CÔ ĐƠN TRONG ĐỜI TU

Chúa cho phép cô đơn có mặt trong đời tu. Cô đơn trong đời tu không phải là điều bất lợi, nhưng đôi khi cần thiết cho cuộc đời dâng hiến phục vụ.
Cô đơn, một thực tại thật khó diễn tả. Dường như người ta có xu hướng che đậy những khoảnh khắc cô đơn của mình, ngại chia sẻ và rất dè dặt khi viết về cô đơn. Trong đời tu, ta thường dễ rơi vào cám dỗ giấu kín sự cô đơn vì sợ bất lợi, sợ bị phê phán? Vài dòng tản mạn về những khoảnh khắc cô đơn sau những lần trải nghiệm, tôi nhận ra cô đơn đôi khi thật cần thiết vì có cái nên thơ, nhẹ nhàng và đáng yêu của nó.
Khi bóng đêm ngập tràn không gian, một mình trong căn phòng lặng lẽ, bất chợt ta cảm thấy cô độc, lẻ loi và hiu quạnh trong bốn bức tường đóng kín, nỗi cô đơn ùa về, hồn trống vắng bơ vơ: “Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”.
Trở về sau mỗi kỳ mục vụ, tôi mang theo bao nỗi ưu tư, thao thức khi chứng kiến những mảnh đời cơ cực, lầm than của người dân tộc,  thấy lòng buồn miên man.
Sáng Chúa nhật, lang thang một mình trên phố, ngắm dòng người nườm nượp qua lại chợt thấy mình lạc lõng bơ vơ giữa biển người xa lạ không giống ai, dường như trong ta  thiếu vắng điều gì đó thật khó hiểu.
Ngồi một mình trong quán vắng, nhâm nhi vài giọt đắng cà phê, bên những đôi tình nhân đang âu yếm, bỗng nhiên thèm được nghe những lời chia sẻ, cảm thông của ai đó để vơi đi những nỗi niềm tâm sự.
Trở về với chính mình sau mỗi biến cố buồn vui trong cuộc đời, không ít lần tôi đã từng đối diện với những giờ phút cô đơn. Những dư âm sau ngày lễ khấn, sinh nhật hay Bổn mạng với bao niềm vui, lời chúc mừng bao giờ cũng còn lại những khoảnh khắc trống vắng, quạnh hiu. Nâng niu trong tay những món quà đáng yêu gói ghém bao yêu thương, chợt nhớ về bóng hình người trao tặng với khuôn mặt hiền lành, dễ thương, nụ cười dòn tan trên môi. Đôi khi thấy nhung nhớ khôn nguôi khi đọc lại những lá thư, những tấm thiệp đong đầy tình cảm thân thương, hay mở mail nhận được bức thông điệp với bao tâm tình mến yêu tha thiết.
Cô đơn sau những lầm lỡ yếu đuối, mặc cảm tội lỗi dày vò xâu xé tam can. Cô đơn mỗi khi khủng hoảng nảy sinh, khi những đòi hỏi tâm sinh lý tự nhiên trỗi dậy khiến thân xác dường như bệnh hoạn và ươn lười. Cô đơn với những khổ đau gặp phải trên đường đời, những lúc bị hiểu lầm, cảm giác hụt hẫng dường như bị bỏ rơi…
Kinh nghiệm về sự cô đơn trong đời tu không ai giống ai, mỗi người một vẻ. Thực tại cô đơn gắn liền với thân phận con người. Sống trong bậc tu trì, không ai thoát khỏi những giờ phút cô đơn. Chạy trốn cô đơn ư? Đừng lầm, vì càng trốn chạy lại càng dễ đối diện. Ai bảo người tu sĩ không sợ cô đơn, hay không bao giờ rơi vào trạng thái cô đơn là tự dối lòng mình.
Chúa cho phép cô đơn có mặt trong đời tu. Cô đơn trong đời tu không phải là điều bất lợi, nhưng đôi khi cần thiết cho cuộc đời dâng hiến phục vụ. Cô đơn xem chừng không xấu, không mang lại sự phiền muộn nhưng giúp ta khiêm tốn dịu dàng hơn. Cô đơn để thấy mình bé nhỏ giữa vũ trụ bao la. Cô đơn để thấy mình chỉ như là hạt cát giữa sa mạc, như giọt nước giữa đại dương, như cánh chim lẻ loi giữa bầu trời mênh mông vô tận. Cô đơn để thấy mình yếu đuối và bất toàn không thể giải quyết được mọi sự mà phải bám lấy Chúa, trông cậy vào ơn Ngài. Cô đơn là khoảng lặng cần thiết trong tâm hồn mỗi người. Đôi khi, cùng với nỗi buồn, nó là một chất xúc tác góp nên những điều tốt đẹp và vĩ đại cho cuộc sống.
Không ít lần ta cảm thấy mình nhỏ bé giữa thế giới bao la. Những lúc như thế ai có thể hiểu thấu lòng ta? Ai có thể lấp đầy khoảng trống trong ta? Ai có thể ở bên ta lúc này?
Còn lại chăng chỉ mình ta với Chúa. Khi cô đơn ta thấy mình hoàn toàn trống rỗng, và chỉ có Chúa mới lấp đầy khoảng trống trong ta. Chỉ khi ở lại với Ngài và trong Ngài, nỗi khát khao của ta mới hy vọng được thỏa mãn, nỗi cô đơn lúc ấy sẽ nhẹ nhàng như gió thoảng mây ngàn. Cười được với Chúa trong những giờ phút chìm ngập trong cô đơn sẽ cảm nhận được sự an ủi vỗ về, sự ấp ủ yêu thương, được sưởi ấm xua tan những băng giá cho tâm tư xác hồn thêm nhẹ nhàng thanh thản. Mĩm cười với Chúa, tâm sự với Ngài đôi lời rồi chìm dần trong giấc ngủ. Đó là liều thuốc linh nghiệm để chữa lành trong những lúc rơi vào cảm giác cô đơn.
Khi ta cảm nhận được sự cô đơn và khủng khoảng có nghĩa là ta đang tập để đón nhận chúng. Cô đơn không phải là cái tội. Chẳng ai nỡ xa lánh, chối bỏ hay loại trừ những người rơi vào những khoảnh khắc cô đơn, nhưng theo lẽ thường tình thì người ta thích tìm đến gặp gỡ, chia sẻ và cảm thông với những ai đang lạc lõng bơ vơ giữa biển đời dông bão. Thực tại cô đơn chỉ đáng sợ và nguy hiểm với những ai ở mãi trong tình trạng buồn muôn thủa, ích kỷ bởi lối sống khép kín, hẹp hòi dẫn đến tình trạng sầu đau tuyệt vọng mà thôi.
Những đêm mưa rả rích, ngoài trời khuya hoang lạnh, bên ánh đèn lờ mờ ta say sưa miệt mài với những trang sách “đi tìm ý nghĩa cuộc đời”, lòng thấy ấm áp, bình an vì chỉ còn lại một mình ta với Chúa. Cô đơn đến rồi lại đi khi đời tu có Chúa.
Lạy Chúa, nếu có lúc nào đó con rơi vào cô đơn, xin cho con đừng trốn chạy cô đơn nhưng cho con can đảm để đối diện với nó và đừng sợ cô đơn vì có Chúa hằng ở bên con, yêu thương con hơn tất cả mọi sự, như thế là đủ cho con rồi.
Chúa đã hạ mình làm người nên Chúa hiểu gánh nặng cô đơn của phận người, khi cô đơn xin cho con nhớ đến hình ảnh Chúa một mình lặng lẽ trong vườn Giêt-sê-ma-ni đến nỗi“mồ hôi Ngài như những giọt máu rơi xuống đất” để con biết yêu mến đời sống cầu nguyện, trở về với thinh lặng nội tâm, sống thân mật với Ngài hơn.
Khi gặp khủng hoảng đau thương, hiểu lầm và bị bỏ rơi, bị phản bội, xin cho con nhìn lên Chúa đang quằn quại đớn đau trên thập giá vì tội lỗi nhân loại.
          Lạy Chúa có thể mai ngày con lại đối diện với cô đơn, xin cho con khiêm tốn để nhận ra mình yếu đuối bất toàn mà cậy trông vào ơn thánh Chúa. Amen.

Bài một người đã gởi.
http://www.gplongxuyen.org

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN-A

 Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con loại bỏ mọi thứ “sỏi đá gai góc” ra khỏi tâm hồn, tích cực vun xới cho hạt giống Tin Mừng đâm chồi và tăng trưởng để làm cho cuộc đời nở hoa.
*******
Vào chiều 29 tết cách đây khá lâu, một phụ nữ không quen biết từ một thôn kế cận gọi điện thoại gặp tôi và tuôn ra hàng loạt những lời kết án gay gắt. Bà tố cáo một số thiếu niên trong giáo xứ tôi có hành vi côn đồ, ném đá vào khu xóm của bà ở làng lân cận. Bà quy trách nhiệm cho tôi về những hành vi quậy phá đó, rồi bà cho rằng đạo công giáo là xấu vì có một số người công giáo thuộc hạng côn đồ.
Sau khi nghe bà hằn học tuôn ra những lời trách móc, tôi khẩn khoản yêu cầu bà nhẫn nại nghe tôi thuật lại sơ lược dụ ngôn Tin Mừng về người gieo giống mà chúng ta vừa nghe hôm nay: “Có người nông dân mang thóc đi gieo trên đồng ruộng của mình. “Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay nhưng vì đất không sâu nên khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục” (Mt 13, 4-8)
Rồi tôi kết luận: Những hạt thóc trong dụ ngôn trên đây tượng trưng cho những lời giáo huấn của Chúa Giêsu và Hội Thánh. Cho dù giáo huấn của Thiên Chúa và Giáo Hội là những hạt giống rất tốt, nhưng nếu những hạt giống ấy bị rơi xuống vệ đường, rơi trên sỏi đá hay rơi vào bụi gai, tượng trưng cho người tâm hồn chai đá, cứng cõi, vô tâm… thì không thể bén rễ được nên phải chết khô chết héo; còn những hạt rơi vào đất tốt, tượng trưng cho những tâm hồn biết phục thiện, thì sẽ vươn lên mạnh mẽ và sẽ trổ hoa kết hạt dồi dào.
Những hạt lúa rơi vào nơi gai góc sỏi đá không tăng trưởng được không phải vì do hạt giống xấu nhưng do đất có vấn đề. Tương tự như thế, một số kitô hữu đón nhận Lời Chúa mà không được biến đổi thành người tốt lành thánh thiện, không phải vì giáo lý của Chúa và Hội Thánh không tốt, nhưng vì nhiều thứ “gai góc sỏi đá” trong lòng họ làm cho Lời Chúa chết ngạt đi.
Sa mạc nở hoa
Lãnh thổ Do-thái với diện tích 22.000 cây số vuông mà chỉ có một phần ba đất đai ở miền Galilê là có thể trồng trọt được, phần còn lại gồm sa mạc và đồi núi cằn cỗi, đặc biệt sa mạc Negev ở miền nam, chiếm hơn một nửa diện tích đất nước, là một trong những vùng khô cằn với khí hậu cực kỳ khắc nghiệt. Vậy mà hiện nay, người Do-thái đã biến những vùng đất chết nầy trở thành những vườn hoa, vườn rau và vườn cây ăn trái nổi tiếng; nhờ đó Do-thái được xếp vào một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu hoa quả hàng đầu thế giới. Thành quả nầy khiến thế giới hết sức ngưỡng mộ và xem đây là một phép mầu.
Samạc Negev khô cằn sỏi đá với khí hậu khắc nghiệt đến thế mà vẫn được cải tạo thành vườn cây ăn trái tốt tươi, trù phú… không lẽ tâm hồn chúng ta vẫn cứ ở mãi trong tình trạng khô khan cằn cỗi và suốt đời chẳng sinh được chút hoa trái nào hay sao!
Lạy Chúa Giêsu,
Xin cho chúng con biết nhìn vào công cuộc khắc phục thiên nhiên khắc nghiệt để làm cho sa mạc nở hoa của người Do-thái, để quyết tâm cải tạo lại đời mình. Xin giúp chúng con loại bỏ mọi thứ “sỏi đá gai góc” ra khỏi tâm hồn, tích cực vun xới cho hạt giống Tin Mừng đâm chồi và tăng trưởng để làm cho cuộc đời nở hoa, tức làm cho mình trở thành người có văn hoá, có đạo đức, có phẩm chất cao đẹp, nhờ đó Hội Thánh Chúa cũng được toả ngát hương thơm thánh thiện khắp nơi.
Lm. Ignatiô Trần Ngà

ĐỨC TIN, DANH VÀ THỰC


Việt Nam, nơi được nhiều người trên thế giới biết đến là người dân có lòng sùng đạo rất đặc biệt. Không phải là tự hào, nhưng có lẽ người Việt sùng đạo thật. Có lẽ điều ấy đúng cho các bậc tiền bối hơn là cho thời hiện tại.

Truyện vui kể rằng, có hai anh chàng đi đường xa xôi. Trời đã tối mà vẫn chưa đến nơi, cũng chẳng có nhà trọ, nên hai anh bèn tạm ngủ ở ngôi nhà hoang bên đường. Sợ hãi trong cảnh đêm tối vắng lặng, anh này mượn thánh giá của anh kia để đeo vào cổ. Anh kia đồng ý. Thế là hai anh chìm vào giấc ngủ. Đêm đến, ma quỷ mò tới gần hai người. Nó quan sát kỹ lưỡng và buột miệng: tao có thể làm gì đây, vì ở đây có hai tên, một tên có thánh giá bên ngoài nhưng không có đức tin bên trong, còn một tên có đức tin bên trong nhưng không có thánh giá bên ngoài. Đúng là có ngoài mà không có trong, có trong mà không có ngoài.

Không chỉ thời Giáo Hội tiên khởi mà còn ở khắp nơi trên thế giới cho tới ngày nay, biết bao Kitô hữu bị bách hại bị giết hại chỉ vì niềm tin đặt nơi Chúa Giêsu, chỉ vì ước mơ phục vụ con người trong phẩm giá làm người và làm con của Cha trên trời. Có một số vị nổi bật được tuyên thánh, nhưng thực tế là hàng hàng lớp lớp người. Có biết bao con người lành thánh đã ngã xuống và vô danh trước mặt thế gian, nhưng Thiên Chúa biết rõ họ, và những người thân cận hiểu rõ và ghi tâm khắc cốt hình ảnh và đời sống của họ.
Thử đảo chiều câu chuyện một chút, trong thời cấm cách ấy, các Kitô hữu chỉ là một thiểu số, nhưng phải nói là một thiểu số vô cùng chất lượng. Cũng có bao người âm thầm tin theo Chúa nhưng không dám tuyên xưng công khai vì nhiều lý do. Phần đông người dân có lẽ không hiểu được, tại sao người ta lại phải sống chết vì đức tin và vì tình yêu mến như thế. Và thế đó, khi xét danh và thực trong câu chuyện đức tin, không hề dễ hiểu, không dễ đo lường kiểu thống kê.

Trong thời nay, tại các nước Âu Mỹ, nơi đại diện cho văn minh tự do phát triển và tiến bộ, thì cũng có những điều không dễ hiểu. Ở những nơi ấy, hầu như ai sinh ra cũng được rửa tội, nghĩa là có đạo, nghĩa là thuộc về một Giáo Hội nào đó, nếu không phải là Công Giáo, thì sẽ là Chính Thống, Tin Lành hay Anh Giáo v.v. Dù là các giáo phái khác nhau, nhưng nói chung đều tin theo Chúa Giêsu. Như thế, đối với những con người nơi đây, dường như đức tin là điều gì đó tự nhiên đi vào đời sống văn hóa và gần như dần dần trở thành thủ tục đương nhiên.
Thế nên, mới có chuyện xác định tỷ lệ người thực hành đạo, ví như xưng tội, rước lễ, tham dự thánh lễ, cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, tham gia các hoạt động bác ái của Giáo Hội… Có quốc gia, tỷ lệ thực hành đạo là 50-50. Có quốc gia, tỷ lệ cao hơn, tức là 70% người có đạo thực hành đạo. Có nơi thấp hơn, tức là 30%, thậm chí 20%. Người ta gọi hiện tượng này là sự tục hóa. Có người nói mạnh mẽ hơn nữa, đó là vô thần thực hành. Có vị giáo sư Công giáo của trường đại học Công giáo nọ, đã hết sức ngạc nhiên khi biết một sinh viên Công giáo kia chưa bao giờ đọc một trang Kinh Thánh. Thế mới biết, đức tin là vừa ơn ban vừa là mở lòng kiếm tìm, chứ chẳng phải tự nhiên mà có.

Trở lại Việt Nam, nơi được nhiều người trên thế giới biết đến là người dân có lòng sùng đạo rất đặc biệt. Không phải là tự hào, nhưng có lẽ người Việt sùng đạo thật. Có lẽ điều ấy đúng cho các bậc tiền bối hơn là cho thời hiện tại. Giữa bao nhiêu sóng gió, giữa bao nhiêu ngăn trở, vậy mà các ngài vẫn kiên vững với gương của các thánh tử đạo, với gương kiên cường sống đạo của các mục tử và của mọi người giáo hữu bổn đạo. Giáo hội đã mở rộng và phát triển từ con số không như thế.

Không phải vì bị bách hại mà Giáo Hội phát triển, nhưng Giáo Hội phát triển vì có những con người dám sống chết để theo Chúa Giêsu, Đấng là Con Một Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa, và là Đấng Cứu Độ trần gian. Càng bị bách hại, nhân cách sống và sức sống của Thiên Chúa nơi người Kitô hữu càng tỏa sáng. Khi sống, họ sống như những con người tuyệt vời giữa mọi người để phục vụ mọi người thuộc mọi hoàn cảnh cuộc sống. Và nếu bị bắt bớ, bị tra tấn, bị giết, họ vẫn kiên vững tới cùng với Đấng là sức mạnh của họ.
Có người thời nay nghĩ quá nặng về vật chất tiền bạc và các công trình này nọ, mà quên đi sức mạnh tinh tuyền của đức tin Kitô. Có người thời nay bị loại ý thức hệ phân loại con người theo giai cấp, mà quên đi sự bình đẳng tuyệt vời trong đức tin. Giữa các thánh tử đạo nào có chi phân biệt. Có thánh là Giám Mục cao sang, có thánh là người giáo dân bình thường, có thánh là vị quan quyền thế, có thánh là người lính quèn, có thánh là người doanh nhân giàu có, có thánh là người bần nông, có thánh là bậc tiến sĩ uyên bác, có thánh là người đơn sơ ít học, các thánh có cả Tây lẫn Ta…

Bạn thân mến! Hôm nay, chúng ta thử đọc lại những trang Tin Mừng. Bạn có thể chọn 1 trong 4 sách Tin Mừng để đọc từ đầu đến cuối. Bạn có thể đọc tiếp sách Công vụ Tông Đồ. Bạn có thể đọc một chút về lịch sử Giáo hội của Việt Nam thời kỳ đầu. Đọc và nghiền ngẫm một chút, để tự hỏi chính mình xem: thực sự đức tin là gì, thực sự Chúa Giêsu là ai, và hiện tại lúc này đây, cái danh và cái thực của đức tin trong xứ đạo tôi, trong gia đình tôi, và trong bản thân tôi là gì, tại sao và tại sao không? Cám ơn các bạn.
Tứ Quyết SJ


HÃY CẦU NGUYỆN

Xem những tin tức thời sự trên truyền hình, chúng ta thường thấy tại một số nước Âu, Mỹ, khi có những biến cố xảy ra như tai nạn, hỏa hoạn, khủng bố, bắt cóc, người dân thường diễn tả sự chia sẻ cảm thông qua những khẩu hiệu hoặc băng-rôn với dòng chữ: “Hãy cầu nguyện cho…- Pray for…”. Có thể nhiều người trong số này chưa có tâm tình cầu nguyện đích thực, nhưng một điều chắc chắn là, ngoài việc mong đợi những trợ giúp trần thế, họ tin vào ơn phù trợ của Đấng quyền năng cao cả là Thiên Chúa. Họ cũng xác tín rằng, nguồn trợ lực thiêng liêng rất cần thiết cho những nạn nhân và gia đình của họ. Lời cầu nguyện vừa nhằm mục đích đem lại sự nâng đỡ cho những người bị nạn, vừa giúp những người có liên quan bao dung quảng đại, tránh giải quyết xung đột bằng báo oán hận thù.
“Hãy cầu nguyện”, lời khuyên xem ra nhàm chán và vô nghĩa đối với một số người, nhưng lại vô cùng quan trọng với người tín hữu. Bởi lẽ cầu nguyện là hơi thở của tâm hồn. Cầu nguyện giúp ta lắng đọng nội tâm, trở về với Chúa và với chính mình. Đã có biết bao châm ngôn về lời cầu nguyện. Những châm ngôn này là kết quả đúc kết từ cuộc sống thực tế, như những chứng từ hùng hồn về hiệu quả của lời cầu nguyện và về ơn phù trợ của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn lắng nghe những tâm tư ước nguyện của con người. Ngài đồng hành với họ trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Lời cầu nguyện chứng tỏ ta tin vào sự hiện diện quan phòng đầy yêu thương ấy.
“Hãy cầu nguyện”, vì cầu nguyện làm nên ý nghĩa của đời sống Kitô hữu. Cầu nguyện là minh chứng của mối tương giao giữa ta với Chúa. Không cầu nguyện, mối tương giao ấy bị gián đoạn, và vì thế đời sống đức tin trở thành vô nghĩa. Đời sống tín hữu không cầu nguyện sẽ như một thứ hàng giả hiệu, chỉ có vỏ bọc bề ngoài mà không có chất lượng.
“Hãy cầu nguyện”, vì lời cầu nguyện soi sáng cho chúng ta cách đối nhân xử thế. Trước một tình huống cam go phức tạp, lời cầu nguyện sẽ giúp ta tìm được ơn khôn ngoan, sự sáng suốt và quân bình. Có những người vốn hiền lành, bỗng dưng trở thành sát nhân, chỉ vì một chút nông nổi vội vàng. Cầu nguyện đem lại cho chúng ta sự bình tâm, tự chủ, nhờ đó cách ứng xử của ta sẽ công minh và hiệu quả hơn.
“Hãy cầu nguyện” để đem lại thế quân bình trong cuộc sống. Cuộc sống hằng ngày cần có “tĩnh” và “động”. Hai trạng thái này cần phải được chú trọng ngang nhau. Những lúc “tĩnh”, chúng ta hồi tâm để tâm sự với Chúa, cảm ơn Ngài về những điều thiện hảo Ngài ban tặng. Đó cũng là lúc ta cảm nhận hạnh phúc đang có xung quanh, để trân trọng những giá trị của cuộc sống. Những ai chỉ có những hoạt động ồn ào bên ngoài, sẽ tạo nên hạnh phúc giả tạo nhất thời và chỉ chạy theo những giá trị chóng qua.
“Hãy cầu nguyện” để hàn gắn những rạn nứt và đổ vỡ trong mối tương giao bằng hữu và gia đình. Tâm lý tự nhiên làm cho con người dễ coi mình là trung tâm vũ trụ, độc đoán coi mình là chuẩn mực cho người khác. Được soi sáng bởi Lời Chúa, những phút giây chìm đắm trong suy tư cầu nguyện sẽ giúp chúng ta khiêm tốn hơn. Khiêm tốn để nhận ra điều tốt nơi những thành viên trong cùng một gia đình. Khiêm tốn cũng giúp chúng ta nhận ra những bất toàn trong cách ứng xử, để rồi chân thành hòa giải và nối lại mối thân tình với những người xung quanh.
“Hãy cầu nguyện” khi gặp niềm vui trong cuộc sống, để khẳng định rằng đó là những ơn huệ Chúa ban. Thông thường, người ta chạy đến với Chúa, với Đức Mẹ và các thánh khi gặp gian nan. Ít có người nghĩ đến việc cảm tạ Chúa khi gặp những điều tốt lành. Câu chuyện mười người phong cùi trong Phúc âm đã phản ánh điều đó. Sau khi được chữa lành, chỉ có một người trở lại tạ ơn Chúa, còn chín người kia không trở lại (x. Lc 17,11-19). Tâm tình tạ ơn khi gặp điều tốt lành, vừa là bổn phận theo lẽ công bằng, vừa là lý do để chúng ta tiếp tục xin Chúa ban ơn trợ giúp.
“Hãy cầu nguyện” để bền chí trong lý tưởng. Kinh nghiệm cho thấy, một số linh mục hoặc tu sĩ bất trung với lý tưởng tu trì, đều khởi đi bằng lối sống coi nhẹ cầu nguyện, sao lãng đời sống thiêng liêng. Thật vậy, thiếu lời cầu nguyện, đời sống linh mục sẽ trở nên vô nghĩa. Họ sẽ bị cám dỗ so bì với những bậc sống ngoài đời, và cảm thấy theo Chúa gây nên những thiệt thòi, mất mát. Thiếu đời sống cầu nguyện, đời tu trở nên đơn điệu, nhàm chán nặng nề. Họ làm việc bổn phận như một cái máy, thiếu niềm vui và ngại dấn thân phục vụ. Lời cầu nguyện làm nên sự phong phú đời tu, đem lại cho tu sĩ niềm vui thiêng liêng, trung thành với lý tưởng.
“Hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Lc 22,46). Chúa Giêsu đã dặn dò các môn đệ, vì Người biết rõ những khó khăn nguy hiểm đang rình rập xung quanh. Chính Chúa Giêsu cũng đã chịu cám dỗ trong hoang địa. Người đã dùng lời Chúa và tâm tình cầu nguyện để chiến thắng mưu thâm chước độc của ma quỷ. Trong Vườn Cây Dầu, Chúa cũng đã phải trải qua thử thách đầu hàng và bỏ cuộc. Để vượt lên những thử thách đó, Chúa Giêsu đã đặt ý Chúa Cha như một mối ưu tiên hàng đầu. Người đã cầu nguyện “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha”. Lời cầu nguyện đã ban cho Người sức mạnh để đi đến cùng của sứ mạng thiên sai.
Đâu là cách thức cầu nguyện đẹp lòng Chúa? Chính Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng và hướng dẫn chúng ta trong nội dung và cách thức cầu nguyện (x. Rm 8,14-17). Lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa luôn phải là tâm tình ca tụng, tạ ơn trước hết, rồi xin ơn lành hồn xác. Lời cầu nguyện cũng phải hướng về tha nhân với tâm tình bác ái hiền hòa để cộng tác xây dựng Nước Chúa nơi trần gian.
Nhiều người viện cớ cuộc sống bận rộn không có thời gian cầu nguyện. Lý do là vì họ chưa có một khái niệm đầy đủ và chính xác về lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện là tâm tình của mỗi người chúng ta đối với Chúa. Vì thế, tâm tình này có thể được thực hiện bất cứ nơi đâu, bất kỳ lúc nào và hoàn cảnh nào. Chúa hiện diện mọi nơi. Ngài luôn lắng tai nghe lời cầu nguyện của chúng ta. Cầu nguyện không chỉ dừng lại ở những công thức mà chúng ta quen gọi là các kinh đọc trong sách cầu nguyện, mà còn là những tâm tình tự phát bộc bạch nỗi niềm trước nhan Chúa, như tâm tình của người con, thỏ thẻ với cha mẹ những khi vui buồn.
“Hãy cầu nguyện”. Ước chi đó là tâm tình của mỗi chúng ta khi gặp gian nan trong cuộc đời. Đó là cách thức thể hiện niềm tin nơi Thượng Đế. Đó cũng là niềm ước mong thế giới này sẽ tốt đẹp và nhân ái hơn, bạo lực sẽ bị loại trừ và tình tương thân tương ái sẽ chan hòa cuộc sống.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên


CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN-A

Chúng ta thường tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, phép tắc vô cùng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, ta thường nghĩ đến một Thiên Chúa oai nghi bệ vệ, cao sang quyền thế, xa cách. Ta không nghĩ hay không dám nghĩ rằng Thiên Chúa thật rất khiêm nhường. Thực sự Thiên Chúa rất khiêm nhường.
Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa ẩn mình trong vô hình. Ở đời, một người quyền thế chiếm rất nhiều không gian của người khác. Người quyền thế ở nhà lớn, ngồi ghế rộng. Sự hiện diện của họ khiến mọi người khép nép, nói năng mất tự nhiên, đi đứng phải nhìn trước nhìn sau. Nếu bây giờ Thiên Chúa hiện hình đứng giữa chúng ta. Chắc hẳn chúng ta chẳng thể ngồi thoải mái như bây giờ. Trái lại chúng ta sẽ quì sụp xuống, gục đầu, đấm ngực ăn năn. Nhưng Thiên Chúa đã che giấu dung nhan. Người ẩn mình trong vô hình để cho ta được tự do. Người nhường không gian cho con người. Người tự trở nên một Đấng nghèo hèn, bé nhỏ đến độ bị người đời quên lãng.
Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa im lặng. Trong xã hội, người uy quyền thường nói nhiều. Người nhỏ phải nghe người lớn, người nhỏ có muốn nói cũng bị tiếng người lớn át đi. Thiên Chúa đã tự trở nên bé nhỏ. Người im lặng nhường lời cho con người. Người lắng nghe con người cả khi họ chỉ trích, chống đối, lên án Người. Người trở nên một Đấng bé nhỏ nghèo hèn, khép nép, im lặng trong thế giới ồn ào của loài người.
Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận con người. Con người chẳng là gì mà Chúa vẫn thương. Người còn cúi xuống sâu hơn nữa trước những kẻ tội lỗi để nâng họ lên. Khi người ta cúi xuống trước một kẻ cao trọng, sự khiêm nhường ấy đáng nghi ngờ. Nhưng khi người ta cúi xuống trước một thân phận tội lỗi, nghèo hèn, sự khiêm nhường ấy rất chân thực.
Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Ai chống lại quyền lực, quyền lực sẽ nghiền nát người ấy. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để chịu thua, để yêu thương, để tha thứ. Sức mạnh không ở nơi quyền lực. Quyền lực bộc phát là quyền lực không tự kiềm chế được. Trái lại, khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ.
Thiên Chúa vô hình. Có lẽ ta sẽ khó mà hiểu biết sự khiêm nhường của Thiên Chúa, nếu ta không nhìn thấy sự khiêm nhường của Chúa Giêsu.
Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Ngài không ngừng đi xuống. Từ trời cao Người đã hạ mình xuống thế. Từ thân phận là Thiên Chúa Người đã hạ mình xuống làm một người bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tội đồ. Là Đấng hằng sống, Người đã tự nguyện chết đi. Suốt cuộc đời, Người đã không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Và một cử chỉ không thể nào quên là trong bữa tiệc ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã hạ mình xuống tận cùng, không còn có thể xuống hơn được nữa.
Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống, nên những ai kiêu căng tìm nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường nhỏ bé mới gặp được Người.
Hôm nay Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Hãy ghi danh vào học trường Chúa Giêsu. Hãy học bài học khiêm nhường. Hãy học bài học Giêsu. Hãy học với Thầy Giêsu. Hãy bước theo Thầy Giêsu xuống những bậc thang khiêm nhường thẳm sâu. Ở bậc thang cuối cùng, Thiên Chúa đang chờ đợi ta, ta sẽ gặp được Người. Ta sẽ kết hiệp với Người. Ta sẽ rũ sạch mọi vất vả lo âu. Ta sẽ được bình an.
Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin uốn lòng con nên giống như trái tim Chúa. Amen.