CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI

Thánh Gioan ghi nhận: Đức Giêsu trong diễn từ ly biệt đã khảng định: Người muốn nói với các môn đệ nhiều điều, và toàn là những nội dung tối quan trọng, có điều các ông hoàn toàn chưa sẵn sàng đón nghe: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em chưa có sức chịu nổi.” Tôi vẫn hay thắc mắc: điều gì mà có tầm quan trọng vượt bậc đến thế, để mà Đức Kitô gọi nó là: ‘sự thật toàn vẹn’?
Giáo hội chọn bản văn Gio-an chương 16 cho lễ Chúa Ba Ngôi năm C quả là có ý nghĩa, chính vì đoạn Tin Mừng này hé mở cho thấy nội dung đích thực của cái thực tế vẫn thường được mệnh danh là mầu nhiệm ‘Chúa Ba Ngôi’. Điều này, tôi thiết nghĩ: các môn đệ cũng như các tín hữu tiên khởi chắc chắn đã nắm bắt rất rõ, trước cả khi nó được diễn đạt bằng công thức ‘Một Chúa Ba Ngôi – Sancta Trinitas ’.
Sự thật toàn vẹn Người đề cập tới trước hết bắt đầu bằng chính con người Đức Kitô Giêsu: “Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em”. Đức Giêsu đã lặp lại câu nói trên tới hai lần, điều này cho thấy: chỉ khi nào ta khởi đi từ Giêsu, ta mới có thể hiểu biết cách chính xác, Thiên Chúa thật sự là ai.
Trước mắt các môn đệ là: một ông Giêsu xuất thân từ làng quê Na-da-rét; ông là một bậc thầy đang rao giảng một học thuyết rất kì lạ; còn hơn thế nữa, ông đã có một đời sống và một cái chết không ai hiểu nổi. Ông khảng định rằng: đó là cuộc sống và cái chết trọn vẹn hiến dâng và trao ban, không chỉ cho người tốt mà cả cho kẻ xấu. Nhưng nếu chỉ là cá nhân ông như thế thì dầu có anh hùng và đáng khâm phục thật, nhưng cũng chỉ cá lẻ một mình ông mà thôi. Đàng này ông lại không ngừng tuyên bố rằng: con người và cuộc sống (nhất là cái chết Thập Giá) của ông là biểu lộ trung thực nhất về Thiên Chúa, Đấng mà ông không những gọi là Cha của mình, mà còn tự đồng hóa mình với Ngài. Và Đấng đó, khác với suy nghĩ thông thường của người Do Thái, kể cả các thầy tiến sĩ thông luật thời đó, cũng là Thiên Chúa – Cha đầy nhân ái của hết thảy mọi người, cách riêng những người tội lỗi nhất; sau này qua việc ông được cho chỗi dậy từ cõi chết, những lời khảng định trên của ông trở nên có sức thuyết phục không ai cưỡng lại được.
Nhận biết được điều này mới là nhận biết Giêsu cách đích thực, đồng thời cũng là nhận biết và tôn vinh Thiên Chúa: “Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình” (Ga 13:31-32). Tuy nhiên qua phát biểu của một số môn đệ thâm tín nhất như Tô-ma (xem Ga 14:5-7) Phi-lip-phê (xem Ga 14:8-11) Giu-đa không phải It-ca-ri-ốt (xem Ga 14:22-24)…, ta biết: điều này xem ra không dễ dàng được chấp nhận. Tin rằng ‘Thiên Chúa là Cha đầy nhân ái, yêu thương và tự hiến mình cho con người tội lỗi’ còn khó hơn cả tin ‘ba là một hay một là ba’. Điều sau này mới chỉ là một nghịch lý về mặt suy luận toán học, còn điều kia mới thực là nghịch lý làm đảo lộn mọi tương quan trời đất cố hữu. Cần phải chính Chúa Cha trong Đức Kitô gởi một nhân vật bí nhiệm là Thánh Thần – Đấng Bảo Trợ đến mới đưa nổi các tín hữu tới sự hiểu biết và tin thác vào tình yêu vĩ đại này.
Như vậy công việc chính yếu của Chúa Thánh Thần là: làm cho Kitô hữu chúng ta nhận biết Đức Giêsu Thập Giá là Lời tình yêu vô song của Chúa Cha. Thánh Thần chính là đức tin đối thần của tín hữu chúng ta, là Đấng Sáng Soi cho phép ta tiếp cận, hiểu biết và chấp nhận điều mà lẽ thường ta ‘không có sức chịu nổi’; là Đấng dẫn ta ‘tới sự thật toàn vẹn’, vì chính sự thật này mới làm cho ta được sống và sống dồi dào. Vì thế Thánh Thần chính là Hồng Ân tình yêu vĩ đại nhất mà Chúa Cha nhân ái trong Đức Giêsu Kitô có thể ban, để ta tiến vào tình yêu sinh động và phong phú nhất của Người.
Mầu nhiệm Ba Ngôi chính là khởi nguồn và cùng đích của niềm tin Kitô hữu. Mầu nhiệm đó không hệ tại ở việc, nó quá bí nhiệm tới nỗi không ai kham nỗi, nhưng chính yếu hệ tại: nó quá phong phú, quá sinh động tới độ làm thay đổi toàn diện cuộc sống con người chúng ta. Mầu nhiệm đó chính là cốt lõi của Tin Mừng. Quả thực kể từ khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội để trở thành môn đệ Đức Giêsu, mọi Kitô hữu sẽ không ngừng “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28:19) như một tuyên tín về tình yêu nhân ái vô biên của Thiên Chúa. Và bất cứ ai ngưng tuyên xưng khối tình yêu vĩ đại này như căn nguyên và sức sống của đời mình thì sẽ lập tức không còn là Kitô hữu đích thực nữa. Chúa Ba Ngôi quả thật là mầu nhiệm của các mầu nhiệm, nhưng không phải để hiểu biết mà là để sống!
Lạy Chúa, lẽ ra con đã phải cảm tạ khôn nguôi về niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, lẽ ra mỗi lần thốt lên ‘nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’ lòng con đã phải tràn ngập vui sướng. Nhưng tiếc thay thực tế đã không được như thế, chỉ vì con cứ ngắm nhìn Thiên Chúa như một Đấng quyền uy cao sang, nên nhiều khi con cảm thấy khó chịu về mầu nhiệm khó hiểu và khô khan này; nhiều khi con chỉ lạnh lùng thốt lên ‘nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần’ cách máy móc vội vàng, như một công thức vô bổ. Xin Thánh Thần tích cực tác động trong con, để dạy con điều con không thể kham nỗi, là nhận biết tình yêu nhân ái bao la của Thiên Chúa Cha, biểu lộ qua Thập Giá của Đức Kitô Giêsu. Xin cho con biết không ngừng ca ngợi Ba Ngôi từ ái. Amen.
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

