CHÚA NHẬT PHỤC SINH-A

Tai họa ngày 11 tháng 09 năm 2001 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc, hai tòa tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng. Ngôi mộ gieo tang thương. Ngôi mộ gieo kinh hoàng. Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.
Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống. Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố. Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.
Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá. Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác… Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống. Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hy vọng.
Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết chỗi dậy bước ra. Việc Chúa Giêsu mở cửa mộ cho Lagiarô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.
Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa sự sống. Thông thường, ngôi mộ là vương quốc của tử thần. Cửa mộ là cửa mở vào thế giới chết chóc. Ai đã vào đó chẳng còn hy vọng thoát ra. Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã mở cửa mộ để Lagiarô không phải bước vào sự chết nhưng bước vào sự sống. Khi mở cửa mộ, Người phá tan sào huyệt Thần Chết. Khi tháo những dải băng liệm cuốn quanh thân thể Lagiarô, Người giải phóng ông khỏi dây trói ràng buộc của tử thần.
Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa niềm tin. Trước đó, niềm tin của Mácta chỉ là một niềm tin mơ hồ, chung chung của đa số người Do thái thời ấy. Nhưng sau khi thấy Lagiarô sống lại, niềm tin của bà trở nên cụ thể, sống động và vững vàng. Trước đó, nhiều người Do thái chưa tin vào Chúa Giêsu. Nhưng sau khi được chứng kiến Lagiarô từ cõi chết sống lại, họ không thể nào không tin. Tảng đá lấp cửa mồ tung ra cũng làm bật tung tảng đá nghi ngờ che lấp trái tim, đưa họ tới tin nhận Chúa là Thiên Chúa.
Khi mở cửa mộ, Người mở ra cánh cửa niềm vui. Chết chóc gieo tang tóc u buồn. Ngôi mộ bao giờ cũng gợi lên nỗi buồn. Buồn ly biệt. Buồn mất mát. Buồn thất bại. Cái buồn vốn hay lây. Nước mắt người thân dễ làm cay mắt ta. Nên Chúa Giêsu không ngăn được dòng lệ. Nhưng khi Lagiarô bước ra, cả một trời vui. Đám tang bỗng biến thành đám hội. Lời chia buồn đổi thành lời chúc mừng. Thiên Chúa đã biến tang tóc thành niềm vui. Niềm vui ấy trọn vẹn.
Khi mở cửa mộ, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng. Thiên Chúa đến biến đổi số phận con người. Con người không còn bị giam hãm trong thân phận hay chết, nhưng được thênh thang tự do trong cõi sống. Con người không sinh ra để chết đi nhưng để sống, sống mãi, vì Chúa là “sự sống”, “ai tin sẽ sống đời đời”. Con người không sinh ra để tàn lụi, nhưng để triển nở đến vô biên.
Trong mỗi người chúng ta có nhiều nấm mộ. Chúng ta bị giam hãm trong những nấm mộ tội lỗi, gian tham, ích kỷ, bất công, đam mê, ghen ghét hận thù, nghèo đói, thất học… Có những nấm mộ kiên cố, tự sức mình không thể phá nổi. Ta hãy xin Chúa đến mở những cửa mộ, lăn những tảng đá đè nặng đời ta, để ta được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng. Đồng thời, ta cũng phải tiếp tay với Chúa, phá đi những nấm mộ vây bọc anh chị em chúng ta, để mọi người được sống và sống dồi dào như lòng Chúa mong ước, như định mệnh Chúa dành cho ta, những người con cái Chúa.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt.

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

Bóng tối sẽ mãi là bóng tối và cũng chẳng biết mình là bóng tối, nếu không có ánh sáng. Điều tốt lành cũng thế, cứ tự động xạ liên hương...

