đưa ra mệnh lệnh. Họ quá nhu nhược, sợ mất lòng, sợ đụng chạm, chẳng mạnh mẽ trong các quyết định vì sợ chống đối, sợ khó khăn. Dĩ nhiên, bề trên không nên dùng quyền như một kẻ chuyên chế, nhưng họ là người được trao quyền, họ có quyền và có uy của một người cầm quyền. Nhưng có một số bề trên lại không dám sử dụng đặc ân này. Họ có thể vì quá bác ái, hay quá yếu đuối mà để cho người khác lợi dụng mình như con cờ hoặc bị người khác dùng các áp lực này nọ để khống chế. Quả là điều đáng buồn!
Cũng có một kiểu bề trên thiếu tình yêu dành cho Giáo hội. Họ chẳng có đời sống thiêng liêng, chẳng có mối tương quan thiết thân với Chúa. Có thể ngày trước họ đã từng rất tốt, đáng tin, nên mới được anh chị em bầu chọn. Thế nhưng, từ khi được cất nhắc lên một vị trí cao, họ chẳng còn giữ được những điều tốt mà họ đã từng có. Họ theo đuổi quyền lực, công danh. Họ cố gắng tìm kiếm ảnh hưởng, chỗ đứng. Họ tạo mối tương quan thân thiết với những người nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng, mang danh nghĩa là để giúp ích cho việc tông đồ, nhưng thực ra là để muốn chứng tỏ mình quan trọng. Họ tự đưa mình vào một đẳng cấp cao hơn các thành viên khác trong dòng. Có người còn cố gắng tìm cách sửa luật dòng để có thể kéo dài nhiệm kỳ làm bề trên. Họ quên mất rằng làm bề trên cũng là một sứ mạng, chứ không phải nơi thụ hưởng quyền lực. Kiểu bề trên như thế này sẽ dần dần mất đi bạn bè, mất đi niềm tin của anh chị em. Chẳng hiểu sau khi không còn là bề trên nữa, liệu có còn ai thật lòng muốn đến với họ!
Nhưng cũng có những nguyên do làm rảo càn cho sự vâng phục đến từ bề dưới. Trước hết, đó cũng là thái độ không thấy Chúa đang hoạt động nơi bề trên, đặc biệt khi thấy bề trên có nhiều sai sót, thua kém mình. Những người đã từng là bề trên, nếu không có đủ khiêm nhường và cảnh giác, hẳn sẽ cảm thấy khó vâng phục một người vốn đã từng là thuộc cấp của mình, thậm chí là học trò của mình, hay người mà năm xưa mình đã nhận vào dòng. Tất cả cũng đến từ sự kiêu ngạo, tự phụ về tài năng hay những thành công mình có được trong quá khứ, cho rằng bề trên hiện tại không bằng mình.
Có một số người có ý riêng quá mạnh, lại luôn dung dưỡng cho những tật xấu như không thích phụ thuộc, hay có thái độ phản đối, cứng đầu, quá tin vào kiến thức và phán đoán của mình. Cũng có thể họ là người đề cao tự do quá đáng, thích đòi quyền lợi. Khi không được như ý, họ lợi dụng tương quan để kéo bè phái chống lại bề trên, cắt nghĩa sai lệch ý muốn của bề trên, cốt để tạo phe ủng hộ cho mình. Họ cũng có thể lạm dụng quyền đối thoại. Nói là đối thoại, nhưng thực chất là thoái thác, chống chế, trốn tránh, thuyết phục bề trên làm theo ý mình, chứ không có một thái độ chân thành để tìm kiếm ý Chúa. Một số khác lợi dụng tài ăn nói của mình hay tương quan tốt giữa mình với bề trên để lươn lẹo, lèo lái bề trên theo ý mình khi bề trên truyền khiến điều gì đó khó chấp nhận, không thuộc sở thích hay sở trường của mình. Nếu không thành công trong việc thay đổi ý bề trên, họ chỉ đón nhận nó cách miễn cưỡng, làm cho có, cho xong để tỏ ý phản đối, chứ không mang lấy một tâm tình vâng phục đúng đắn.
Nơi bản thân đương sự luôn có mâu thuẫn giữa vâng phục Giáo hội và bề trên với nhận định và quyết định cá nhân; mâu thuẫn giữa cố định và di động, giữa sáng kiến và vâng phục, giữa chuyển động nội tâm và trung thành với Giáo Hội. Dù sao thì, người không vâng phục thường là người thiếu nhận định, thiếu ứng trực, thiếu tinh thần cộng tác, thiếu cảm thức thuộc về Giáo hội và về cộng đoàn. Để có thể sống tốt sự vâng phục, tương quan anh chị em hàng ngang với nhau đôi khi cũng là một trợ giúp rất tốt. Một anh em hay chị em nào đó có thể sẽ gặp khó khăn khi nhận được một sứ mạng mới không đúng ý mình, nhưng họ sẽ dễ dàng đón nhận và vượt qua nó khi được những anh em hay chị em khác nâng đỡ, động viên và tạo điều kiện tốt.
Thánh Inhaxio Loyola đã luôn đề cao đức vâng phục trong đời tu, xem đó là yếu tố quan trọng để thực thi sứ mạng. Ngài gọi những ai bất tuân và gây chia rẽ trong cộng đoàn những “ung nhọt” và cần phải bị khai trừ càng sớm sàng tốt trước khi nó gây ra những thiệt hại to hơn. Quả vậy, người luôn bất tuân và không có ý hướng muốn sửa đổi thì chẳng thể nào triển nở được trong đời dâng hiến và cũng là một dấu chỉ cho thấy họ không thể sống trong đời sống này. Tốt nhất, nên giúp giải thoát họ để họ tìm thấy ơn gọi đích thực cho mình, trong tình huynh đệ và lòng bác ái.


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ (dongten.net)

NGÀY CỦA MẸ

Có một câu châm ngôn cổ cho chúng ta lời chỉ dạy khôn ngoan, nhưng gần như không thể làm theo được. Hãy khôn ngoan trong việc chọn cha mẹ!

Nói thì dễ, làm thì khó, nhưng câu châm ngôn này có nhiều ý nghĩa. Chúng ta không hoàn toàn là chính mình. Chúng ta còn là sản phẩm do tay cha mẹ, những người không chỉ cho chúng ta bộ gen di truyền, mà tập hợp phức tạp những gì của họ trong chúng ta và cách họ liên kết với chúng ta và với thế giới cũng góp phần định hình nhân bản và tính cách của chúng ta nữa. Khi trưởng thành, chúng ta vừa tự do vừa tê liệt về mặt cảm xúc khi suy nghĩ về chính xác những gì mình đã thừa kế được từ cha mẹ. Họ định hình chúng ta.

Ngày hôm nay, ngày của mẹ, khi tôi nghĩ về mẹ mình và gen di truyền được thừa kế từ mẹ, tôi nhận ra rằng cha mẹ đã định hình nên tôi. Mẹ tôi đã mất 43 năm trước, nhưng dấu ấn của mẹ vẫn còn ghi đậm nơi đây, nơi anh chị em tôi, và nơi tôi. Vậy ngoài những đặc thù thể lý, mẹ còn cho tôi gì nữa?

Những gì mẹ cho tôi không phải là tự nhiên mà có. Với sự giúp đỡ của cha tôi, mẹ đã nuôi nấng cả một gia đình đông con, và dù cuộc hôn nhân của họ thật lãng mạn, nhưng gần hết thời gian của họ, họ đã phải xoay xở vật lộn với vấn đề tiền bạc, thời gian, sức lực để lo toan cho cả nhà. Những gì mẹ phải làm luôn luôn hầu như vượt quá sức của mẹ. Nhưng bằng cách nào đó, mẹ luôn luôn xoay xở được, luôn luôn tìm được cách để tăng tiến mọi việc, tăng sức tăng thời gian để cho chúng tôi ăn, mặc, và làm tròn vai trò người mẹ.

Mẹ thường không có thời gian, sức lực hay kiên nhẫn để cho chúng tôi tình cảm và sự nồng ấm mật thiết mà một đứa trẻ hết sức mong đợi và cần đến, dù thực sự, tự bản chất, mẹ là người ấm áp và ân cần. Quá nhiều việc phải làm đè nặng lên mẹ một áp lực nên nhiều khi mẹ không thể cầu toàn và chú tâm thật nhiều được. Và mẹ cũng không phải là một bà mẹ trên phim, lúc nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và biểu lộ tình cảm hoàn hảo, nhưng thành thật mà nói, mẹ đã cho chúng tôi điều quan trọng nhất đối với một gia đình, chính là sự an toàn và bảo đảm. Nhu cầu lớn nhất, che khuất tất cả mọi nhu cầu khác, chính là mong muốn được cảm thấy an toàn và bảo đảm.

Mẹ tôi thường chia trí với nhiều việc khác nhau, nên không thể chú ý đến chúng tôi cũng như không biểu lộ tình cảm trọn vẹn được, nhưng mẹ cho chúng tôi những gì chúng tôi cần hơn tất cả, là sự an toàn và bảo đảm. Mẹ cho chúng tôi một mái nhà và một mái ấm luôn luôn vững chãi và chừng mực – đôi khi cũng hơi ồn ào một chút. Trong môi trường đó, chúng tôi luôn được an toàn. Thời thơ ấu, không một ai cho tôi được điều gì phong phú hay to lớn hơn thế nữa.

Hơn nữa, trong tất cả mọi việc, khi phải xoay xở để lo toan và phải đối phó với những việc chẳng đặng đừng, mẹ đã dạy cho chúng tôi biết một điều quan trọng nữa là, bạn không cần phải chờ cho đến khi thanh toán hết hóa đơn, sức khỏe sung mãn, có đủ thời gian rảnh rỗi, và chẳng có những việc đau đầu đang chờ, nghĩa là không cần phải chờ cho đến khi mọi việc hoàn hảo để có thể hưởng dùng thời khắc hiện tại. Mẹ tôi biết cách để hưởng giây phút hiện tại. Mọi ngày lễ, sinh nhật, hay ngày chúa nhật, đều là dịp để có một bữa ăn đặc biệt và mừng lễ đặc biệt cho dù có việc gì khó khăn có thể xảy ra đi chăng nữa. Và có lẽ, quan trọng hơn tất cả, mẹ tôi vô cùng có trách nhiệm trong việc trao truyền đức tin cho tôi, và dù cha tôi cùng chung tay, nhưng mẹ tôi chính là người thúc đẩy tôi mở lòng ra với ơn gọi linh mục.

Các nhà nhân học nghiên cứu các nghi lễ khai tâm trong nhiều nền văn hóa khác nhau đã cho chúng ta biết rằng các quy trình khai tâm cần thiết để biến đổi một đứa trẻ thành một người trưởng thành, đều cần phải nhấn mạnh vào bốn chân lý rõ ràng này: Đời của bạn không phải của riêng bạn. Cuộc sống đầy gian khó. Bạn sẽ chết. Đời của bạn không phải là cho bạn.

Nền văn hóa và Giáo hội của mẹ tôi đã ghi khắc không thể phai mờ những chân lý này trong bà. Với thế hệ của bà, đặc biệt khi bạn sống ở vùng nông thôn và nghèo, thì cuộc sống thật khó khăn và đòi hỏi đạo đức phải cao. Nhiều người chết trẻ. Và đặc nét thế hệ của mẹ tôi là gia đình, Giáo hội, người đồng loại và quê hương có thể đòi hỏi, và bổn phận của bạn là trao ban đời sống mình mà không chút ích kỷ hay than van. Thật ích kỷ khi nghĩ về mình trên hết. Mẹ tôi đã thấm nhuần đặc tính đó và rồi bà truyền cho chúng tôi, đặc biệt là chân lý rằng đời của bạn không phải là cho bạn. Những sự thật khác nữa như, cuộc sống là khó khăn và bạn sẽ chết, sẽ tự lên tiếng với bạn, nhưng từ lúc bạn còn là đứa trẻ cho đến khi trưởng thành, thông điệp gởi đến bạn rất rõ ràng: Đời của bạn không phải của riêng bạn. Đời của bạn không phải là cho bạn. Các nhà nhân học có lẽ nên nghiên cứu cách nhìn và cách sống khai tâm của mẹ tôi.

Không bà mẹ nào hoàn hảo, mẹ tôi cũng vậy. Mẹ có những sai lầm và tôi cũng còn nhớ nhiều sai lầm của mẹ bên cạnh nhiều điều tốt mẹ đã làm cho tôi. Nhưng khi nghĩ về mẹ mình, tôi chỉ cảm thấy thật tốt lành và biết ơn mà thôi.  Tôi đã chọn mẹ cho mình một cách khôn ngoan đó!

Ronald Rolheiser,
J.B. Thái Hòa dịch

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN-B

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo!”
Tôi không muốn coi đây là một lệnh truyền, vì mệnh lệnh bao giờ cũng là điều do vị bề trên truyền xuống, chứ không xuất phát từ bản thân, từ một đòi hỏi thâm sâu của cõi lòng mình. Đối với Nhóm Mười Một, vào thời điểm họ nghe câu nói này, thì có lẽ đúng là họ nghe một mệnh lệnh; đơn giản là vì họ chưa hiểu được rằng các biến cố đang dồn dập xảy ra đích thị là Tin Mừng. Thậm chí họ còn lo âu, họ sợ hãi thì đúng hơn, trong biến cố khổ hình và thập giá đã đành, mà cả trong các lần Đấng Phục Sinh hiện ra với họ; phải đợi tới khi ‘Thần Chân Lý’ đến dạy đỗ trực tiếp, họ mới vỡ lẽ ra từ đáy lòng mình về ý nghĩa đích thực của nó (Ga 14,26; 16,12-13). Chỉ khi đó, phải, chỉ lúc đó mệnh lệnh Chúa truyền trước khi về trời mới trở thành một cảm nghiệm không thể cưỡng, vì nó thôi thúc họ từ bên trong (Cv 2,4).

Đối với Kitô hữu chúng ta hôm nay thì khác hẳn: ta có nhiều thời gian để suy tư, để cử hành biến cố tử nạn và phục sinh như một Tin Mừng đích thực; ta đã được ban ‘Thần Chân Lý’ để dạy cho biết mọi sự; vì thế, nếu là Kitô hữu chân chính của ngày hôm nay, ‘hãy đi khắp tứ phương thiên hạ… loan báo Tin Mừng’ chắc hẳn sẽ không còn là một lệnh truyền từ bên ngoài nữa, mà đã phải là một thúc bách từ niềm tin thâm sâu nhất từ bên trong.

Vậy, nếu Tin Mừng là một thôi thúc từ bên trong, thì quả thực sự hiện diện hữu hình của Đức Giêsu, cho dầu đã sống lại vinh hiển, sẽ không còn là cần thiết nữa. Người có thể yên tâm về trời, và còn nên sớm về trời nữa là đàng khác, với điều kiện làm sao các môn đệ nắm bắt được cuộc sống, sự chết và phục sinh của Người đích thị là Tin Mừng, Tin Mừng cho mọi người và cho từng người; chỉ lúc đó, vâng, chỉ lúc đó, như các Tông Đồ, tôi mới có thể ‘ra đi rao giảng khắp nơi’. Như thế thì sứ điệp chính mà Lời Chúa muốn gởi tới chúng ta hôm nay lại không chỉ là tưởng nhớ tới biến cố ‘Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa’, mà là một yêu cầu gửi tới mỗi người chúng ta làm cuộc tổng kiểm tra về những gì đã cử hành trong suốt hai tháng qua kể từ đầu Mùa Chay; đối với tôi, những cử hành này có phải thật sự là Tin Mừng hay không? Cuộc kiểm tra này càng cần thiết vì đồng thời nó làm cho ta nghiệm ra một điều nữa, đó là, trong tư cách Kitô hữu, ta cần không ngừng gia tăng ý thức về sự hiện diện của ‘Thần Chân Lý’ nơi chính mình, để sống với Người cách sâu xa hơn, và để nhờ Người và trong Người, sức mạnh Tin Mừng sẽ càng tác động tích cực trong thời gian tới của niên lịch phụng vụ (mùa Hiện Xuống).

Chính vì ý thức được Tin Mừng, với sức mạnh vô địch của nó, mà ta mới ngộ ra ‘những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin’ thực ra cũng chẳng có gì là lạ, là bất thường cho lắm: ‘trừ được quỉ’ - chẳng qua là hoàn lại sức sống tình yêu của Thiên Chúa cho nhiều tâm hồn; ‘nói được những tiếng mới lạ’ - chẳng qua là nhìn nhận Lời Thiên Chúa chính là Lời tình yêu và từ nhân, tha thứ và không hề luận phạt; ‘cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc thì cũng chẳng sao’ - sẽ là can đảm liều lĩnh gánh vác những công việc mà tự nhiên không ai thèm làm hoặc dám làm; ‘đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe’ - sẽ là thể hiện bằng mọi cách lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa cho những kẻ yếu hèn nhất. Vài dấu lạ được kể ra, cho dầu có gây đôi chút ấn tượng, thì cũng chỉ là vài nét chấm phá của một nội dung vô cùng phong phú Tin Mừng chứa đựng. Tất cả các điều này, kể cả sức mạnh vô địch của Tin Mừng, mỗi chúng ta đều đang được thụ hưởng, nhờ vào ơn gọi Kitô hữu của mình. Trong Thánh Thần, ta đã đón nhận Tin Mừng Đức Kitô Giêsu, Tin Mừng ‘Thiên Chúa hết lòng yêu thương thế gian’. Và một khi đã sở đắc được niềm tin này thì dù Chúa có hiện ra hữu hình hay ẩn mình vô hình, dù có được tận mắt chứng kiến phép lạ mặt trời quay cuồng như tại Fatima năm nào hay chỉ âm thầm sống tin yêu trong tăm tối như Mẹ Têrêxa Can-cút-ta… thì cũng không mấy quan trọng. Sự lạ thì vẫn là sự lạ… nhưng chỉ tác động được bên ngoài nhất thời mà thôi. Chỉ có Tin Mừng mới có sức thúc đẩy ta ‘đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo’. Mẹ Têrêxa đã không ngừng loan báo Tin Mừng cho những người hấp hối cùng cực nhất của thành phố Can-cút-ta bằng phục vụ âm thầm… chỉ vì Mẹ luôn thâm tín rằng: ‘Chúa thương yêu tôi không phải vì tôi tốt lành, nhưng tôi cố gắng trở nên tốt lành hơn vì biết rằng Chúa thương yêu tôi!’

Phải, chỉ duy những ai thấu hiểu được Tin Mừng tình yêu mới có thể lên đường loan báo Tin Mừng cho muôn dân, bằng nhiều phương tiện và nhiều cách thức rất khác nhau.

Lạy Chúa, nếu trước khi về trời Chúa hứa ban cho con một điều ước, thì con sẽ ước gì đây? Con sẽ không ước được thấy Chúa đôi lúc hiện ra hữu hình, con sẽ không ước được khôn ngoan, lợi khẩu, được làm phép lạ hay gì gì khác nữa. Điều ước duy nhất của con phải là được ở lại sâu hơn trong tình thương của Chúa; được thấu hiểu sâu hơn Tin Mừng Chúa yêu thương. Xin đổ tràn Thánh Thần Tình Yêu vào tâm hồn con, để - vì thâm tín rằng mình được Thiên Chúa yêu thương - con sẽ lên đường loan truyền Tin Mừng tình yêu cho mọi người. Amen.
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

HOA TRÁI CỦA SỰ VÂNG PHỤC TRONG ĐỜI TU

Sự vâng phục cũng giúp người tu sĩ được gia tăng thêm lòng tin cậy mến. Đó là vì họ đã dám mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn của mình, dám từ bỏ ý riêng để đón nhận một điều mới. 

Chúng ta đã nói đến ý nghĩa của vâng phục và phác hoạ nó trong hình ảnh thật đẹp về sứ mạng. Quả thật, vâng phục rất cần thiết cho đời sống chung và cho việc mục vụ, đến độ, giả như một ngày nào đó khi không còn vâng phục nữa, mọi cái sẽ trở nên hỗn loạn, các dòng tu lại trở về với hình thức tu ban đầu: mỗi người tự sống riêng và làm điều gì mình muốn. Đức vâng phục, dù để có được nó phải đối diện với những thách đố, nhưng nếu được tuân giữ thì sẽ giúp mang đến cho người tuân giữ nó rất nhiều hoa trái, cho đời sống cá nhân nói riêng và cho cả đời sống cộng đoàn và sứ mạng nói chung.
Với bản thân mỗi người, vâng phục sẽ giúp trưởng thành hơn. Nó giúp người ta biết rằng không phải lúc nào mình cũng đúng và cũng nắm rõ mọi sự. Nó dạy bảo người ta không quá tin vào kiến thức và phán đoán của mình. Từ đó họ nhận ra mình không hề hoàn hảo và thông thạo mọi thứ. Mình cần được người khác dạy bảo và chỉ cho biết phải làm gì để mưu cầu lợi ích tốt nhất. Vâng phục đòi người tu sĩ phải biết hạ mình, cúi đầu. Đây không phải là một kiểu sỉ nhục, nhưng là một thái độ của những người luôn mở ra với những khả thể mới, đón nhận những điều nằm ngoài khả năng dự đoán và những kế hoạch của mình.
Vâng phục cũng giúp người ta thoát khỏi chủ nghĩa cái tôi, óc vị kỷ, những yếu đuối, những ảo tưởng và thói ham hố quyền lực. Con người nào cũng thích ra lệnh hơn là phục quyền, thích chỉ đạo hơn là nghe theo sự sắp xếp của người ta, thích làm theo ý riêng hơn là làm điều gì chống lại đó, ưa làm những gì mình thích chứ ít khi thích những gì mình làm. Con người thường luôn cho rằng những phán đoán của mình là đúng và cứ khăng khăng nhất quyết ở lại trong đó, bắt người ta phải đồng thuận với mình chứ ít khi làm điều ngược lại. Cái ảo tưởng đó làm cho cái tôi trở nên lớn hơn, dần dần, nó làm cho người ta trở nên ngạo mạn, tự hào về bản thân, tự phong cho mình một vị trí quan trọng. Cứ mỗi lần vâng phục, người ta được tháo cởi khỏi những điều này.
Trái với suy nghĩ cho rằng vâng phục giết chết tự do, thực chất nó giúp cho người tu sĩ biết cách sử dụng tự do của mình hiệu quả hơn và đúng cách hơn. Người ta vẫn hay sai lầm khi cho rằng tự do là muốn làm gì thì làm. Đây là môt kiểu tự do phá hoại, chứ tự nó chẳng đắp xây hay giúp ích điều gì. Vâng phục là đặt mình trong tâm thế sẵn sàng trước một sứ mạng. Người tu sĩ được trao trọn tự do để thực thi mọi điều mình cho là đúng đắn trong phạm vi sứ mạng ấy. Sự tự do lúc này đã được xác chuẩn, được công nhận và đảm bảo. Nó sẽ sinh nhiều hoa trái. Ngoài ra, nhờ vâng phục, người tu sĩ cũng được giải phóng khỏi mọi lo sợ.
Trước nhiều chọn lựa sứ mạng, có khi họ phân vân không biết phải đi theo con đường nào. Biết đâu họ sẽ chọn một lối đi sai! Những chỉ dẫn của bề trên, sự đồng thuận trong quá trình đối thoại sẽ giúp tìm ra ý Chúa. Họ sẽ cảm thấy an tâm hơn, vững dạ hơn và tự tin hơn cho sứ mạng được giao. Khi thoát ra khỏi ý riêng, họ sẽ hướng về Chúa, họ cảm thấy mình đang được dẫn đi, chứ không phải tự mình vẽ ra lối đi cho mình. Sự xác tín về sự hiện diện của Chúa ngay bên giúp họ cảm thấy an toàn hơn, bởi những gì họ đang làm là làm theo ý Chúa và chắc chắn sẽ nhận được sự nâng đỡ của Chúa trong từng giây phút. Quả vậy, cứ mỗi khi vâng phục với thái độ xác tín, người tu sĩ sẽ thấy rất bình an, và ngược lại, khi bất tuân, họ sẽ thấy một nỗi bất an lớn lao trồi lên trong mình.
Sự vâng phục cũng giúp người tu sĩ được gia tăng thêm lòng tin cậy mến. Đó là vì họ đã dám mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn của mình, dám từ bỏ ý riêng để đón nhận một điều mới. Họ tin vào sự hiện diện của Chúa nơi bề trên, kể cả khi bề trên trao cho họ một mệnh lệnh rất lạ lẫm mà họ chẳng thể nào hiểu nỗi. Họ tin là có khi qua những sai lầm của bề trên, Chúa vẫn có cách đưa mọi sự về trật tự và đó là cách mà Chúa dùng để huấn luyện họ. Quả vậy, sự vâng phục sẽ trở nên quý giá hơn khi ta phải đối diện với một bề trên “khó ưa”, luôn có những quyết định ngược với mình. Nếu vị tu sĩ và bề trên lúc nào cũng tâm đầu ý hợp thì giá trị của vâng phục trở nên quá dễ dàng đến nỗi chẳng có gì để bàn cãi nữa. Chính qua những lúc có sự khác biệt trong suy nghĩ giữa bề trên với bề dưới mà sau khi trao đổi, bề dưới dẫn mở lòng ra để đón nhận các quyết định của bề trên, ta thấy được đặc nét và sự đòi hỏi của một kiểu từ bỏ có khi làm ta phải đứt cả ruột gan. Tính chất hy lễ của sự vâng phục được biểu lộ thật rõ nét. Đó là lúc mà lòng tin cậy mến của người tu sĩ được bồi đắp mạnh mẽ nhất. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là bề trên cứ tự ý quyết định mà chẳng cân nhắc gì rồi biện minh bằng kiểu nói “để giúp bề dưới trưởng thành hơn”. Bề trên có thể có những sai lầm, nhưng đừng bao giờ đem sự vâng phục ra làm trò đùa hay xem thường nó.
Sự vâng phục giúp người tu sĩ hướng đến sự trọn lành. Từ những vâng phục nhỏ bé cho đến những điều lớn lao, người tu sĩ dần dần khuôn mình trong tinh thần của dòng và đường lối sư phạm của Chúa. Nó giúp người tu sĩ làm trổ sinh nhiều nhân đức khác. Khiêm nhường, gần gũi, nhu mì, ứng trực, sáng tạo, hăng hái cho sứ mạng, không cố chấp, không khăng khăng với ý riêng, phán đoán riêng, không phàn nàn, cau có… Cứ để ý mà xem, người tu sĩ nào luôn cảm thấy khó chịu về những quyết định của bề trên thường là một tu sĩ không hạnh phúc trong đời tu. Họ rước bực bội vào người, lại còn tìm cách lây lan sự bực bội ấy cho người khác. Họ gây chia rẽ giữa anh chị em và làm cho cuộc sống thêm ngột ngạt, bức bối. Còn vị tu sĩ nào luôn sẵn sàng vâng phục thì luôn cảm thấy yêu đời, vì tin rằng ở bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, vẫn có Chúa hiện diện với mình, giúp mình khám phá ra những điều mới mẻ.
Về phương diện cộng đoàn, không cần phải nói nhiều, sự vâng phục giúp các thành viên được đồng tâm nhất trí với nhau. Bề trên chính là đầu, mọi thành viên là các chi thể. Khi mọi sự được quy về một mối, sẽ không có những chia rẽ, bè phái hay kiểu mỗi người mỗi ý, thích làm gì thì làm. Bề trên chính là cầu nối của tất cả mọi thành viên. Bề trên đóng vai trò như một người cha, người mẹ trong gia đình, là nơi mà khi gặp vấn đề gì, con cái thường chạy đến để tìm sự an ủi, sự nâng đỡ, chở che. Chính bề trên cũng trở thành kênh thông tin, truyền từ người này đến người kia, giúp cho các thành viên được biết rõ về nhau, hiệp thông với nhau, dù có khi sống xa nhau mỗi người một chân trời. Bởi vậy, các thành viên có thể ít có liên lạc với nhau vì lý do sứ mạng, nhưng phải luôn có sự thông tri thường xuyên với bề trên. Sự thông tri này cũng bao hàm luôn cả một sự vâng phục, yêu mến và tin tưởng. Đây rõ ràng là một thách đố đối với bề trên. Bề trên nào mà những người thuộc quyền không thích nói chuyện, không muốn liên lạc hay chẳng dám đến gần là một bề trên thất bại.
Trong sứ mạng, sự vâng phục cũng giúp cho mọi việc được phân bổ và tiến triển trong trật tự và hiệu quả. Bề trên, ngoài việc là một người có học thức, có óc phán đoán tốt, còn là người có cơ hội tiếp xúc với nhiều người, nhiều hoàn cảnh, đặc biệt là những vị có vai vế trong Giáo Hội và xã hội. Tầm nhìn của họ rõ ràng là rộng và phổ quát hơn người khác. Theo đó, cứ theo lý mà nói, những quyết định phân bổ và chuyển trao sứ mạng sẽ có phần chuẩn xác hơn. Nhờ biết rõ từng đương sự và biết rõ nơi có nhu cầu tông đồ, bề trên sẽ cân nhắc để chọn người sao cho phù hợp, vừa không làm tổn hại người đó, vừa giúp người đó được phát huy mọi sở trường của mình, đồng thời cũng giúp cho những người mà vị tu sĩ đó được sai đến để phục vụ. Rõ ràng, dưới viễn cảnh này, không có vâng phục, thì cũng sẽ chẳng có gì gọi là “sai đi”. Người nào tự sai mình đi hoặc vận động bề trên sai mình đến nơi mình muốn chứ không bình tâm chọn ý Chúa thì không sống tinh thần của vâng phục. Vị bề trên nào không cầu nguyện, không nhận định kỹ càng trước khi sai một ai đó vào sứ mạng thì cũng làm điều ngược ý Chúa, vì đã sử dụng quyền không đúng cách và không chu toàn bổn phận được trao.
Muốn một cây sinh hoa trái thơm ngon, người nông dân phải chăm sóc cho cây thật tốt. Phải cắt tỉa, bón phân, rào giậu, tưới nước… Muốn đời vâng phục sinh hoa trái, cả tu sĩ và bề trên cũng phải lưu tâm đến nó và tạo những điều kiện thuận lợi cho nó.


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ (dongten.net)

NỤ CƯỜI HAY NƯỚC MẮT?

Làm nghề giáo trong thời đại này đang bị mất đi sự coi trọng và kính nể. Dạy trò không ngoan thì bị chê là không có nhiệt tâm. Dạy trò không giỏi thì bị chê là không có chuyên môn.

Gần đây trên những phương tiện truyền thông, đã đưa những thông tin khiến tôi thật lòng phải để tâm suy nghĩ, càng suy nghĩ tôi càng khó hiểu, khó hiểu một cách lạ lùng bởi trước đây trong xã hội và nhất là trong môi trường giáo dục được xem là rất quan trọng của tất cả mọi người, bởi những đứa trẻ đang độ tuổi đến trường là tương lai của xã hội. Thế mà gầy đây hết chuyện trẻ em bị bạo hành giờ đến chuyện học sinh bóp cổ cô giáo, và như một chuyện nóng bỏng của cả nước, chuyện một cô giáo bị phụ huynh bắt quỳ ở trưởng tiểu học Bình Chánh, Bến Lức, Long An. Nhiều người khi nghe tin này thì nói: đây là chuyện trước giờ chưa hề xảy ra trong nền giáo dục của Việt nam. Thế giờ sao lại xảy ra trong nơi mà các em được dạy dỗ từ lúc bắt đầu biết cắp sách đến trường, nơi mà các em được giáo dục không những chỉ kiến thức cần thiết mà ngay cả việc học làm những trò ngoan, trò giỏi. Nhìn cô giáo với bao hoài bão để gầy dựng cho thế hệ tương lai, trên tay vẫn còn vương bụi phấn, thế mà phải quỳ ngối trước những đồng nghiệp, trước những phụ huynh có vẻ đang giận dữ, và nhất là trước bao con mắt ngơ ngác của những học trò mà cô đang phụ trách. Cười hay khóc? Nước mắt hay những nụ cười? Vui hay buồi? Hãnh diện hay tủi nhục? Câu trả lời là của bạn và tôi. Và cho những ai đã, đang và có thể rơi vào hoàn cảnh nụ cười hay nước mắt này. Bạn cùng tôi hãy tự đặt mình vào từng những thành phần trong sự kiện trên để xem tâm lý và cách ứng xử ra sao?

1. Phụ huynh
Cảm thấy thích thú chăng? Thỏa mãn sự tức giận trong mình chăng?. Bởi mình đã thay con trả đũa. Ai bảo bắt phạt con tôi, giờ tôi phạt lại. Một niềm vui trên sự đau khổ của người khác. Có nên chăng?. Phụ huynh ở đây chính là cha mẹ, và được xem là người thầy người cô đầu đời của một đứa trẻ. Chắc có lẽ khi cha mẹ dạy con mà nó không nghe lời hay ngang bướng thì đôi lúc nóng giận cũng phải cho nó ăn vài cây. Lúc tôi còn nhỏ, chuyện ăn đòn, bị quỳ ngối bởi thầy cô giáo là chuyện thường. Về nhà còn không dám méc ba mẹ, nếu méc còn bị ăn đòn thêm nữa là khác. Thế nhưng trẻ em ngày nay gần như đã khác xưa. Chỉ động chạm đến chúc xíu là cũng có chuyện. Vì các em quá được nuông chiều, các bậc cha mẹ cũng không dám phạt, không dám cho ăn đòn. Vì thế mà khi cô giáo bắt con mình quỳ ngối là điều làm sỉ nhục con mình. Cha mẹ là phụ huynh trong sự kiện trên đã có một cách ứng xử mang tính nóng vội, có lý mà chẳng có tình chút nào. Hành động đó vẫn bị xã hội và nhiều người bất bình lên án.

2. Cô giáo.
Không biết vì lý do gì? Vì điều gì mà cô giáo đã phải quyết định một lối ứng xử mà cô giáo nhận hậu quả ngoài ý muốn. Cô giáo trẻ đang ôm ấp hoài bão là giúp cho những đứa trẻ được nên người. Nhưng cũng vì nóng vội mà đã có cách ứng xử mà xã hội ngày nay đang kêu gọi là đừng bạo hành trẻ em. Bắt các em quỳ là một cách giúp cho các em biết sợ, biết quê mà chừa. Nhưng cuối cùng chính cô giáo này lại là người thế thân phải quỳ lại để như kiểu đền tội. Rồi sau sự việc này, cô giáo có còn tâm trạng hay khao khát tiếp tục đứng trên bục giảng để trao dồi kiến thức cho những thế hệ tương lai nữa không? Đó lại là cách ứng xử có lý mà cũng không có tình.

3. Đồng nghiệp
Biết chuyện. Đến xem. Đứng nhìn. Vài người có sự thông cảm, đau xót. Lên án phụ huynh nhưng không dám lên tiếng vì sợ liên lụy. Có vài người thì trách móc sao cô lại làm vậy giờ bị vậy cũng như huề. Và quan trọng hơn là người lãnh đạo cả một ngôi trường lớn. Biết chuyện. Đến xem. Rồi như kiểu phủi tay cho xong, tránh né và đi mất. Đáng buồn. Đau lòng. Bởi con người ngày nay đang bị con sâu vô cảm ăn vào máu.

3. Những đứa học trò.
Những đứa học trò chứng kiến cảnh cô giáo của mình mà trước đó không lâu đứng trên bục giảng để truyền đạt những kiến thức cho mình, giờ đây lại hoàn toàn trái ngược về nhân cách và tư cách. Chính cô giáo đó lại quỳ gối với một thân hình không còn dáng vóc của một cô giáo dễ thương, dễ mến của những đứa học trò dành cho cô. Giờ đây cô đang bị quỳ với những giọt nước mắt không dám chạy xuôi mà chảy ngược vào trong. Tội nghiệp. Đáng thương. Nên cười hay nên buồn đây? Có thể còn có những đứa học trò thương cho cô giáo. Khóc cùng cô. Nhưng bên cạnh có những đứa đang cười trong lòng vì cô dám phạt mình, giờ bị cha mẹ mình phạt lại. Đáng đời. Tâm lý và cách suy nghĩ của các em không thể trách. Trách là trách những ai dạy con cái mình có suy nghĩ và cách ứng xử theo kiểu ăn miếng trả miếng. Lại có lý mà không có chút tình nào. Buồn.

Có thể nói ai có trách nhiệm trồng người, dạy dỗ những mầm xanh của xã hội đều phải có lòng nhiệt thành tận tụy. Phải có cái tâm nhà giáo dục. Thế nhưng với những đồng lương nhiều khi không đủ sống mà trách nhiệm lại nặng nề đã khiến nhiều bạn sinh viên làm ngơ với ngành sư phạm, để rồi ngó sang một ngành nghề khác có vẻ dễ dàng và tự do hơn. Làm nghề giáo trong thời đại này đang bị mất đi sự coi trọng và kính nể. Dạy trò không ngoan thì bị chê là không có nhiệt tâm. Dạy trò không giỏi thì bị chê là không có chuyên môn. Dạy trò không đạt chỉ tiêu của trường thì bị chuyển công tác…và như thế khiến người thầy người cô chỉ còn biết loay hoay với bổn phận dạy cho xong mà không còn động lực và nhiệt huyết với thế hệ tương lai đang cần những bàn tay và trái tim của người làm nghề nhà giáo.

Qua sự kiện cô giáo ở trường tiểu học Bình Chánh, Bến Lức, Long An bị bắt quỳ gối chỉ vì cô đã bắt phạt một học sinh vì tội không nghe lời cô, đã khơi lên cho bạn và tôi một suy nghĩ và một cách ứng xử giữa con người với con người. Một lối hành xử chẳng có chút gì đẹp, thiếu đi lòng vị tha, thiếu vắng sự thông cảm, thiếu mất sự tôn trọng của một nghề vẫn được mọi người kính trọng, để giáo dục và truyền đạt những kiến thức căn bản để vươn tới thành công. Chúng ta đang sống trong một xã hội, một đất nước đang có nhiều thay đổi. Hy vọng rằng mỗi khi chúng ta ứng xử với nhau sẽ để lại trong tâm tư mọi người một vẻ đẹp nhân văn. Nhất là để lại trong tâm hồn những đứa trẻ một vẻ đẹp thánh thiện, hồn nhiên, một hình ảnh của tình yêu và sự kính trọng. Để mọi người nhất là những ai đã, đang và sẽ đóng vai trò trồng người có được động lực để dấn thân cho một xã hội tươi đẹp hơn trong tương lai.


Vs. Lê Đình