SỢ TRÌU MẾN SẼ BÓP NGHẸT TÂM HỒN

“Ai mà quả tim không mềm yếu thì một ngày nào đó cái đầu sẽ mềm yếu!” Cách đây hơn nửa thế kỷ, G.K.Chesterton đã nói như thế và đến nay câu này vẫn chưa mất tính thời sự, ngày nay mọi sự như đi ngược với những gì là hiền dịu và yếu mềm.

Bây giờ ở đâu ai cũng nói với giọng điệu nghề nghiệp, hiệu năng đến cứng rắn, cạnh tranh và quyền lực. Trong môi trường làm việc và đôi khi cả trong gia đình, trong giới tu sĩ, cũng không có bao nhiêu chỗ cho cái gọi là “mềm yếu”, ít hiệu năng, tình cảm hay chậm chạp.
Chỉ cần kêu gọi nên nhẹ nhàng, nên dịu hiền để cho không khí được thoải mái là cũng đã làm cho người khác nghĩ sai về mình, thiếu tôn trọng mình. Thế giới chúng ta không dành chỗ cho những gì gọi là tình cảm, tính không chuyên nghiệp, kém hiệu năng, chậm chạp, yếu mềm và mong manh. Tính cứng rắn và thành tích được tôn trọng hơn.
Vì vậy đôi khi chúng ta cảm thấy môi trường làm việc và ngay cả trong gia đình có cái gì đó lạnh lẽo và vô cảm. Tuy nhiên trên thực tế cảm giác này là do nỗi sợ hãi của chúng ta.
Để tránh bị nhìn dưới khía cạnh xấu, bị cho là yếu mềm, chậm chạp, trẻ con, không chịu được áp lực, không đạt được các tiêu chuẩn của tính cứng rắn và hiệu năng nên chúng ta chấp nhận tất cả các hạn chế.
Đây là điều không nên nhưng trên thực tế nó lại xảy ra như vậy. Chúng ta không nên sợ mấy loại này nhưng thường thì chúng ta sợ. Thực tế chúng ta thường sống và làm việc trong bầu khí lạnh lẽo và vô cảm.
Trong các điều kiện này, chúng ta dễ trở nên cay đắng, lạnh lùng, chai cứng vì tinh thần ganh đua. Tiến trình này âm thầm diễn ra giống tiến trình lão hóa và bạc tóc, từ từ và khó nhận thấy. Chúng ta nhìn gương mỗi ngày và nghĩ mình cũng giống như mọi ngày… cho đến khi nhìn lại bức ảnh cũ: chúng ta choáng váng thấy mình đã thay đổi quá nhiều.
Nếu các bức ảnh cũ có thể phản ảnh tinh thần năng hoạt, tính hồn nhiên, lòng hăng say đón tiếp, lòng thương xót, niềm hân hoan vui sống thì chắc nhiều người trong chúng ta sẽ choáng khi thấy mình thay đổi quá nhiều, mình đã chai đá theo năm tháng. Sự lạnh lùng, tính dè chừng, chai cứng trước những người xa lạ với chúng ta, bây giờ nó phản ảnh qua ánh nhìn, qua cách hành động và đau khổ thay, nó đã ở trong quả tim chúng ta. Đúng, tất cả thay đổi từ từ. Chúng ta thay đổi, chúng ta tạo một võ bọc và trở thành con người mà trước đây chúng ta không nghĩ mình sẽ chọn kiểu người này để làm bạn.
Vì thế, thì giờ dành để cầu nguyện mỗi ngày là thì giờ quan trọng nhất để chúng ta trở nên dịu hiền, để tinh thần chúng ta linh hoạt trở lại, mang lại lòng hiếu khách, tình thương xót, niềm hân hoan vui sống như ngày xưa.
Cầu nguyện không chỉ là cầu nguyện thành lời. Chúng ta được mời gọi “cầu nguyện liên lỉ.” Có nghĩa là cầu nguyện trong khi làm bất cứ việc gì, chứ không phải chỉ ngồi đọc kinh.
Cầu nguyện liên lỉ, như Đức Giê-su nói, có nghĩa là đọc các dấu hiệu của thời gian, là nhìn các biến chuyển đã hình thành cuộc sống chúng ta, đọc ra dấu chỉ và sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngôn ngữ của Thiên Chúa là trải nghiệm Thiên Chúa ghi trong cuộc sống chúng ta. Cầu nguyện, có nghĩa là đọc cuộc sống mình theo đức tin.
Tôi nghĩ phương cách quan trọng nhất mà chúng ta nên theo hôm nay là nhìn lại, đọc theo đức tin, đón nhận như một lời cầu nguyện, một ân sủng các giây phút đã làm cho tâm hồn chúng ta dịu lại, làm chúng ta cảm thấy mình mong manh, gợi lên trong lòng chúng ta tình thương xót, nhiệt tình đón tiếp người khác, tạo cho chúng ta tình đoàn kết trong cuộc chiến đấu chung. Có ý thức sẽ làm quả tim mềm dịu.
Thế giới có thể chai cứng và, nếu chúng ta không ý thức, chúng ta không xoa dịu quả tim bằng các giây phút dịu dàng cầu nguyện, thì chúng ta cũng sẽ chai cứng, lạnh lùng, hờ hững, không thân thiện tiếp đón, chúng ta cũng giống như họ mà thôi.
Thi hào Anh William Wordsworth quan sát và thấy thường thường người nào có vẽ như lạnh lùng là chỉ vì họ bị tổn thương. Tôi nghi cũng vì lý do này mà nhiều người trong chúng ta toát ra kiểu lạnh lùng này.
Phải cầu nguyện để đón nhận giây phút hiền dịu lên và để ân sủng của nó làm chúng ta trở nên dịu dàng.
Cái gì làm cho một giây phút trở nên dịu dàng? Tất cả những gì trong cuộc sống giúp chúng ta ý thức mình có môi giây sâu đậm thắt chặt lẫn nhau, các khó khăn cùng chia sẻ với nhau, các tổn thương chung, các tội lỗi giống nhau, nhu cầu cần giúp đỡ nhau: khuôn mặt đau khổ của người khác phản chiếu nỗi đau của chính mình, ý thức về cái chết thể lý, chấp nhận mình có tội, nét đẹp của thiên nhiên, lòng hăng hái và thơ ngây của trẻ con, cái mong manh của tuổi già, và dĩ nhiên, đặc biệt là những giây phút của tình mật thiết, tình bạn, các lễ hội, những giây phút hân hoan, đau khổ, mong manh cùng chia sẻ với nhau.
Thánh Gio-an Thánh Giá cho rằng vai trò của cô tịch là “để người hiền hòa nhịp với sự  dịu dàng.” Các giây phút dịu dàng là những giây phút cầu nguyện sâu đậm.
Chúng ta cần có nhiều giây phút như vậy nếu không cái lạnh lùng và vô cảm của môi trường chung quanh sẽ làm chúng ta lạnh lùng và vô cảm theo. Mỗi ngày chúng ta cần đón nhận giây phút dịu dàng này.
Chesterton cũng đã nói: “Những gì nhanh nhất là những gì mềm mại nhất. Chim muông nhanh nhẹn vì chúng mềm mại. Đá tê liệt vì nó cứng. Do bản chất của nó, hòn đá phải rơi xuống, bởi vì vật gì càng cứng thì càng yếu. Do bản chất của nó, loài chim bay cao, vì tất cả những gì mong manh đều có sức mạnh.” (Orthodoxy)
Ronald Rolheiser 

Nguyễn Kim An dịch 

PHỤC VỤ, BÍ QUYẾT ĐỂ SỐNG THANH THẢN

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII trong “Mười điều răn thanh thản” của ngài, ngài đưa ra các lời khuyên dưới hình thức các quyết tâm đơn giản để có hạnh phúc trong giây phút hiện tại dưới cái nhìn của Chúa.

Thời buổi bây giờ người ta xem phong trào hướng đạo là lỗi thời, cho đó là những giờ phút u tối của lịch sử chúng ta, còn với những người ít dữ hơn thì họ cho đó là trò hề. Văn hóa dân gian mất dần, không còn các buổi lễ với các bộ đồng phục, các bài hát, các nghi thức chính thức hay không. Nhưng, đây đúng là trụ đỡ tuyệt vời giúp các em thiếu nhi lớn lên thành người lớn có trách nhiệm, ít nhất các em sẽ là người tốt hơn nếu có các trụ đỡ này! Có phải đây chỉ là giả thuyết không? Đúng, đây chỉ là trực giác cá nhân, không cần bằng chứng.

Mỗi ngày một việc tốt

Trong các loại văn hóa dân gian này, có mục mỗi ngày một việc tốt, một bổn phận ở trên vai mỗi hướng đạo viên từ ngày họ tuyên thệ phải làm mỗi ngày một việc tốt. Khi thành người lớn, sẽ có bao nhiêu người xét mình mỗi tối xem hôm nay mình đã làm việc tốt nào chưa? Tôi hình dung những người hiểu sâu lời hứa này, họ hiểu tinh hoa của hướng đạo nằm trong việc phục vụ, tinh thần tận tâm nổi bật giữa đức tính thẳng thắn và trong trắng, không cần phải kiểm các hành động tốt này: nó ở trong công việc hàng ngày. Ngược lại, tôi không nghĩ có anh bạn hướng đạo nào của tôi, khi xét mình mỗi buổi tối lại nghĩ mình không làm việc tốt nào trong ngày.

Không cần phải ghi vào mặt sau áo hướng đạo Super-Scout để quảng cáo những việc làm phi thường. Việc tốt hàng ngày không đòi hỏi chúng ta phải làm quá sức mình. Chỉ cần cái nhìn quan tâm để thấy dịp tốt nào đến với mình trong ngày. Và phải làm những gì phải làm, theo nơi chốn và khi nào làm. Có thể là nhường ghế trên xe buýt cho người cần hơn mình, người lớn tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai… Một nụ cười chân thành với người qua đường cũng là một việc tốt.

Sau việc tốt này nếu có một dịp khác đến, chúng ta lại tiếp tục làm, không đặt vấn đề, không so đo đong đếm vì sao người khác không làm, không nghĩ mình làm thêm vì hôm qua quên làm, hay làm gấp đôi cho ngày mai! “Chúa không giỏi toán, Chúa nói 70 lần 7 là vì Chúa không biết đếm (Mt 18, 22)”, một linh mục đã giảng đoạn này cho các con tôi nghe… Bạn sẽ bắt trẻ con làm toán sau nếu chúng không chịu hiểu!

Cảm thấy mình có trách nhiệm với người khác

Chúa Giêsu đã giảng dạy và đã cho chúng ta quá nhiều gương tốt trong lãnh vực này, Ngài rửa chân cho các môn đệ trong buổi Tiệc ly (Jn 13, 1-17). Ngài đảo lộn trật tự xã hội: trước khi bị tra tấn như người nô lệ, Ngài giải thoát con người khỏi các công việc nô lệ và Ngài đòi chúng ta phải bắt chước Ngài.

Tinh thần phục vụ là cảm thấy mình có trách nhiệm với người khác, người chúng ta gặp mỗi ngày, người tình cờ gặp. Điều này không liên quan gì đến cấp bậc, ở sở làm chúng ta cũng phải giúp đỡ cấp trên, bạn đồng nghiệp, người anh em ngay khi mình thấy họ cần đến mình. Trong gia đình, chúng ta luôn phục vụ nhau. Chắc chắn, trẻ con còn nhỏ thì chưa phục vụ được… Và dĩ nhiên trong giáo xứ, trong Giáo hội, chúng ta phải theo dõi, phải chú ý đến nhu cầu của người khác, của mọi người. Trong môi trường chúng ta lui tới, dù là môi trường văn hóa, thể thao, giải trí, chính trị, nghiệp đoàn, từ thiện, chúng ta luôn gặp những người mà chúng ta có thể an ủi, đôi khi một cách rất nhỏ bé. Và cuối cùng là ở ngoài đường, chúng ta gặp những người mình không quen, những người cũng có thể cần đến chúng ta.

Cấm phớt lờ

Dĩ nhiên để nói rằng chúng ta nên có trách nhiệm thì cũng lỗi thời, nó đi ngược với dòng đời, đó là đặt bổn phận lên hàng đầu, khi chúng ta sống chỉ để khẳng định các quyền của mình. Xu hướng của thời đại là chuyện ai người đó lo trong một xã hội đang trên đà phân rã. Nhân danh tự lo tự lập, chúng ta biện minh cho những chuyện tồi tệ nhất: ly dị, phá thai, trợ tử. Như vậy phục vụ vẫn tốt hơn!

Theo tinh thần trách nhiệm này, phớt lờ là không được, chính Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta phải nhìn thấy Ngài nơi người anh em của mình, cho ăn, uống, cho mặc, thăm viếng khi người anh em bị bệnh, bị tù để mình trở thành người công chính trong các người công chính. Từ chối không nhận biết người anh em, từ chối không giúp đỡ khi người anh em cần là phải chịu nguyền rủa (Mt 25, 31-46).

Kín đáo

Cuối cùng làm việc tốt phải làm âm thầm kín đáo. Chúa Giêsu dạy rất rõ ràng điều này: khi làm việc lành phúc đức đừng phô trương, vì như thế là đã lãnh phần thưởng dưới đất (Mt 6, 1-4). Chúa không cần loa kèn loan báo để biết việc tốt chúng ta làm. Ngài đã biết.

Lạy Chúa xin cho con ơn được làm trò hề dưới mắt thiên hạ nhiều hơn và cho con luôn làm việc tốt mỗi ngày, mỗi ngày mỗi nhiều hơn!

Nguyễn Kim An dịch

(phanxico.vn)

KHI CON ĐAU KHỔ, THIÊN CHÚA Ở ĐÂU?

Là người Công giáo, khi đau khổ, chúng ta có dám kêu lên: Thiên Chúa đang ở đâu khi con đau khổ? Kêu gào không để đay nghiến, trách móc Chúa cho bằng, để xin Ngài trợ giúp.

Nếu được bình chọn ai là người xui xẻo nhất, đau khổ nhất hành tinh, thì người đời phải để tâm bầu chọn cho ông Gióp. Ông là ai?
Tên ông được lấy làm tựa đề một cuốn sách trong Kinh Thánh. Trong đó, từng dòng chữ lột tả hết thân phận bi thương của ông. Khi đọc sách ông Gióp, người ta có thể thấy nhiều bất công. Ở hiền sao ông không gặp lành? Ông làm gì sai mà bị quả báo đến nỗi khó có ai đau khổ như ông. Những đau khổ ta đang phải chịu so với núi xui xẻo, nỗi đau đớn tận cùng của ông thì chẳng thấm vào đâu!
Ông Gióp là người công chính, giàu sang và hằng tôn thờ Thiên Chúa. Đàn gia súc của ông nhiều khôn kể, bất động sản của ông cò bay thẳng cánh, ông có con đàn cháu đống. Ông tốt bụng, hiền lành và thương người. Đặc biệt, ông một lòng tin tưởng vào Thiên Chúa và phó thác mọi sự trong tay Đức Chúa. Với những đặc tính ấy, ông được Thiên Chúa khen ngợi và giữ gìn.
Tuy nhiên, Satan, ác quỷ là kẻ luôn mang đến cho người ta đau khổ và chết chóc. Nó tin rằng con người chỉ tin Thiên Chúa trong hoàn cảnh ăn sung mặc sướng; còn khi đau khổ đến thì con người chẳng biết Thiên Chúa là ai.[1] Để chứng minh điều này, Satan xin với Thiên Chúa thử thách ông Gióp. Nó tin rằng khi đau khổ đến, Gióp cũng nguyền rủa Thiên Chúa, sụp đổ hoàn toàn. Sau lần trò chuyện đó, Thiên Chúa cho phép Satan làm mọi thứ với Gióp, nhưng không được lấy mạng ông.[2]
Từ đó người ta chứng kiến biết bao chuyện khổ đau đổ xuống cuộc đời ông. Người ta cướp phá tài sản của ông. Các con ông bị tai nạn qua đời. Có lẽ đau khổ hơn hết là thân thể ông tự dưng bị lở loét. Từng thớ thịt u nhọt bủa vây ông. Chắc ta chẳng thể tưởng tượng được nỗi đau ông phải chịu. Đúng là có đứt tay mới biết đau thế nào! Hay nói như cụ Nguyên Du: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Ngoài những đau thương ấy, ông còn bị người đời soi mói, mỉa mai và đay nghiến. Chỉ có kẻ tội lỗi, làm điều xấu xa mới chịu đau khổ như thế. Ông phân trần: Tôi đâu làm gì sai!
Khổ đau quá, ông trách mình, nguyền rủa ngày ông chào đời (G 3,1-26). Trách thân xong, ông quay sang Đức Chúa. Ông còn muốn tìm Chúa để đôi co, tranh luận (G 13,3). Nhưng biết tìm Chúa ở đâu? Ông hy vọng có ai đó bệnh vực và chữa lành cho ông. Nhưng dường như ông vẫn phải ở trong đau khổ. Trên hết, ông không bao giờ từ bỏ niềm xác tín của mình là: người công chính luôn nắm phần chiến thắng!
Người đời ngả mũ khen niềm tin và lòng kiên nhẫn của ông trong cơn đau khổ. Thử hỏi ai làm được như ông: “Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng Đức Chúa” (G 1,21). Tuy nhiên, người ta cũng thông cảm cho ông vì những lần ông tìm Chúa để phân trần, để đôi co về những đau khổ. Đừng quên, ông cũng là người trần mắt thịt với những cảm xúc tự nhiên của kiếp người. Do đó, khi đau khổ quá, ông thống thiết kêu gào đến tận trời xanh. Biết bao lần ông hỏi Chúa: “Tại sao, tại sao và tại sao?” “Thiên Chúa tốt lành, thì đau khổ ở đâu ra?” “Thiên Chúa có công bình không?” Đức Chúa dường như vẫn hơi lặng tiếng và tiếp tục thử thách ông. Lạ thay, ông Gióp vẫn tin tưởng và trân nhận quyền năng cao cả của Thiên Chúa (G 5-13).
Đúng là niềm tin có sức giúp ông vượt qua tất cả và tìm lại được mọi thứ. Ở tận cùng nỗi đau, chính Đức Chúa đến và trao lại cho ông hơn những gì ông mất. Ông đong cho Chúa đấu nào, thì giờ đây Thiên Chúa trả lại cho ông những đấu ân sủng đầy dư! Ông được Thiên Chúa chữa lành bệnh tật. Ông giàu có hơn trước. Nhất là ông được sống lâu và hạnh phúc miên trường. Đó chẳng phải là phần thưởng xứng đáng dành cho những ai tin tưởng, trông cậy vào Thiên Chúa sao?
Đó là chuyện trong Kinh Thánh. Ngoài đời chúng ta cũng bắt gặp nhiều người đang phải chịu đau khổ. Tiếc là khổ đau, bệnh tật không tha một ai, và nó cũng đang bám lấy chúng ta. Trong văn học Việt Nam thì sao? Chị Dậu (Tắt Đèn) chẳng phải là ví dụ điển hình cho những người phụ nữ khổ đau thời phong kiến sao? Chí phèo (Đời Thừa) chẳng phải là những người đang chịu sức nặng của cường hào ác bá sao? Hoặc, chính cô Mị (Vợ Chồng A Phủ) đã chọn ăn lá ngón để giải thoát nỗi đau đó sao? Bên cạnh đó, trên báo đài không ít những mảnh đời bất hạnh, những cuộc đời trần ai đó sao? Gần hơn, chính họ hàng, gia đình và mỗi người chúng ta cũng đang có những khổ đau riêng đó sao? Những nhân vật vừa kể và chính chúng ta có làm điều gì gian ác mà phải chịu quả báo khủng khiếp đến thế? Nói cho cùng người ta vẫn thừa nhận rằng đau khổ là một mầu nhiệm!
Vậy ai có thể giải thoát chúng ta khỏi đau khổ? Mỗi tôn giáo đều có câu trả lời thú vị về vấn đề này. Là người Công giáo, khi đau khổ, chúng ta có dám kêu lên: Thiên Chúa đang ở đâu khi con đau khổ? Kêu gào không để đay nghiến, trách móc Chúa cho bằng, để xin Ngài trợ giúp. Đừng quên chính Đức Giêsu cũng chịu biết bao đau khổ, và phải chết tất tưởi trên thập giá. Đức Giêsu đón nhận muôn vàn cực hình với tất cả tình yêu và niềm tin tưởng vào Chúa Cha. Nhờ đó, Ngài đã chiến thắng và mở ra một con đường giúp người ta đón nhận khổ đau trong bình an.
Nói về đau khổ, hoặc ủi an người khổ đau thì dễ vô cùng. Chỉ người trong cuộc mới thấm thía thế nào là tận cùng của nỗi đau. Tuy nhiên, câu chuyện ông Gióp trên đây phần nào giúp cho những người đang gặp đau khổ, những gia đình đang gặp khó khăn, biết phải làm gì. Có thể than thở với Chúa một chút; có thể hỏi Chúa tại sao; có thể phân trần với Chúa; có thể van nài Thiên Chúa và có thể nguyện cầu với Chúa. Xin nhớ rằng: “Trong tất cả những chuyện ấy, ông Gióp không hề phạm tội cũng không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa.” (G 1,22).
Nhưng trên hết, xin đừng bỏ cuộc, xin đừng mất niềm tin vào Thiên Chúa quan phòng và yêu thương. Với tâm thế ấy, chúng ta cầu chúc cho nhau có thể vượt qua những đau khổ ở đời này. Đừng trách đau khổ vì nó không có lỗi. “Thà thắp lên một ngọn nến, hơn là nguyền rủa bóng đêm.” (Eleanor Roosevelt). Bởi nói như cụ Phan Bội Châu: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai.” Đường ấy có thể dễ đi hơn chỉ khi ta: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay.” (Tv 37,5).  
Giuse Phạm Đình Ngọc SJ (dongten.net)
[1] Ma quỷ liền trả lời: “Dĩ nhiên là hắn vâng lời và tuân phục Ông, vì Ông đã che chở và ban phát cho hắn đầy đủ mọi thứ: Nhà cửa, súc vật, ruộng nương, vợ đẹp con khôn. Thử lấy đi hết những gì hắn đang thụ hưởng, xem hắn có nguyền rủa Ông hay không?”

[2] Ở điểm này, chúng ta có thể bức bối với quyết định lạ lùng của Thiên Chúa. Ngài tốt lành và yêu thương con người, tại sao Ngài lại cho Satan hay đau khổ dày xéo thân phận con người? Đành rằng mỗi đau khổ đều có ẩn giấu một sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi ta, nhưng sao Ngài không dùng cách khác? Chắc chúng ta tạm chấp nhận giải thích của thánh Thánh Tôma Aquinô: “Thiên Chúa vẫn luôn có thể rút ra những điều tốt lành từ những sự dữ. Chẳng một đau khổ nào ta có thể giải mã được. Nhưng nó vẫn luôn đặt nền tảng trên sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa.” (Youcat 51).

MỪNG LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Một cách nào đó, chúng ta cũng mừng sinh nhật của Giáo hội. Bởi lẽ, chính biến cố hiện xuống đã đánh dấu chính thức sự hiện diện của Kitô giáo. Biến cố này không chỉ biến đổi các thánh tông đồ thành những nhân chứng kiên dũng của Đức tin Kitô giáo, nó cũng biến đổi thái độ và niềm tin của những ai gặp gỡ họ. Nhờ thế, cộng đồng Kitô giáo đã xuất hiện và phát triển. Chính từ biến cố này, sứ điệp của Tin mừng đã từng bước thẩm thấu và làm thay đổi nền văn minh của nhân loại. Bộ mặt của thế giới đã dần dần được biến đổi (x. Cv 2: 4- 11). Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống thiết nghĩ chúng ta nên nhìn lại đâu là nguồn sức mạnh thực sự đã và đang làm thay đổi bộ mặt của nhân loại và bộ mặt của thế giới này? Làm sao chúng ta có thể sử dụng nguồn sức mạnh này để được thay đổi cũng như để thay đổi lối sống và hoàn cảnh của chúng ta hôm nay?
Đức thượng phụ Ignatius of Laodicea đã nói rằng: không có Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa thật xa lạ, Đức Giêsu chỉ đơn giản là nhân vật độc đáo của lịch sử, Tin mừng chỉ là một cuốn sách cổ, Giáo hội cũng chỉ là một tổ chức như bao tổ chức khác, quyền lực là để thống trị, truyền giáo chỉ là tuyên truyền, phụng vụ chỉ là một hoài cổ, công việc của người kitô hữu chỉ là nô lệ; nhưng với Chúa Thánh Thần, Đức Kitô đã phục sinh và đang hiện diện, Tin mừng là nguồn mạch của sự sống, Giáo hội là sự hiệp nhất trong đời sống của Chúa Ba Ngôi, quyền lực là để phục vụ và giúp con người đạt được sự tự do toàn vẹn nơi Thiên Chúa, sứ mạng truyền giáo được khơi nguồn sức sống nơi chính Chúa Thánh Thần, phụng vụ là tưởng nhớ và nếm thử đời sống sung mãn của ân sủng nơi Thiên Chúa, công việc của người kitô hữu thì được thánh hóa.
Như vậy, chính Chúa Thánh Thần đã thay đổi bộ mặt của nhân loại và bộ mặt của thế giới này. Nếu không có Ngài, công việc của chúng ta trở nên vô ích và chỉ phục vụ cho những mục đích thấp hèn của con người. Tôi nhớ lại cách đây mấy năm, khi mà chúng tôi đang cắp sách tới trường thần học. Khi đề cập đến Chúa Thánh Thần và đời sống của Giáo hội. Thật bất ngờ khi mà một cha bạn của tôi xin đặt một câu hỏi cho cha giáo sư: thưa cha, thế Chúa Thánh Thần đã ở đâu và đang ở đâu, khi mà có biết bao công việc đã đi ngược lại với những đòi hỏi của Tin mừng. Một câu hỏi trời giáng đã làm yên lặng cả lớp học. Mọi người cứ ngỡ rằng Cha sẽ bị đuổi ra khỏi lớp học. Thế nhưng, cha giáo đã trả lời: đây là một vấn đề mà tất cả chúng ta cần tìm hiểu trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta. Chỉ sau khoảng hai tháng chính ngài đã có một bài “đi tìm một câu trả lời cho câu hỏi: Chúa Thánh Thần ở đâu trong thời đại của chúng ta?” Có lẽ hôm nay chúng ta cũng cần một câu trả lời cho chính chúng ta.
Chúng ta không phủ nhận dù chúng ta có nhìn thấy những tia sáng của hy vọng, nhưng tối tăm, khó khăn và những thách thức của cuộc sống luôn bủa vây cuộc đời của chúng ta. Trong hoàn cảnh này, có lẽ biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống sẽ là bài học cần thiết cho chúng ta. Các tông đồ xưa cũng đã từng phải đối mặt với những khó khăn của chết chóc, hiểu lầm, hiểu khác, hiểu sai, hiểu ngược. Và rồi bách hại, chán nản, bỏ cuộc, etc. Thế nhưng, phải nói rằng họ có một niềm tin sâu sắc đủ vào lời hứa của Đức Kitô. Họ đã kiên trì cầu nguyện. Họ đã lãnh nhận chính Chúa Thánh Thần (x. Ga 20: 21- 22). Họ đã được biến đổi và họ đã làm thay đổi thế giới (x. Cv 2: 1- 11). Phải chăng chúng ta đang cần học lại kinh nghiệm này của các thánh tông đồ?
Chúng ta tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và đồng hành với Hội thánh. Ngài hướng dẫn và thánh hóa Giáo hội. Chính vì thế mà Chúa Giêsu dám mạnh mẽ khẳng định rằng: không có quyền lực nào có thể phá đổ Hội thánh. Sẽ luôn luôn có những con người được tuôn đổ đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần, để Giáo hội phát triển trong mọi mặt. Những chứng nhân nổi bật trong Giáo hội đã gây ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới trong những năm gần đây chúng ta có thể kể đến mẹ Teresa Calcuta và Đức giáo hoàng John Paul II. Có thể chúng ta chưa phát hiện ra còn nhiều những con người đang âm thầm góp sức biến đổi những tiêu cực trong xã hội của chúng ta. Rất có thể một số là chính anh em của chúng ta đây? Chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng, Giáo hội sẽ luôn đứng vững, phát triển và trao ban ơn cứu độ cho muôn dân.
Tôi nhớ một câu chuyện khá thú vị. Một ngày kia Napoleon Bonaparte, với đầy uy quyền, nói với một Đức hồng y rằng: Tôi có thể tiêu diệt Giáo hội nếu như các ngài không theo mệnh lệnh của tôi. Vị hồng y khiêm tốn trả lời: Xin chúc mừng ngài, ngài thật uy quyền! Chính chúng tôi, nhiều linh mục của Giáo hội đã cố gắng thực hiện điều đó qua nhiều thế kỷ. Thật đáng tiếc, họ đã thất bại. Giáo hội vẫn tồn tại đầy sức sống. Nhưng Napoleon Bonaparte đã thất bại, bị khổ sai, và chết trong sự nhục nhã!Chúa Thánh Thần có thể biến đổi mọi sự nên tốt đẹp, kể cả tội lỗi của chúng ta.
Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, tôi có vài câu hỏi muốn được đặt ra cho chúng ta. Đã bao nhiêu lễ hiện xuống tôi đã tham dự? Chúa Thánh Thần đã thực hiện những gì trong cuộc đời tôi? Làm sao để lễ Hiện xuống năm nay có những thay đổi thực sự trong cuộc đời tôi?
Chúng ta đã chìm sâu trong lời cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần từ lễ Chúa lên trời. Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa không ngừng tuôn đổ ơn Chúa Thánh Thần trên chúng ta. Câu trả lời rất có thể không phải là Chúa Thánh Thần ở một nơi nào đó và Ngài không hoạt động. Ngài luôn hiện diện và thực thi công việc của Ngài trong thế giới này. Vấn đề là ở chính chúng ta! Liệu tôi có nghe tiếng Ngài? Tôi có tìm kiếm Ngài không? Tôi có đón tiếp Ngài không? Tôi có sẵn sàng để Ngài thực hiện công việc thánh hóa của Ngài qua tôi không? Chúa Thánh Thần sẽ không thể thực hiện điều gì, nếu như chúng ta từ chối Ngài! Câu trả lời sẽ là của mỗi người chúng ta.
Để nhận ra Chúa Thánh Thần và để Ngài hoạt động trong cuộc đời chúng ta – chắc chắn chúng ta không thể hơn các thánh tông đồ xưa – chúng ta cần cầu nguyện. Chúng ta không cần nói dài, nhưng đối thoại thường xuyên hơn với Ngài. Chúng ta cũng không cần nói nhiều, nhưng hãy mở lòng ra để đón nhận. Max Handel chia sẻ: cầu nguyện giống như chúng ta bật công tắc điện lên. Chúng ta không là nguồn điện năng. