Sống mầu nhiệm nhập thể: làm người dễ hay khó?

Câu hỏi này được đặt trong bối cảnh lễ Giáng sinh, lễ Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Hiểu được cái khó của phận làm người mới thấy được tình yêu khiêm hạ của Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn chia sẻ trọn vẹn phận người của chúng ta và với chúng ta. Ngài là Emmanuel (Thiên Chúa ở với chúng ta). Ngài muốn trở nên một người như mọi người (one of us, one among us), để từ đó cứu độ mọi người.
Làm người dễ hay khó? Câu hỏi này có thật không, hay câu trả lời đã quá rõ?
Có những người tự tử vì không gánh nổi đời người của mình. Ba mươi ngàn người Nhật tự tử mỗi năm. Căng thẳng, mất ngủ, tim mạch là những cơn bệnh của thế kỷ 20 và những thế kỷ kế tiếp. Cả triệu người Nga nghiện rượu. Giới trẻ bị kéo vào đủ thứ ma túy. Mọi thứ gây mê, gây nghiện đều chỉ làm người ta quên đi trong chốc lát những đau buồn của đời mình.
Trước 1975, có tủ sách Học làm người. Ông bà ta cũng có câu: làm người thì khó, làm chó thì dễ. Làm người là một lối nói khá Việt Nam. Sống phận người như một việc phải làm cho tử tế.
Ðối với Khổng Tử, làm người cần thể hiện đức nhân trong cuộc sống. Nhân là sự nối kết con người nên một với nhau. Khổng Tử quả quyết rằng con người cần phải nỗ lực, thậm chí phải hy sinh tính mạng mình để hoàn thiện đức Nhân. Ông viết: “Chí sĩ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân” (nghĩa là: người sĩ có chí và người có đức nhân không cầu sống mà làm hại điều nhân, mà có khi hy sinh tính mạng để làm thành điều nhân). Trong sách Luận Ngữ, Khổng tử viết: “Ngô thập hựu ngũ, nhi chí vu học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi chi thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ”, có nghĩa là “Lúc 15 tuổi, tôi đã để tâm lập chí học đạo lý làm người, vào 30 tuổi đã có thể tự lập thân xử thế, đến 40 thì không còn bị mê hoặc nữa, qua 50 thì lãnh hội được đạo thiên mệnh, sang đến 60 thì đã thuận theo chỉ thị của Thiên mệnh, khi đã 70 thì đã thuần thục, tâm muốn gì thì cũng không còn vượt quá những quy củ” (Luận Ngữ, Vi chính 4). Qua câu này ta thấy, đối với Khổng tử, làm người là lớn lên từ từ. Cứ qua một chục năm, lại bước lên một bước mới, cao hơn.
1.  Làm người dễ hay khó khi mà muốn làm người, ai cũng phải cần đến người khác? Sống là sống với, sống nhờ và sống cho người khác. Ðứa trẻ lớn lên ở rừng với bầy sói, sẽ không biết nói hay biết đi bằng hai chân. Phải sống với người khác, tôi mới nên người. Nhưng sống với người khác, chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Một triết gia Pháp bảo rằng hỏa ngục là những người khác (L’enfer, c’est les autres, Jean Paul Sartre). Những người khác là những người ở ngay bên tôi, trong nhà tôi, trong nhóm tôi, nơi tôi làm việc. Cái nhìn của họ đủ làm tôi hóa đá, tê liệt.
2. Làm người dễ hay khó khi mà con người có một thân xác và là một thân xác. Je suis donc mon corps, tôi là thân xác của tôi (Merleau Ponty). Chúng ta dành nhiều thời giờ và quan tâm đến thân xác. Hãnh diện vì nó nhưng cũng khốn khổ vì nó. Thân xác giúp ta làm bao nhiêu điều, giúp ta diễn tả những gì trong lòng mình, giúp con người gần nhau qua ngũ quan.
Nhưng thân xác vật chất có giới hạn và yếu đuối của nó. Nó có những nhu cầu tự nhiên như ăn uống, ngủ nghỉ, thở, và cả những nhu cầu tính dục nữa. Nó có những đòi hỏi, thôi thúc ta làm điều này điều nọ, dù biết là sai trái. Thân xác thì yếu đuối, như Ðức Giêsu nói trong Vườn Dầu, nhưng chính vì yếu đuối nên nó rất mạnh. Thân xác chúng ta cứ tự nhiên thì hướng về cái dễ chịu, thoải mái, cái đem lại khoái lạc. Ðể đi ngược lại khuynh hướng đó, đòi một cố gắng, nỗ lực, hy sinh. Khoái lạc nơi thân xác lắm khi vẫn là đích nhắm của con người, nó chi phối bao quyết định của ta.Tôi làm điều tôi muốn, có khi chẳng qua chỉ là tôi làm điều thân xác tôi đòi hỏi.
Thánh Gioan nói đến “dục vọng của xác thịt, dục vọng của đôi mắt” (1 Ga, 2, 16).
Thân xác gây rắc rối cho con người khi những nhu cầu của nó không được thỏa mãn (đói, khát, nóng, lạnh, buồn ngủ). Bệnh tật vẫn là điều kinh khủng đe dọa con người. Luôn có những bệnh tật mới.
Thân xác vừa giúp tôi đến với người khác, lại vừa ngăn cản tôi. Thân xác giới hạn tôi trong không gian và thời gian.
3. Làm người dễ hay khó khi mà cuộc sống con người là không đoán trước được? Người ta không nắm được tương lai, nên đi xem bói để yên lòng. Bất trắc, bấp bênh, mong manh, là những điều gắn liền với phận người. Có bao điều bất ngờ xảy tới phá vỡ những dự tính của ta. Bất ngờ đến từ rủi ro, từ ác ý của người khác, từ một cơn bệnh đột ngột, và nhất là từ đột tử. Chính vì thế con người là con vật hay lo và sợ, vì thấy cuộc đời đầy cạm bẫy và đe dọa. Có người mua bảo hiểm cũng vì lý do đó, đeo bùa cũng vì đó, tin dị đoan cũng vì đó.3.
4. Làm người dễ hay khó khi mà con người hơn con vật ở chỗ có lý trí, tự do, lương tâm? Ðó là những điều rất quý, nhưng cũng chính vì thế mà con người phải chịu giằng co, trăn trở, áy náy, đắn đo nghĩ suy trước những chọn lựa. Nên hay không nên làm, nên làm điều gì thì tốt hơn: đó là những câu hỏi muôn thuở của con người. Tự do thật là quý, nhưng tự do cũng thật là một gánh nặng đòi con người cứ phải vượt trên chính mình, vượt trên cái tự nhiên, tầm thường để sống cho cái cao cả. Con người có tự do nghĩa là con người có thể bị cám dỗ, bị kéo xuống, bị loay hoay lo cho mình, bị khép lại. Con người bị cám dỗ cũng là con người có thể phạm tội. Tội lỗi là nỗi đau dày vò con người.
5. Làm người khó hay dễ khi mà con người cứ phải học mãi. Học qua thầy và sách vở, nhưng cũng qua những thất bại ê chề, những vấp ngã cay đắng, những quyết định sai lầm, những thiếu sót không sao tránh được. Như thế càng làm người ở đời thì càng có kinh nghiệm. Con người lớn lên về mọi mặt, từ từ, qua thời gian như trái cây chín nhờ ánh mặt trời. Không thể chín ép mà không làm cho trái cây bớt vị ngọt. Ðiều khó là phải biết kiên nhẫn với mình và biết chờ người khác, khi thấy tiến độ không như dự định.
6. Làm người khó hay dễ khi chúng ta có một trái tim với những tình cảm giận hờn, yêu ghét, thèm muốn. Yêu mà phải xa nhau là khổ. Ghét mà phải ở gần là khổ. Bị phản bội, bị hiểu lầm là khổ. Yêu mà không được đáp lại là khổ. Nỗi khổ bám lấy đời người, “mới thoạt sinh ra thì đã khóc óe”. Có bao điều ta muốn mà không được như ý. Có bao điều tưởng là đơn giản tự nhiên lại không xảy ra như ta mong. Trái tim của chúng ta rất phức tạp. Ðể thắng được một ác cảm tự nhiên không dễ. Ðể ra khỏi nỗi đam mê hay sợ hãi, để bao dung tha thứ, những điều ấy đều đòi nỗ lực lớn lao.■

Lm Antôn NGUYỄN CAO SIÊU, SJ

SUY TƯ GIÁNG SINH

Lễ Giáng Sinh có nhiều điều khiến phải “động não,” xét mình, suy tư, chấn chỉnh, quyết tâm… để chính tâm hồn trở thành “hang đá” cho Đấng Cứu Thế giáng sinh – chứ không phải hang đá vật chất.
Giáng Sinh cứ đến rồi đi như chiếc xe buýt chạy qua trên đường, tôi thấy kiểu nào và rút được bài học gì không?  Đây chỉ là suy tư riêng, xin được chia sẻ…

1/ Đơn Sơ
Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về tính Đơn Sơ – đơn sơ trong lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động, ánh mắt, nụ cười, tín thác, yêu mến…
Chúa Giêsu sinh ra là một trẻ thơ.  Trẻ thơ luôn đơn sơ, hoàn toàn tin tưởng vào cha mẹ, không so đo, không tính toán.  Như vậy, sống đơn sơ cũng là sống khiêm nhường: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18, 3).  Chính Đức Kitô cũng đã căn dặn và “mách nước” để sống giữa thế gian: “Hãy khôn như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu” (Mt 10, 16).  Còn Thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Tôi sợ rằng như xưa con rắn đã dùng mưu chước mà lừa dối bà Eva thế nào, thì nay trí lòng anh em cũng dần dần đâm ra hư hỏng, mất sự đơn sơ đối với Đức Kitô như vậy” (2Cr 11, 3).

2/ Mau Mắn
Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về sự mau mắn – mau mắn trong mọi việc, tâm linh hoặc đời thường.  Sự mau mắn liên quan sự dứt khoát.  Không dứt khoát thì không thể mau mắn, và không mau mắn thì không thể dứt khoát.  Thiên Chúa không thích thái độ lừng khừng, chần chừ, lần lữa.  Chính Ngài đã thẳng thắn và dứt khoát: “Ngươi hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3, 16).  Tôi phải bắt chước các mục đồng mau mắn đến với Chúa: “Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (Lc 2, 15).

3/ Khó Nghèo
Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về Đức Khó Nghèo – khó nghèo trong lối sống, sinh hoạt, tiêu xài, ý nghĩ.  Mầu nhiệm Mai Khôi thứ Năm của Mùa Vui: “Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.”  Khó khăn ở đây là “sống Đức Khó Nghèo” chứ không phải là “khó chịu”, “khó tính”, “khó ưa”,…  Can đảm chấp nhận cảnh sống khó khăn là một nhân đức, vì chính Chúa Giêsu tự nguyện trở thành Đệ Nhất Hàn Vương – từ Bêlem tới Canvê. 
Theo Việt ngữ, “nghèo khó” cũng như “khó nghèo”.  Vâng, hãy sống “khó nghèo” thực sự chứ đừng sống “KHÓ (mà) NGHÈO”, tức là chỉ nói suông, vẫn ung dung tự tại, “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.”
Dụ ngôn Phú Hộ và Ladarô nghèo khổ (Lc 16, 19-31) cho thấy cái Phúc của sự khó nghèo, và Chúa Giêsu cũng bảo người ta đãi tiệc thì mời những người nghèo (Lc 14, 12-14).  Cố gắng đừng nao núng như lời kể của Thánh Phaolô: “Trải qua bao nỗi gian truân, họ vẫn được chan chứa niềm vui; giữa cảnh khó nghèo cùng cực, họ lại trở nên những người giàu lòng quảng đại” (2Cr 8, 2).  Một trong Tám Mối Phúc cũng nhắc đến đức khó nghèo: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3; Lc 6, 20).

4/ Vâng Phục
Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về đức Vâng Phục – vâng phục trong sự khiêm nhường và vui vẻ.
Thánh Phaolô nói: “Trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa, nhưng nay anh em đã được thương xót, vì họ không vâng phục; họ cũng thế: nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người thương xót anh em, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót.  Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người” (Rm 11, 30-32).
Vâng lời trọng hơn của lễ (1Sm 15, 22 và Tv 50, 8-9).  Thật vậy, Thiên Chúa luôn đề cao đức Vâng Lời.  Về việc con cái vâng lời cha mẹ, Thánh Phaolô nói: “Vâng phục cha mẹ là làm đẹp lòng Chúa” (Cl 3, 20).  Thật vậy, dù là Ngôi Hai Thiên Chúa, Đức Kitô vẫn giữ trọn đạo làm con đối với cha mẹ: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2, 51).

5/ Bảo Vệ Sự Sống
Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về việc Bảo Vệ Sự Sống – bảo vệ thai nhi, giúp đỡ bệnh nhân, người hoạn nạn…  Tại nơi hang chiên lừa ở Bêlem, Chúa Giêsu đã giáng sinh trong hình hài một trẻ thơ.  Trẻ thơ cũng là một con người với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền.
Bảo Vệ Sự Sống là trách nhiệm của mọi người.  Sự sống là Thiên Chúa, như chính Đức Kitô đã định nghĩa về Ngài: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6a).  Rồi Ngài xác định: “Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6b).

6/ Chia Sẻ
Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về Đức Ái – mến Chúa và yêu người, thậm chí là yêu loài vật, yêu thiên nhiên… vì Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4, 8).  Yêu thương liên quan việc chia sẻ.  Chia sẻ tinh thần hoặc vật chất.  Chia sẻ là “trả nợ.”  Chia sẻ là yêu thương, tức là thực hành Luật Yêu của Thiên Chúa.  Chia sẻ là yêu người, yêu người là mến Chúa; không yêu người là không mến Chúa: “Nếu ai không yêu mến Chúa thì là đồ khốn kiếp!” (1Cr 16, 22).  Thánh Phaolô xác định: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13, 8).  Dù là phàm nhân, cổ nhân cũng đã minh định rạch ròi: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu – Lưới trời lồng lộng, không ai thoát được”.

7/ Tạ Ơn
Tất cả là hồng ân, vì không có Chúa thì tôi chẳng làm được trò trống gì, chỉ là vô tích sự: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5).  Tạ ơn là bổn phận và trách nhiệm của thụ tạo đối với Thiên Chúa, Đấng tác sinh muôn loài hữu hình và vô hình.  Lễ Giáng Sinh là hồng ân cao cả, vì Con Chúa đến không chỉ để đồng cam cộng khổ với tôi trong thân phận kiếp người, mà Ngài còn cho tôi “được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết can đảm sống theo gương của Con Một Ngài.  Xin Chúa giúp con viết những gì con sống, và sống những gì con viết.  Xin Chúa thương soi sáng, gợi ý và hướng dẫn con mỗi khi con viết lách về bất cứ điều gì hoặc ở dạng nào.  Xin Chúa giúp con thành tâm chia sẻ chính Ngài với tha nhân, để làm vinh danh Ngài chứ không vì danh giá riêng con.
Lạy Đấng là Chân Lý, nếu con có gì lệch lạc, xin Ngài dập tắt ngay từ khi manh nha.  Xin Ngài cho bất kỳ ai gặp con thì cũng đều gặp được Ngài, và con cũng nhân thấy Ngài nơi họ. Con cũng chỉ xin Ngài như bổn mạng của con là Thánh Thomas Aquino: “Con chỉ muốn Chúa mà thôi.”  Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ của con.  Amen.

Trầm Thiên Thu

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG - B

Có một người rất đạo đức và thánh thiện. Ông ao ước được tiếp đón Chúa một lần trong cuộc đời. Và rồi, Thiên Chúa đã nhìn đến lòng thành của ông, Ngài đã nói cùng ông qua giấc chiêm bao: "Ngày mai Ta sẽ đến viếng thăm ngươi". Ông quá đỗi vui mừng. Ông đã bắt đầu một ngày mới tràn đầy niềm vui và phấn khởi. Ông chuẩn bị phòng ốc thật sạch sẽ. Ông chuẩn bị bữa ăn thịnh soạn để tiếp đón Chúa. Sau đó, ông ra đến tận cổng để chờ đón Chúa. Và khi ánh bình minh ló rạng, ông hồi hộp chờ đón Chúa, nhưng không thấy Chúa, ông chỉ thấy một ông lão ăn xin, rách rưới, tả tơi. Người ăn xin đến van xin ông chút cơm bánh lót dạ, nhưng ông đã xua đuổi người ăn xin, vì ông đang chờ vị thượng khách. Và rồi, tiếp sau là một người lữ hành, lỡ bước đang cần sự trợ giúp của ông, nhưng ông vẫn từ chối. Cho đến khi bóng chiều đã ngả sau lưng đồi, ông lại thấy một phụ nữ ốm yếu, bệnh tật đến van xin lòng tốt của ông, thế nhưng, ông vẫn từ chối giúp đỡ. Ông thất vọng, vì cả ngày chờ đợi mà không thấy Chúa đến. Ông thầm trách Chúa đã không giữ lời hứa với ông. Thế nhưng, Chúa lại nhỏ nhẹ trách ông: "Hôm nay, Ta đã đến với ngươi ba lần, nhưng đều bị ngươi khước từ".
Ngược dòng lịch sử cách đây hơn 2000 năm, một thiếu nữ miền Nagiaret được vinh hạnh là người đầu tiên đón Chúa đến viếng thăm. Người thiếu nữ ây tên là Maria. Với lòng quảng đại và với lòng tin tuyệt đối vào quyền năng Thiên Chúa, cô đã không để đánh mất cô hội ngàn năm có một. Cô đã nhanh nhẹn đáp lời bằng hai tiếng xin vâng. Có thể nói: lời thưa xin vâng lúc này là lời đẹp nhất trong cuộc đời côi. Lời thưa xin vâng không những đã làm nên trang sử mới trong cuộc đời cô mà còn đưa nhân loại bước vào kỷ nguyên mới của lịch sử. Triều đại mới đã bắt đầu. Thời đại hồng ân đã khởi sự. Thiên Chúa đã trở nên Emmanuel ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.
Ngày hôm nay Thiên Chúa vẫn đang viếng thăm dân Người. Ngài đang đến trong thân phận những con người nghèo khổ, bất hạnh đang cần giúp đỡ, cảm thông. Ngài đang đến trong thân phận những hài nhi yếu ớt đang cần sự đón nhận, chở che. Ngài đang đến trong thân phận những người già neo đơn, bệnh tật đang sống lây lất từng ngày. Ngài đang đến giữa chúng ta. Ngài cũng có thể đã từng bị chúng ta khước từ. Ngài đã từng bị chúng ta xua đuổi, chúng ta tẩy chay, chúng ta loại trừ. Ngài vẫn đang âm thầm đến ngỏ lời từng cuộc đời chúng ta. Hãy rộng lòng đón nhận Chúa. Hãy quảng đại để chấp nhận Chúa. Hãy dấn thân và phục vụ Chúa qua những anh em đang cần sự trợ giúp của chúng ta.
Vâng Thiên Chúa đã hạ sinh làm người và ở giữa chúng ta. Ngài không tự nhốt mình trong cung điện nguy nga tráng lệ, nhưng Ngài sinh ra giữa dân nghèo cùng cực. Ngài ở giữa những cảnh đời tha phương cùng cực nhất của nhân loại là "sinh vô gia cư, chết vô địa táng". Ngài ở giữa nhân trần để chia sẻ cảnh đời vốn dĩ vô thường và lắm nổi trôi. Ngài ở giữa chúng ta để trao ban tình yêu cho những người bất hạnh, ốm đau, bệnh tật, bị ngược đãi, bị bỏ rơi. Ngài còn dành một tình yêu đặc biệt cho những người tội lỗi là phương thu thuế và gái điếm.
Hôm nay, Chúa vẫn tha thiết mời gọi chúng ta hãy để cho Chúa được tiếp tục hiện diện trong cuộc đời chúng ta. Hãy để cho Chúa làm chủ cuộc sống của mình bằng việc tuân hành thánh ý Chúa. Hãy noi gương Đức Mẹ, chúng ta hãy dọn cho Chúa một cung lòng để Chúa ngự trị. Hãy đón nhận Chúa. Hãy sống cho Chúa. Hãy phục vụ Chúa trong anh em.
Ước gì trong mùa giáng sinh năm nay, lời cầu chúc Emmanuel không chỉ là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mà ở cùng anh chị em chúng ta. Xin Chúa Giêsu là Đấng Emmanuel luôn hiện diện sống động trong cuộc đời từng người chúng ta, xin Ngài ban tràn đầy niềm vui thánh ân trong ngày mừng Chúa Giáng Sinh. Amen.

HOÀNG TỬ HOÀ BÌNH

Nỗi niềm chờ mong Đấng Thiên Sai đã nuôi dưỡng niềm tin của người Do Thái trải qua bao thế hệ. Vào những lúc họ gặp cảnh thăng trầm bi đát như thời lưu đày, nỗi mong chờ ấy càng trở nên mãnh liệt. Lời cầu xin Đấng Thiên Sai ngự đến là một trong những lời cầu nguyện tha thiết nhất của dân được tuyển lựa: “Trời cao hãy đổ sương mai, mây ơi mưa xuống Đấng cứu đời…”. Từ thâm tâm mỗi người Do Thái, họ tin rằng khi Đấng Thiên Sai đến, thế giới sẽ hoà bình. Dân tộc được ưu tuyển sẽ ngẩng cao đầu giữa các dân. Sẽ không còn tang tóc nước mắt và đau khổ, đất sẽ tràn trề sữa và mật. Đấng Thiên Sai được chờ đợi như một vị Hoàng tử Hoà bình (x. Is 9,5).

Cách nay hơn hai ngàn năm, niềm hy vọng nuôi dưỡng bao thế hệ Do Thái đã thành hiện thực. Thiên Chúa không chỉ tiếp xúc với Dân của Ngài qua những trung gian như thời xa xưa, nhưng bằng chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu, Đấng muôn dân mong đợi. Nếu hình ảnh Đấng Thiên Sai được truyền thống diễn tả như một anh hùng chinh Đông dẹp Bắc, chễm chệ oai hùng, đánh đâu thắng đó, thì Con Thiên Chúa lại đến thế gian trong một diện mạo hoàn toàn khác. Đấng Thiên Sai đến, nhưng đơn sơ, khó nghèo. Người sinh ra trong một hang đá, dành làm chỗ cho đàn chiên trú đêm giữa mùa đông giá lạnh. Thiên Chúa đã muốn chọn một bậc sống đơn sơ. Ngài muốn hạ mình, trở nên gần gũi những người bé mọn. Sự khiêm nhường này được trải dài trong suốt cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu.

Người Do Thái khước từ vị ngôn sứ thành Nagiarét, bởi họ không thấy nơi Người những dấu hiệu được truyền thống tiên báo. Người là một vị ngôn sứ nghèo, đôi khi “vi phạm” lề luật, nhất là luật ngày Sabát. Người lại cả dám gọi Thiên Chúa là Cha, một điều cấm kỵ nơi người Do Thái. Người đi lại gặp gỡ và còn đến nhà dùng bữa với người thu thuế và những cô gái làng chơi. Không những phủ nhận vai trò Thiên Sai của Đức Giêsu, một số người Do Thái còn coi Người như một kẻ báng bổ phạm thượng. Kết cục, vị Thượng tế, các kỳ lão, một số biệt phái và luật sĩ đã lên án tử cho Người. Trên thập giá, Người đã dang rộng cánh tay như ôm trọn cả thế giới vào lòng. Người đã đón nhận sự chết như một hy tế của tình yêu.

 Nếu dân tộc và đồng bào của Chúa Giêsu đã lên án tử cho Người, thì những ai tin vào giáo huấn của vị Ngôn sứ thành Nagiarét lại nhận ra Người chính là Đấng muôn dân mong đợi. Cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu đều nhằm thiết lập hoà bình:

– Người đến để giao hoà thế gian với Chúa Cha;

– Người đến để phá hủy bức tường ngăn cách giữa Do Thái và các dân, đồng thời lấy giới răn yêu thương như giải pháp căn bản để thiết lập hoà bình;
– Người đến để trừ diệt sự dối trá, là mầm mống làm cho con người băng hoại và gây mâu thuẫn trong các mối tương quan ở mọi lãnh vực;

– Người kêu gọi con người hãy nhận ra trách nhiệm của mình đối với anh em, để xây dựng một cuộc sống huynh đệ, nhân ái yêu thương;

– Người đẩy lui quyền lực của ma quỷ, là tên giết người và là cha dự dối trá tự bản chất. Qua đó Người thiết lập vương quốc của sự thật, công chính và bình an.

Có thể người thời nay đặt câu hỏi: Sau hai mươi thế kỷ từ ngày Đức Giêsu rao giảng giáo huấn của Người, trước một thế giới lây nhiễm bởi lối sống tục hóa và vô thần, đâu là giá trị giáo huấn của Chúa Giêsu đối với con người hôm nay, và Người đã đem lại gì cho trần gian? Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã đưa ra câu trả lời: Chúa Giêsu đem cho nhân loại chính Thiên Chúa, và như vậy là đủ. Bởi lẽ Thiên Chúa là Đấng lấp đầy mọi khát vọng thâm sâu của con người. Không có Thiên Chúa, cuộc sống này trở nên vô nghĩa. Phủ nhận Thiên Chúa, thế gian sẽ chỉ còn lại là bãi chiến trường và là nơi đầy bạo lực chết chóc, như kinh nghiệm thực tế đã chứng minh. “Ai thấy Thày là thấy Cha”, Chúa Giêsu đã khẳng định như thế. Nơi Chúa Giêsu, Đấng vô hình đã trở nên hữu hình, Đấng cao vời đã trở nên gần gũi. Người là Đấng Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng ta.

Những người thời nay còn đặt câu hỏi: Nếu Chúa Giêsu là Hoàng tử Hoà bình, tại sao thế giới vẫn tồn tại những cuộc chiến nghiệt ngã ở nhiều lĩnh vực và mức độ khác nhau? Hoà bình chỉ được thiết lập khi có thiện chí của con người. Trong giáo huấn của mình, Chúa Giêsu đưa ra những nguyên tắc để hướng tới hoà bình, như những hạt giống ươm mầm để làm cho cây hoà bình trổ sinh và phát triển. Cốt lõi giáo huấn của Người là yêu thương, dựa trên nguyên tắc mọi người là anh chị em trong gia đình Thiên Chúa. Hạt giống hoà bình đã được gieo vãi, nhưng lại bị bóp nghẹt do thói ích kỷ và vô cảm của con người.


Chuyện kể về một cửa hàng lạ thường, chuyên bán những “Hạt giống ước mơ”. Một khách hàng bước vào và nhìn thấy những hộp nhỏ bày la liệt, trên đó có ghi những dòng chữ: “ước mơ hạnh phúc”, “ước mơ trường thọ”, “ước mơ giàu sang”. Vị khách mua liền một hộp có dòng chữ “ước mơ giàu sang” và nói lên điều ước của mình. Khi không thấy điều ước của mình được thực hiện, ông liền quở trách người bán hàng là dối trá. Người bán hàng nhẹ nhàng trả lời: “Thưa ông, đây chúng tôi chỉ bán hạt giống; để thành cây và để những ước mơ của ông thành hiện thực, ông cần gieo hạt, chăm sóc, vun tưới”. Chúa Giêsu đã đem hạt giống hoà bình vào thế gian. Người mời gọi chúng ta hãy cộng tác để hạt giống Người đã gieo vãi nảy nở đơm hoa kết trái giữa đời thường, đem hoà bình cho nhân loại. Thực ra, hoà bình không chỉ là yên tiếng súng và chấm dứt chiến tranh. Hoà bình còn là tình huynh đệ giữa các dân tộc, giữa các cá nhân. Hơn nữa, hoà bình còn là sự thanh thản trong tâm hồn, là tình huynh đệ tương thân tương ái, là sống có trách nhiệm đối với nhau và đối với môi trường xã hội. Đây chính là hoà bình mà Đức Giêsu kêu gọi. Người đã khởi xướng và mong mọi người thực thi trong mối tương quan đồng loại.

Mỗi năm, Mùa Vọng đến rồi lại đi, khởi đầu rồi lại kết thúc. Chúng ta hãy lắng nghe sứ điệp hoà bình các thiên thần đã hát lên tại cánh đồng Belem năm xưa: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, hoà bình dưới thế cho người thiện tâm”. Không chỉ lắng nghe, mà mỗi tín hữu được mời gọi trở nên sứ giả, đem tin mừng Giáng Sinh đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Liệu chúng ta có khả năng khẳng định chắc chắn với những người cùng thời rằng: Chúa đã đến và đang hiện diện giữa chúng ta. Người là Hoàng tử Hoà bình. Người chúc phúc cho những ai xây dựng hoà bình, “vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9) ? Lễ Giáng Sinh chỉ có ý nghĩa, nếu chúng ta cảm nhận được sự ngọt ngào của tình Chúa tình người, thể hiện qua niềm vui đón chào Đấng Cứu thế, Đấng đang ở giữa chúng ta.

Hải Phòng, Mùa Vọng 2017
  Gm Giuse Vũ Văn Thiên

ẤM ÁP MÙA ĐÔNG

Cách nay hơn hai ngàn năm, tại cánh đồng Belem, Con Thiên Chúa đã sinh hạ, giữa đêm đông giá lạnh trong một hang đá dành làm chỗ trú ngụ cho bò lừa. Qua sự sinh hạ kỳ diệu này, Ánh Sáng đã bừng lên trong đêm tối để soi sáng những góc khuất của cuộc đời; Thiên Chúa đã hiện diện giữa dương gian để đồng hành với con người trên bước đường dương thế. Đêm đông giá lạnh đã trở nên ấm áp dịu dàng, vì tình thương của Chúa bao trùm nhân gian. Hai mươi thế kỷ sau đêm hồng phúc ấy, Lễ Giáng Sinh vẫn tiếp tục đem lại sự ấm áp giữa mùa đông.
Mùa đông thường là biểu tượng của sự chết. Tại các xứ lạnh, trong suốt mùa đông, cây cối chỉ trơ trọi những cành khẳng khiu, tuyết rơi ảm đạm lạnh giá. Nhân loại đã trải qua mùa đông dài nhiều thiên niên kỷ, kể từ khi ông bà Nguyên tổ phạm tội bất tuân, muốn phủ nhận thân phận thụ tạo của mình mà nên ngang hàng với Thiên Chúa. Dòng dõi Ađam và Evà đã bị ảnh hưởng tội nguyên tổ như một chứng bệnh di truyền. Tự trong tâm khảm, con người luôn khát mong Đấng Thiên Sai đến cứu đời. Đối với người Do Thái, nỗi khát mong ấy đã hòa vào máu thịt, được thể hiện qua những lời ca thống thiết. Thế rồi, trong kế hoạch cứu độ diệu kỳ của Thiên Chúa, mùa đông dài của nhân loại đã chấm dứt. Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Người là Đấng Emmanuen mà Thiên Chúa đã hứa từ ngàn xưa. Người là Mặt Trời công chính chiếu soi cho nhân loại. Sau này, trong giáo huấn của mình, Đức Giêsu đã tuyên bố Người là ánh sáng trần gian. Cũng như mặt trời xuất hiện tỏa lan sức nóng làm tan chảy băng tuyết, xua tan giá lạnh và đem lại cho con người sự ấm áp, Đức Giêsu sưởi ấm lòng người bằng giáo huấn yêu thương, giải thoát con người khỏi quyền lực của ma quỷ và sự chết. Qua cái chết trên thập giá và qua cuộc phục sinh vinh quang, Chúa Giêsu đã chứng minh giáo huấn của Người về tình thương Chúa Cha. Người cũng khẳng định Người là sự sống và là sự sống lại. Những ai theo Người là can đảm bước ra khỏi đêm đông, hướng về Mặt Trời công chính, để tâm hồn họ không còn giá lạnh và chết chóc, nhưng tràn đầy sự sống và niềm vui.
Mùa đông cũng là biểu tượng của lối sống vô cảm hận thù. Lễ Giáng Sinh nhắc nhớ chúng ta: Con Thiên Chúa đã làm người và đi vào lịch sử. Người kêu gọi chúng ta hãy sống có trách nhiệm đối với nhau. Người lên án lối sống ích kỷ, gian dối và khép kín lạnh lùng vô tâm. Trải qua hơn hai ngàn năm, biết bao người đã được sưởi ấm tâm hồn nhờ đón nhận Chúa Giêsu và chọn Người là lý tưởng của đời mình. Có những người đã một thời chìm đắm trong bùn lầy, nhờ giáo huấn của Chúa mà trỗi dạy canh tân và trở nên con người mới. Ánh sáng chân lý của Chúa đã chiếu soi và hội nhập vào mọi nền văn hóa, đến với mọi sắc dân trên hành tinh này và quy tụ muôn dân vào gia đình Giáo Hội. Những ai gia nhập Giáo Hội, không còn những bức tường ngăn cách, không còn Do Thái hay Hy Lạp, không còn nô lệ hay tự do (x. Cl 3,9-11), nhưng tất cả đều là con Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô. Nhờ tin vào sự hiện diện của Chúa giữa trần gian, con người tìm được hạnh phúc giữa bể khổ, tìm được nụ cười giữa thương đau, tìm được hy vọng giữa đau khổ ê chề của cuộc sống. Đức Giêsu Kitô đã vác thập giá bước đi giữa khu phố của Giêrusalem để tiến tới Núi Sọ. Ngày hôm nay, Người cũng đang tiếp tục vác thánh giá với những người đau khổ trên mọi ngõ ngách của cuộc đời. Chúa vác thập giá với họ, cùng họ bước đi và làm cho gánh cuộc đời trở nên nhẹ nhàng. Sự hiện diện của Đấng chịu đóng đinh làm cho cuộc đời thêm nhân ái, đẹp đẽ và ấm áp hơn.
Sau mùa đông giá lạnh, kế tiếp là mùa xuân ấm áp và tràn đầy sinh lực. Chúa Giêsu đã đến trần gian để khai mở một mùa xuân mới cho nhân loại. Qua Ngôi Lời nhập thể, Thiên Chúa đã thực hiện một cuộc sáng tạo mới, vì con người ở khởi đầu lịch sử đã làm “vỡ kế hoạch” của Ngài. Thánh Phaolô đã phân tích rất sâu sắc khi đặt đối chiếu Chúa Giêsu với ông Ađam: Ađam là nguyên nhân đau khổ - Chúa Giêsu là nguyên lý hạnh phúc; Ađam là người bất tuân đến độ phủ nhận thân phận thọ tạo của mình - Chúa Giêsu vâng lời Chúa Cha cho đến chết trên thập giá; Ađam làm cho kế hoạch của Thiên Chúa bị phá vỡ - Chúa Giêsu đến để thực hiện thánh ý Chúa Cha; Ađam làm cho nhân loại xa rời Thiên Chúa - Chúa Giêsu giao hòa Thiên Chúa với con người bằng giao ước mới, được ký kết trong máu của Người đổ ra trên thập giá (x. 1 Cr 15,21-22). Nói tóm lại, trong Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu, nhân loại bước sang kỷ nguyên cứu độ, chấm dứt tình trạng bị luận phạt và chúc dữ. Những ai tin vào Chúa Giêsu sẽ được trở nên đồng thừa tự với Người để hưởng vinh quang và hạnh phúc vĩnh cửu. Trong Chúa Giêsu, họ diễm phúc được gọi Thiên Chúa là Cha. Đó chính là sự ấm áp tuyệt vời mà Thiên Chúa ban cho những ai tin vào Con của Ngài.
Trong xã hội của chúng ta, vẫn còn đó những mùa đông trong tâm hồn và trong mối tương quan xã hội. Mùa đông còn tồn tại khi biết bao người nghèo đói, đau khổ mà không được giúp đỡ. Mùa đông cũng còn đó khi người ta sống hận thù, ích kỷ và thiếu bao dung. Lễ Giáng sinh sẽ có ý nghĩa thiết thực hơn, nếu chúng ta mừng lễ cùng với những chia sẻ với người bất hạnh. Nhạc sĩ Nguyên Lễ đã thể hiện những ước vọng ấy trong bài “Tự sự Mùa Giáng Sinh”: “Hôm nay quanh ta vẫn có bao người không một tấc đất không một mái nhà, vật vờ, đây đó ngày tháng cho qua. Bao nhiêu em thơ đang sống bơ vơ, mình trần lạnh căm trong những đêm mưa, tuổi thơ của em lạc lõng vô bờ... Ngày hôm nay, Con Chúa vẫn hạ sinh, tại đó, tại đây, Ngài chờ chúng ta bằng tình thiết tha rộng vòng tay đón Ngài vào nhà”. Thay vì phàn nàn trách móc hay hằn học kêu ca, mỗi chúng ta hãy chung tay làm cho niềm vui Giáng Sinh được thể hiện, xua đi đêm đông giá lạnh đang phủ kín những góc khuất của cuộc đời, nơi những anh chị em nghèo khổ và bất hạnh. Qua những nghĩa cử bác ái sẻ chia, chúng ta phản ánh hình ảnh Ngôi Lời nhập thể, Đấng đã đến sưởi ấm thế gian và sưởi ấm lòng người.
Ngôi Lời đang hiện diện qua những gương mặt sạm nắng vì lao nhọc, những đôi vai oằn nặng trước áp lực cuộc sống, những mảnh đời lang thang cơ nhỡ, những gia đình rạn nứt đau thương. Tùy khả năng của mình, chúng ta hãy đem cho họ sự an ủi, để qua đó khẳng định với họ rằng: Thiên Chúa yêu thương con người. Mùa đông băng giá đã chấm dứt, xuân mới ấm áp đã đến rồi và cuộc đời tươi đẹp đang nở hoa.
Mùa Vọng 2017
  Gm Giuse Vũ Văn Thiên