Nhiều điều chưa cần nói, nhưng nó cứ từ từ lộ ra. Tục ngữ có câu: cái kim trong bọc sẽ có ngày lòi ra. Hoặc có lần Thầy Giêsu nói: những gì anh em rỉ tai ban đêm, sẽ được nói trên mái nhà. Bóng tối sẽ mãi là bóng tối và cũng chẳng biết mình là bóng tối, nếu không có ánh sáng. Điều tốt lành cũng thế, cứ tự động xạ liên hương, ví như chiếc đèn không để gầm giường mà được đặt trên giá để soi sáng cho mọi người. Ở đâu, đi tới đâu, Thầy Giêsu cũng trở thành ánh sáng phá tan bóng tối. Có những bóng tối được chuyển hóa, có những bóng tối chạy xa ánh sáng.
Câu chuyện về tiền bạc
Trong bài giảng trên núi, Thầy Giêsu nói: phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó. Thầy Giêsu cũng nói: phúc cho anh em là những người nghèo khó. Những điều này không hề dễ hiểu đối với nhiều người, nhưng chắc hẳn đã có nhiều người hiểu.
Anh thanh niên giàu có muốn hưởng sự sống đời đời, nhưng khi được Thầy Giêsu mời gọi bán hết tài sản để cho người nghèo rồi đến theo Chúa, thì anh buồn rầu bỏ đi. Vì tiền bạc đối với anh còn quá quan trọng. Anh không phải là người có tinh thần nghèo khó, vì với anh tiền bạc còn quá lớn.
Ông Nicôđemô là một bậc thầy trong dân, thế mà ông vẫn âm thầm học hỏi Thầy Giêsu. Vì sợ người Dothái nên ông gặp Chúa vào ban đêm. Người uy thế như ông mà khiêm tốn, đó là người có tâm hồn nghèo khó. Hoặc ông Giôxép Arimathe. Là người giàu có quyền thế và lương thiện công chính, ông can đảm xin Philato để hạ xác Chúa. Ông quả là người có tâm hồn nghèo khó.
Người nghèo mà sống hiền lành thẳng thắn thì là người có tâm hồn nghèo khó. Nhưng nếu người nghèo mà sống ghen ghét ham hố, thì chẳng có tâm hồn nghèo khó. Người nghèo được Chúa chúc phúc, chính là người giống như bà góa nghèo bỏ tiền dâng cúng vào Đền Thờ. Bà đã hiến dâng tất cả những gì bà có.
Truyện kể rằng, có doanh nhân giàu có nọ, đến gặp một nhà truyền giáo để trợ cấp cho công cuộc truyền giáo. Nhưng đi theo ông doanh nhân ấy, có thêm một nhiếp ảnh gia để chụp hình và một nhà báo để đưa tin. Thế nhưng, kỳ thực số tiền trong phong bì mà ông doanh nhân tặng chỉ có 10 đôla. Đúng thật là hình thức!
Ở một tỉnh kia, trong một huyện nọ không đến nỗi nghèo lắm. Ngày kia, huyện mở ra một ngày quan tâm người nghèo. Có một số người nghèo được chọn mời tham dự đại hội trên huyện. Khi ngày đại hội kết thúc, mỗi vị đại biểu quan chức được tặng một chiếc phong bì, bên trong có bao nhiêu tiền thì không biết. Còn mỗi trẻ em nghèo được tặng một chiếc áo. Về mở ra mới biết, đó là chiếc áo sơ mi cũ và hỏng hầu như không sử dụng được nữa. Đúng thật là giả dối!
Lại có một truyện khác xảy ra khi các nữ tu mang quà đi giúp người nghèo tại những vùng khó khăn. Các sơ bị chính quyền địa phương chặn lại. Họ ra điều kiện rằng: hoặc là các sơ phải rời khỏi địa phương và không được đến với người nghèo, hoặc là các sơ phải đưa quà cho họ và họ sẽ chuyển đến cho người dân, hoặc là các sơ có thể phát quà cho dân nhưng phải nói đây là quà của chính quyền trước sự hiện diện của chính quyền. Nghĩ đi nghĩ lại, các sơ chọn phương án cuối, vì dầu sao, quà cứu trợ đến được tay người dân là mừng rồi. Còn quà đó của ai thì Chúa sẽ biết.
Cũng có chuyện khác, đã xảy ra ngay từ thời Chúa Giêsu và các môn đệ. Có một chị phụ nữ tội lỗi sám hối nọ, chị mua dầu thơm để xức lên Chúa. Ông Giuđa thấy thế, cho rằng quả là phí phạm vì thà để số tiền đó lo cho người nghèo thì hơn. Nghe ra có vẻ đúng, nhưng hãy nghe Thánh Gioan Tông đồ nói về ông Giuđa rằng: ông ấy giả hình vì kỳ thực ông ta thường xuyên bớt xén tiền bạc mà người ta dâng cúng cho cả nhóm, để dùng cho bản thân.
Thế đó, và cũng chính từ thói gian dối và ham tiền ấy, đã dẫn ông đến chỗ bị sa vào cơn cám dỗ nhận tiền để bán Thầy, để tách khỏi nhóm anh em, để đi vào trong bóng tối, đi vào đêm đen.
Câu chuyện về quyền lực
Nói đến tiền bạc chẳng thể quên quyền lực. Trong những năm gần đây, thường thì các Đức Giáo Hoàng ví như Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đều được bầu chọn là một trong những người quyền lực nhất thế giới. Quyền lực ở đây cũng có nghĩa là có ảnh hưởng trên người khác. Đương nhiên, khác với các nhà chính trị hoặc các tỷ phú, Đức Giáo Hoàng có quyền là để phục vụ và để ảnh hưởng tốt đến mọi người, để trở thành tiếng nói của lương tâm nhân loại.
Tuy nhiên, vị Giáo Hoàng đầu tiên là Thánh Phêrô không hề dễ hiểu được như thế. Trong bữa tiệc ly, khi Thầy Giêsu quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, ông Phêrô cản Thầy. Vì ông không thể chấp nhận được một bậc Thầy mà phải làm như thế cho các đồ đệ. Ông phản đối, vì nếu Thầy còn làm như thế, thì ông, ông chỉ là trưởng nhóm, có lẽ ông còn phải làm hơn thế. Chẳng lẽ ông cũng phải quỳ xuống mà rửa chân cho anh em sao! Không thể chấp nhận được.
Dù không hiểu, dù có nhiều yếu đuối và thậm chí là tội chối Chúa, nhưng ông là người ngay thẳng và tốt lành, nên ông dần dần hiểu. Điều quan trọng là ông hiểu được tình yêu mến vô điều kiện mà Thầy dành cho ông. Ông cũng hiểu được lòng tín nhiệm vô điều kiện mà Thầy đặt nơi ông. Để ông có thể đứng dậy sau khi té ngã, để sau khi đứng dậy, ông có thể trở thành điểm tựa nâng đỡ anh em, để ông có thể trở thành người làm đầu và là người phục vụ mọi người.
Lạy Chúa, Chúa vốn là Thiên Chúa quyền uy mà tự nguyện làm người và sống cùng chúng con, xin cho chúng con biết tự nguyện trở nên nghèo khó và bé nhỏ, để dùng tất cả những gì là của cải danh dự và quyền lực, chỉ là để phục vụ mà thôi, hầu sinh ích lợi cho con người, nhất là những ai bé nhỏ nghèo hèn. Amen.
Tứ Quyết SJ(dongten.net)

TỪ TRÊN THÁNH GIÁ NHÌN XUỐNG


Từ trên thánh giá nhín sang bên phải và bên trái, Chúa Giêsu thấy hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh như Người.

Đó là những kẻ phạm pháp thực sự và xứng đáng bị trừng phạt. Chính một trong hai đã nhìn nhận: “Chúng ta phải chịu thế này là đáng tội”.
Họ cũng như Chúa Giêsu phải vác thập giá của mình leo lên đỉnh đồi Can-vê; cũng chịu đóng đinh và giờ đây cũng đang hấp hối.
Có lẽ họ cũng có mặt trước dinh Philatô khi Chúa Giêsu bị xét xử, để chờ khi Philatô kết án xong thì cùng với Người được dẫn đi đóng đinh. Trên đường vác thập giá, có lẽ họ cũng đã nghe những lời bình phẩm về Chúa Giêsu được thốt ra từ miệng những người có cảm tình với Người cũng như những kẻ thù ghét Người. Trước khi họ bị bắt, có lẽ họ cũng có lần gặp mặt Người. Tóm lại họ biết Chúa Giêsu là một nhân vật đặc biệt và đa số dân chúng coi Người là Đấng Thiên Chúa sai đến.
Bây giờ trong giây phút cuối đời họ lại được gặp Người, ở ngay bên cạnh Người. Đây là một cuộc gặp gỡ có tính quyết định sống còn. Nhưng thái độ hai người này rất khác nhau. Một người thì sừng sổ hung dữ. Anh xỉa xói Chúa Giêsu: “Ông có giỏi thì cứu lấy ông và cứu chúng tôi luôn đi”. Anh này không chấp nhận số phận của mình. Anh chửi rủa lung tung: chửi rủa những đau đớn của mình, chửi rủa các quan tòa, chửi rủa đám lý hình, chửi rủa dân chúng đứng nhìn… Anh ngụp lặn trong cảm xúc oán hận và trong ước muốn báo thù…. Anh khép lòng trong bóng đêm tăm tối…
Người kia thì trái lại. Trong những giờ phút cuối đời, anh cố gắng làm hồi sinh những tâm tình tốt đẹp. Anh tự nhủ: “Đây không phải là lúc giận trách Thiên Chúa”. Anh nói với người kia: “Ít ra chúng ta cũng phải sợ bị Thiên Chúa xét xử chứ! Chúng ta phải chịu thế này là đáng tội rồi. Con ông Giêsu này, ông không hề làm điều gì sai trái”. Rồi anh quay sang Chúa Giêsu nói: “Thưa Ngài, khi Ngài về Nước Ngài, xin hãy nhớ đến chúng tôi”. Anh đã nói “Nước Ngài” bởi vì nhiều lần anh nghe Chúa Giêsu giảng về Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu thấy thiện ý của anh nên Người đáp: “Ngay hôm nay anh được ở với tôi trên Thiên Đàng”.
Từ trên thánh giá nhìn xuống Chúa Giêsu cũng thấy tôi.
1/ Phải chăng đôi khi tôi giận trách Chúa vì tôi gặp thất bại trong việc học hành, trong nghề nghiệp… vì tôi không đạt được điều mong muốn, vì tôi gặp điều trái ý… thay vì tôi phải xét mình kỹ xem những điều ấy có phải tại tôi không: tại tôi lười biếng, tại tôi cẩu thả, tại tôi gây thù chuốc oán trước với người ta…
2/ Khi gặp chuyện phiền muộn, phản ứng của tôi thường là khép lòng lại trong tủi hờn, cay đắng, chán nản, bi quan… hay là mở lòng ra với Chúa để cầu xin Người an ủi, thêm sức, giúp đỡ…
3/ Khi tôi buồn khổ, bệnh tật… Tôi có biết tự nhủ: “Mình sẽ mang nỗi buồn này đi dự Thánh lễ để kết hợp với những đau khổ của Chúa Giêsu hầu cứu giúp những người khốn khổ và tội lỗi không? Tôi có tin rằng những đau khổ kết hợp với Thánh Giá Chúa Giêsu sẽ là nguồn ơn cứu rỗi không?

Từ trên thánh giá nhín xuống, Chúa Giêsu thấy đám đông dân chúng.

Họ là những người thấy Chúa Giêsu vác thập giá đi trên những con đường Giêrusalem dẫn đến pháp trường, và những người tập trung trên đồi Can-vê để xem Chúa Giêsu bị đóng đinh.
Họ có những suy nghĩ gì? Rất khác nhau.
Trước hết, có những người đã kêu to trước tòa tổng trấn Philatô: “Hãy thả Baraba và đóng đinh Giêsu”. Trong số họ, có cả những người mới vài ngày trước đây thôi khi Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, đã hô lớn: “Hoan hô con vua Đa-vít. Hoan hô anh hùng giải phóng chúng tôi”. Nhưng hôm nay, những người này đã bị những kẻ thù ghét Chúa Giêsu mua chuộc nên quay lưng chống lại Người. Họ không suy nghĩ xem những kẻ mua chuộc họ có lý hay không. Họ chỉ biết đi theo những người đang thắng thế. Đối với họ. Chúa Giêsu trước đây mấy ngày có thể là một anh hùng giải phóng dân tộc, nhưng hôm nay đã trở thành kẻ thù số một có thể khiến cho đất nước lâm cảnh điêu tàn. Do đó phải trừ khử Người càng sớm càng tốt. Chính vì họ đã kêu gào ầm ĩ nên cuối cùng Philatô đành giao Chúa Giêsu cho họ đem đi đóng đinh.
Kế đến, có những người không hung hăng lắm. Họ nhìn thấy Chúa Giêsu vác thánh giá đi lên đồi Can-vê. Họ nhìn thấy Người bị đóng đinh, nhưng họ dửng dưng. Có thể họ cũng đã nghe nói về Người, có thể họ cũng từng gặp Người, có thể họ cũng được hưởng vài phép lạ của Người nữa. Thế nhưng họ nghĩ rằng chính quyền đã kết án Người nên chắc là chính quyền có lý. Họ không muốn mất công tìm hiểu cặn kẽ chi cho mệt. Có lẽ họ thấy Chúa Giêsu tội nghiệp. Nhưng thôi mặc kệ.
Sau cùng, có những người cảm thông và thương khóc Chúa Giêsu. Nhưng người này biết rõ Chúa Giêsu suốt đời chỉ làm ơn làm phước cho mọi người, thế mà hôm nay bị hành hạ đau đớn nhục nhã như một tên trọng phạm. Nhìn thấy Chúa Giêsu như thế, lòng họ vô cùng đau xót. Trên đường lên đồi Can-vê, Chúa Giêsu đã gặp một nhòm phụ nữ trong số họ. Các bà này khóc thương Người. Người đã dừng lại an ủi họ: “Các bà đừng khóc thương tôi làm chi. Hãy khóc thương chính các bà và con cháu các bà”. Ý Chúa Giêsu muốn nói rằng chính vì tội lỗi của họ, vì tội lỗi của con cháu họ và vì tội lỗi của cả nhân loại mà Người phải chịu khổ hình đau đớn như thế.
Từ trên thánh giá nhìn xuống Chúa Giêsu cũng thấy tôi.
1/ Phải chăng tôi cũng giống như dân chúng Do Thái ngày xưa đã chọn Baraba thay vì Chúa Giêsu: Tôi đã bỏ Chúa mà theo bè bạn để ăn chơi phóng túng, nhậu nhẹt, quậy phá và thậm chí xa vào tội lỗi…?
2/ Có những người ở tuổi tôi sống nghiêm túc, siêng năng học giáo lý để hiểu biết Chúa hơn, hăng hái nhiệt thành giúp cho người khác biết Chúa và yêu mến Chúa. Nhưng phải chăng tôi đã phớt lờ không quan tâm gì đến những hoạt động ấy?
3/ Có khi nào tôi biết buồn khi thấy người ta tội lỗi, nguội lạnh, không sống đạo tử tế? Có khi nào tôi dám mạnh dạn khuyên can những người ấy? Có khi nào tôi hối tiếc vì chính tội lỗi tôi mà tôi làm gương xấu cho người khác cũng phạm tội không?
  
Từ trên thánh giá nhìn xuống Chúa Giêsu thấy Giuse Arimathia và Nicôđêmô.

Hai vị này tuy là thành viên Thượng Hội Đồng Do Thái nhưng cũng là môn đệ Chúa Giêsu cách kín đáo. Họ rất ngưỡng mộ Chúa Giêsu. Nhưng vì họ nắm giữ địa vị cao ở Giêrusalem nên nếu họ để cho người ta biết tình cảm của họ đối với Người thì địa vị ấy sẽ bị ảnh hưởng. Nhưng dù sao, cách sống như vậy cũng cho thấy họ chưa quảng đại, họ còn nhát đảm… Chắc chắn khi Thượng Hội Đồng biểu quyết án xử tử Chúa Giêsu thì họ không giơ tay đồng ý, nhưng cũng không dám lên tiếng bênh vực Người. Khi Người bị lên án rồi thì họ chán nản quay về nhà và buồn bã chờ tin Chúa Giêsu bị giết chết.
Ông Nicôđêmô nhớ lại ngày ông gặp Chúa Giêsu lần đầu tiên. Ông tìm đến gặp Người ban đêm để không bị người ta thấy. Ông xin Người giải thích những thắc mắc về tôn giáo. Và Chúa Giêsu đã nói với ông: “Chỉ có một cách duy nhất để trở nên nghĩa thiết cùng Thiên Chúa, đó là trở thành một con người mới, nhờ Phép Rửa và ơn Chúa Thánh Thần”. Cuộc nói chuyện đêm ấy đã khiến Nicôđêmô xúc động mạnh. Ông trở về nhà suy nghĩ rất nhiều. Và từ ngày ấy ông xin làm môn đệ Chúa Giêsu nhưng cách kín đáo.
Còn ông Giuse Arimathia. Khi hay tin Chúa Giêsu đã chết, ông trở nên bạo dạn không còn hèn nhát nữa. Mặc kệ, đến đâu thì đến. Ông tìm gặp tổng trấn Philatô để xin hạ xác Chúa Giêsu xuống khỏi Thập giá và an táng cho xứng đáng. Nếu không thì xác Chúa Giêsu, cũng như xác các tử tội khác, sẽ bị ném xuống hố làm mồi cho chim quạ và chồn cáo ăn thịt. Philatô đã cho phép.
Thế là Giuse Arimathia lên đồi Can-vê, mang theo một tấm khăn liệm lớn. Còn Nicôđêmô thì mang thuốc thơm để xức xác Chúa Giêsu như thói quen khâm liệm của người Do Thái.
Khi ấy, Chúa Giêsu vẫn còn ở trên Thánh giá, tay chân bị đóng đinh chặt vào thanh gỗ. Sườn Người có một vết thương mở rộng do một tên lính đã lấy đòng đâm thủng bảo đảm Người đã chết… Đứng dước chân Thánh giá là Đức Maria, Mẹ Người, tông đồ Gioan, Maria Mađalena và vài phụ nữ.
Giuse Arimathia và Nicôđêmô tháo đinh ra và hạ xác Chúa Giêsu xuống… Đặt xác Người trên một tảng đá để xức thuốc thơm… lấy khăn liệm cuốn lại.
Gần sát đồi Can-vê, ông Giuse Arimathia có một khu vườn, trong đó ông đã đào sẵn một ngôi huyệt để làm mộ cho gia đình ông. Nhưng chưa ai được an táng trong mộ đó. Các ông đã đặt xác Chúa Giêsu vào trong mộ đó rồi lăn một tảng đá lớn lấp cửa mộ.

Từ trên thánh giá nhìn xuống Chúa Giêsu cũng thấy tôi.
1/ Phải chăng tôi sống đạo một cách có thể nói là “lén lút”: chỉ đọc kinh, dự lễ cách tối thiểu, không tham gia hội đoàn và các sinh hoạt tôn giáo khác… vì ngại phải làm thêm việc này việc nọ, vì không muốn mất công mất giờ…?
2/ Tôi có chịu khó trau dồi thêm hiểu biết về đạo bằng cách đọc sách báo, tham dự những khóa giáo lý và Thánh Kinh… để đức tịn của tôi mạnh hơn, để có thể trả lời cho những người thắc mắc về đạo của tôi, và để làm cho nhiều người hiểu thêm về Chúa và Giáo Hội?
3/ Tôi sống đạo cách đơn độc một mình hay còn chịu khó tham gia các nhóm, hội, đoàn thể? Đoàn kết gây sức mạnh, liên đới tạo thêm trợ lực, làm việc chung sẽ nâng đỡ nhau.., tôi có ý thức như vậy không?
Nguyên bản tiếng Pháp: Ceux que Jésus voyait du haut de la Croix
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái chuyển ngữ

TỪ TRÊN THÁNH GIÁ NHÌN XUỐNG

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu thấy Tổng trấn Philatô.
Vào giờ này, ông đang ở pháo đài Antônia tại Grêrusalem. Từ pháo đài này ông theo dõi và chỉ huy quân đội Rôma xâm lược.
Ông nghĩ gì? Chắc ông đang nghĩ lại về vụ xử án Chúa Giêsu tại tòa của ông. Chưa bao giờ trong đời ông phải gặp một vụ án rắc rối đến vậy.  Chưa bao giờ ông bị ấn tượng mạnh trước một bị cáo như thế. Cho tới bây giờ ông vẫn còn băn khoăn bối rối trước những diễn biến của vụ án, và nhất là về thái độ hèn nhát của ông. Quả thực đây là một vụ án nổi tiếng nhất lịch sử và người ta sẽ còn nhắc tới hoài cho đến tận thế.

Người ta điệu đến tòa án của tổng trấn Philatô một bị cáo tên Giêsu. Phong thái bị cáo giống như một Ngôn sứ, một kẻ được Thiên Chúa sai đến. Philatô thì không tin Thiên Chúa, ông chỉ tin vào Đế quốc Rôma. Đế quốc Rôma chính là thần thánh của ông. Đế quốc Rôma đang thống trị cả thế giới, và ông tin rằng sẽ còn thống trị mãi mãi. Chống lại Rôma là một tội nặng, đáng chết.

Philatô nắm quyền lên án tử. Vậy để Philatô lên án xử tử Chúa Giêsu, Thượng tế Caipha và các thành viện Thượng hội đồng do thái giáo đã tố cáo Chúa Giêsu là phản loạn, là dám tự xưng là vua, là xách động dân chúng nổi loạn đánh đuổi quân Rôma xâm lược. Toàn là những tội danh rất nặng.

Nhưng Philatô thắc mắc: Tại sao Thượng hội đồng do thái dẫn Chúa Giêsu đến tòa của ông? Philatô hiểu ngay là họ muốn ông chuẩn y bản án tử hình mà họ đã kết sẵn nhưng chưa thi hành được nếu không được ông chuẩn y.

Vậy Philatô truyền đưa Chúa Giêsu ra trước tòa để ông thẩm vấn. Ông hỏi: “Ông có coi mình là vua không?” Chúa Giêsu trả lời rằng Người chính là vua nhưng không như người đời nghĩ. Người là vua tâm hồn người ta, vì thế cho nên Người chẳng cần đến quân đội và lãnh thổ. Nghe vậy, Philatô hiểu ngay Chúa Giêsu không phải là một kẻ âm mưu chính trị và cũng không nguy hiểm gì cho ách đô hộ Rôma. Vụ án này chỉ có tính cách tôn giáo. Mà ông thì không quan tâm đến tôn giáo, cho nên ông có ý muốn thả Người.

Thế nhưng những kẻ thù Chúa Giêsu thì không chịu vậy. Họ đã kết án xử tử Chúa Giêsu, và bằng mọi giá họ phải thực hiện được điều này. Phản ứng của họ lại cho Philatô hiểu lý do họ kết án Chúa Giêsu chỉ là vì ganh ghét… Philatô bối rối quá: Một mặt ông không muốn kết án người vô tội, mặt khác ông không muốn bị rắc với các lãnh đạo tôn giáo do thái. Để rút khỏi vụ việc khó khăn này, ông đã làm đủ cách: Trước hết ông chuyển Chúa Giêsu sang vua Hêrôđê, viện cớ Chúa Giêsu là người Galilê thuộc lãnh thổ của Hêrôđê. Nhưng Hêrôđể lại trả Chúa Giêsu lại cho ông… Kế đến ông bám vào thông lệ thả một tù nhân trong dịp Đại lễ Vượt qua theo yêu cầu của dân. Vậy ông đem ra trước công chúng một tên cướp khét tiếng đáng sợ tên là Baraba để so sánh với Chúa Giêsu và yêu cầu dân chúng chọn một trong hai. Ông hy vọng dân sẽ xin tha Chúa Giêsu. Nào ngờ dân chúng bị các thượng tế xúi dục đã xin tha cho Baraba. Philatô chới với. Ông nghĩ đến khổ nhục kế: Ra lệnh đánh đòn Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu đã bị đánh đòn quần áo tả tơi, mình mẩy bê bết máu, ông cho dẫn Người ra trước dân chúng và nói “Đây là người”, ngụ ý “Các ngươi bằng lòng chưa? Hắn đã bị trừng trị đích đáng rồi đó. Sau này hắn sẽ không dám tái phạm nữa đâu…”. Thế nhưng một lần nữa Phiolatô bị bất ngờ: “Đóng đinh nó đi… Đóng đinh nó đi…”. Đến lúc đó những kẻ thù Chúa Giêsu đưa ra một đòn tấn công quyết định: Họ nói thẳng với Philatô: “Chúng tôi dẫn hắn đến đây vì hắn là một tên phản loạn chống lại Hoàng đế Xêsa. Nếu ngài thả hắn thì ngài phản bội hoàng đế. Chúng tôi sẽ thưa ngài lên hoàng đế…” Đến đây Philatô hiểu rằng ông có thể gặp rắc rối lớn, thậm chí mất cả chức Tổng trấn Giuđêa. Thế là ông buông tay. Ông sai đem nước ra, rửa tay trước mặt mọi người và tuyên bố: “Tôi vô can trong việc đổ máu người vô tội này. Các ngươi phải gánh trách nhiệm”. Và ông giao Chúa Giêsu cho họ đem đi đóng đinh.

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu cũng nhìn thấy tôi.

1.       Phải chăng đôi khi tôi cũng hèn nhát không dám bênh vực những người vô tội yếu đuối, thấp hèn trước sự chèn ép bất công của những người mạnh thế, giàu có?

2.      Phải chăng đôi khi có người khác vì tôi mà phải bị kết án và trừng phạt, thế mà tôi lại hèn nhát không dám bênh vực họ, thậm chí còn hùa theo dư luận mà kết án họ?

3.       Phải chăng đôi khi tôi hèn nhát vì dễ dàng đứng về phía những kẻ mạnh thế nhưng khôn khéo xảo quyệt hơn để gây thiệt hại cho những kẻ yếu thế hiền lành, chứ không chịu khó tìm hiểu kỹ xem phần phải thuộc về ai?

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu thấy vua Hêrôđê.
Vào giờ nầy, vua Hêrôđê đang ở trong cung điện cùng với triều thần của mình. Ông bỏ nhiều thời giờ để tiếp khách, ăn chơi, giải trí… đang khi Chúa Giêsu hấp hối trên Thập giá. Ông có nhớ chút gì về Người chăng? Có lẽ cũng nhớ đôi chút… Nhưng ông không bận tâm…

Chuyện gì đã xảy ra?

Trong khi vụ án Giêsu đang diễn biến, Tổng trấn Philatô biết được Chúa Giêsu là người miền Galilê. Đúng vậy quê Chúa Giêsu là Nadarét, mà Nadarét thuộc miền Galilê. Philatô trực tiếp cai trị miền Giuđê, còn miền Galilê thì được giao cho vua Hêrôđê. Ông Hêrôđê là là con của vua Hêrôđê Cả lả kẻ đã tìm giết Chúa Giêsu khi Người vừa mới sinh nhưng giết không được vì Thánh Giuse và Đức Mẹ đã đưa Người trốn sang Ai cập.

Vì Philatô bối rối không biết xử vụ án Chúa Giêsu thế nào nên Philatô đã quyết định gửi Chúa Giêsu qua vua Hêrôđê vì đúng lúc đó Hêrôđê đang có mặt ở Giêrusalem dịp đại lễ Vượt Qua. Thế là quân lính giải Chúa Giêsu đi. Người vẫn bị trói.

Vua Hêrôđê rất tò mò mong được thấy mặt Chúa Giêsu. Ông đã nghe nói rất nhiều về Người, nhất là ông nghe kể Người làm nhiều phép lạ và được dân chúng rất ngưỡng mộ. Thực ra Chúa Giêsu cũng khiến ông hơi lo sợ, vì ông rất mê tín dị đoan… Ông sợ Chúa Giêsu chính là Gioan Tẩy giả sống lại. Câu chuyện thế này: Gioan tẩy giả là một ngôn sứ nổi tiếng khắp vùng sông Giođan. Gioan đã cả gan khiển trách vua Hêrôđê vì tội đoạt vợ của em mình. Hêrôđể đã nổi giận bắt giam Gioan. Còn Hêrôđiađê, người đàn bà lăng loàn mà Hêrôđê chiếm đoạt, thì nuôi lòng căm thù Gioan và tìm dịp thủ tiêu. Và dịp may đã đến: Trong một bữa tiệc, Salômê con gái của bà này biểu diễn một điệu múa khiến vua Hêrôđê mê mẩn và buộc miệng hứa là sẽ thưởng cho cô bất cứ thứ gì mà cô muốn. Bà Hêrôđiađê chộp ngay cơ hội tốt ấy xúi con gái xin cái đầu của Gioan Tẩy Giả. Hêrôđê tuy không muốn nhưng vì đã lỡ hứa truớc mặt đông đảo quan khách nên không dám nuốt lời. Ông miễn cưỡng sai lính vào tù chém đầu Gioan Tẩy gia đặt trên đĩa đưa ra cho cô gái… Câu chuyện thật khủng khiếp luôn ám ảnh Hêrôđê. Ông luôn phập phồng lo sợ Gioan sẽ sống lại tìm ông báo thù. Khi nằm ngủ, Hêrôđê cũng mơ thấy Gioan… Bởi vậy khi biết tổng trấn Philatô chuyển Chúa Giêsu sang cho ông xử, ông rất muốn thấy mặt Chúa Giêsu để coi xem mặt Chúa Giêsu có giống Gioan Tẩy giả không.

Khi Chúa Giêsu được đưa đến, vua Hêrôđê triệu tập triều đình và truyền dẫn Chúa Giêsu ra. Ông tưởng Chúa Giêsu sẽ làm một phép lạ cho ông vui để lấy lòng ông, và các quan trong triều cũng vui nữa. Thế nhưng Chúa Giêsu chẳng hề mở mệng nói với ông một tiếng nào. Ông rất giận. Và để hả giận, ông trả đũa bằng cách khoác cho Người một chiếc áo trắng, ý nói Chúa Giêsu là một kẻ khùng điên. Rồi ông gửi Người lại cho Philatô.

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu cũng thấy tôi.

1.       Phải chăng đối với tôi, tôn giáo chỉ là chuyện tình cảm với những nghi lễ, thánh ca, trang trí… được tổ chức để đánh dấu những kỷ niệm trong đời như rửa tội, rước lễ lần đầu, thêm sức, hôn phối… Hoặc là những dịp người ta ăn xinh mặc đẹp đến gặp gỡ nhau…?

2.      Phải chăng tôi giữ đạo vì sợ : sợ Chúa phạt, sợ xuống hỏa ngục, sợ xui xẻo ? Tôi có hiểu rằng chính vì kính mến Chúa và yêu thương người nên tôi mới trở thành kitô hữu không?

3.       Tôi có cố gắng giữ đạo chỉ vì để được Chúa ban ơn không : làm việc tốt để được thưởng, tránh việc xấu để khỏi bị phạt, đọc kinh cầu nguyện để được làm ăn khá, thi đậu, khỏi bệnh v.v..?

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu thấy đám binh lính lý hình đang bao quanh Người và những tử tội khác.
Trong lòng họ, họ nghĩ gì khi hành hạ và đóng đinh Chúa Giêsu? Chắc chắn họ rất ngạc nhiên trước cách Chúa Giêsu chịu đựng đau khổ. Thật là can đảm! Tuy nhiên họ chỉ quan tâm đến mỗi một điều. Đó là thi hành lệnh trên. Chúa Giêsu có tội hay không? Đó không phải là việc của họ. Người có phải là Đấng Thiên Chúa sai đến hay không? Họ cũng chẳng cần biết. Cấp trên đã ra lệnh bảo họ tra tấn và đóng đinh Người thì họ tuân lệnh. Thế thôi.

Trong đám họ có những tên rất thô lỗ. Họ đã quen nhìn thấy những tội nhân phải chịu khổ, nhất là những tội nhân của các dân bị đế quốc Rôma của họ đô hộ. Dù các tội nhân ấy đau đớn kêu la đến đâu họ cũng dửng dưng không chút xúc động.

Chúa Giêsu bắt đầu bị bọn lính ấy hành hạ bằng nhục hình đánh đòn. Đây là một hình khổ hết sức khủng khiếp. Có những người đã chết gục ngay dưới những làn roi.

Tiếp đến là trò chế nhạo. Bọn họ đã nghe người ta tố cáo Chúa Giêsu tự xưng là vua. Đúng hay sai, đối với họ điều đó không quan trọng. Họ chỉ coi đây là cơ hội vui đùa chế nhạo Người như một ông vua hề. Họ lấy dây gai kết thành một vòng tròn rồi ấn lên đầu Người và làm bộ cung kính thưa: “Muôn tâu Bệ Hạ, vương miệng của ngài đây”. Để cho “chiếc vương miệng ấy dính chặt vào đầu Người, họ lấy gậy đóng xuống… Những chiếc gai cắm sâu vào da đầu Chúa Giêsu… Những dòng máu ròng ròng chảy xuống ướt đỏ mặt Người… “Và đây là cẩm bào của ngài”. Họ vất một tấm vải rách màu đỏ lên vai Người. Còn thiếu gì nữa? À, vua thì phải có vương trượng chứ! Họ tìm được một cây sậy ấn vào tay Người. Thế là tạm xong. Họ bắt Chúa Giêsu ngồi trên một bậc thềm và bắt đầu tung hô: họ đi vòng vòng quanh Người, vừa đi vừa hô “Hoan hô vua dân Do Thái”. Lần lượt những kẻ đi ngang trước mặt dừng lại khạc nước miếng vào mặt Người.

Khi đã lên đến đồi Can vê, bọn lính cởi áo Chúa Giêsu ra. Vải đã dính vào các vết thương khắp mình Chúa Giêsu nên khi bị cởi áo, Người đau đớn chẳng khác gì bị lột da. Rồi họ đè Người nằm xuống trên cây Thập giá. Họ kéo hai tay hai chân Người ra cho đến chỗ làm dấu sẵn đề đóng đinh…

Đóng đinh xong, họ dựng Người cùng cây Thập giá đứng thẳng lên. Rồi họ ngồi xuống nghỉ mệt, thẩy xúc xắc để xem ai được lấy tấm áo không đường khâu của Chúa Giêsu.

Tuy nhiên trong đám họ cũng có một người còn chút lòng nhân đạo. Anh này đưa cho Chúa Giêsu một ly mật đắng pha mật ong. Đây là một thứ thuốc giảm đau. Nhưng Chúa Giêsu đã từ chối không uống.

Và cũng có một cử chỉ nhân đạo khác: Chúa Giêsu trên thập giá kêu lên “Tôi khát”. Nghe vậy, một anh lính đi lấy một tấm bọt biển thấm một chút giấm rồi đưa lên cho Người. Chúa Giêsu đã nếm một chút. Ta có thể tưởng tượng Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh tỏ dấu cám ơn. Vá có lẽ ánh mắt đó đã thấu tận đáy lòng anh, suốt đời anh không thể nào quên.

Nhưng đáng để ý nhất là viên sĩ quan chỉ huy đội lý hình. Ngay từ đầu cuộc xét xử tại tòa án, ông đã có ấn tượng về phong cách của Chúa Giêsu: rất can đảm, bình thản và oai nghiêm. Ông hiểu Chúa Giêsu không phải là một người bình thường. Vì thế,mặc dù được lệnh phải hành quyết Chúa Giêsu, nhưng ông vẫn dành cho Người một sự tôn trọng. Trên đường đi đến pháp trường, khi thấy Người đã kiệt sức, ông đã yêu cầu một kẻ qua đường vác thập giá giúp Người. Rồi khi Chúa Giêsu đã bị treo trên thập giá, nhiều người bên dưới lớn tiếng chế nhạo, xỉ vả Người. Ông rất ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu chỉ đáp lại bằng những lời tha thứ. Cuối cùng, lúc Chúa Giêsu tắt thở, khi trời tối bỗng sầm lại và đất rung chuyển, thiên nhiên như muốn để tang Chúa Giêsu, viên sĩ quan này thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa”.

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu cũng thấy tôi.

1.      Trên đời này vẫn còn những vụ hành hạ, tra tấn… Vẫn còn những trại tập trung… vẫn còn hàng triệu người phải bỏ nước trốn đi… Khi biết tình trạng này, tôi có suy nghĩ gì không ? Hay là tôi dửng dưng ? Tôi có ý nghĩ rằng sau này khi có thể, tôi sẽ đấu tranh cách nào đó để thế giới bớt đi những sự dữ và thêm nhiều tình thương không?

2.      Phải chăng đôi khi tôi cũng hung dữ, cay độc, xỉa xói những người khác kém cỏi hơn tôi, nghèo hèn hơn tôi… Phải chăng đôi khi tôi ỷ thế để ức hiếp kẻ yếu thế hơn tôi?

3.      Phải chăng tôi có óc kỳ thị: kỳ thị màu da, kỳ thị giai cấp xã hội, kỳ thị khả năng…. Khinh dể những kẻ không giống tôi, không bằng tôi?
Nguyên bản tiếng Pháp: Ceux que Jésus voyait du haut de la Croix
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái chuyển ngữ

RỬA CHÂN

Rửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ). Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ. Việt Nam không “lệ” rửa chân, nhưng tôi tớ lại phải khom lưng hoặc nằm xuống cho chủ bước qua.
Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ. Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” (Ga 13:16a; Ga 15:20) và “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi” (Ga 13:16b). Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ”.
Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa. Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay”. Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.
RỬA CHÂN LÀ YÊU THƯƠNG
Trong Phúc âm, thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian. Đây là điểm khác so với các Phúc âm nhất lãm. Rửa chân người khác là hành động yêu thương. Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc âm của thánh Gioan – là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 13:23; Ga 19:26; Ga 13:23; Ga 20:2; Ga 21:7 & 20), và vì thế mà thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu. Người rửa chân là “người thực hành yêu thương”, còn người được rửa chân là “người được yêu thương” – và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.
Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10). Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận. Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4:12). Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu. Quá ngược đời, và lạ thật! Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.
RỬA CHÂN LÀ KHIÊM NHƯỜNG
 Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường. Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức. Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy. Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng. Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.
Có vẻ lạ khi 3 tác giả phúc âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài. Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại. Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước. Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.
Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân. Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc và thật là dễ thương!
RỬA CHÂN LÀ PHỤC VỤ
Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác. Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20:26). Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).
Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13:1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ. Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng – như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều”. Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực”.
Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình. Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ. Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-16).
Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22:24-27).
Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ – tức là chúng ta, và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau. Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.
Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác – đặc biệt là những người nghèo khổ. Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13:6-10: “Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Vừa sợ không được chung phần vừa khoái chí, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa”. Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch”. Và Ngài “láy” một câu quan trọng: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”.
RỬA CHÂN LÀ THA THỨ
Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ. Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác. Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ. Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Thánh vương Đa-vít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).
Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt. Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21). Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22). Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5:44; Lc 6:27). Khó quá, nhưng không được phép không làm!
Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần. Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “ngon” lắm rồi, ai dè… “bị hố”!
Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa. Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18:23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!
Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).
TẠM KẾT
Cuối cùng, chúng ta phải ghi nhớ lời Chúa Giêsu nói về việc rửa chân: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 13:17). Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc thực hành chứ không bảo chúng ta nghe biết cho vui tai.
Ngài chú ý cách thực hành tích cực, và chúng ta chắc chắn sẽ hạnh phúc nếu chúng ta thực hành điều Ngài đã làm. Ngài biết rằng sự đố kỵ, ghen ghét, bực tức, và thiếu lòng tha thứ làm chúng ta bị hạn chế và ngăn cản sự phát triển tâm linh của chúng ta. Nếu chúng ta cho phép những điều đó xảy ra, cuối cùng chúng sẽ hủy diệt chúng ta.
Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm, chúng ta sẽ cố gắng khiêm nhường và cảm nghiệm niềm hạnh phúc khi noi gương Thầy Chí Thánh Giêsu trong việc phục vụ nhau bằng cách tha thứ lẫn nhau.
Vậy thì chúng ta đích thực là môn đệ của Chúa Giêsu, như Ngài đã tâm sự: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15:15). Là thân phận tôi tớ, thậm chí chỉ đáng làm nô lệ, thế nhưng chúng ta lại được Chúa Giêsu gọi là bạn hữu và là môn đệ. Còn hạnh phúc nào hơn?!
Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch. Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu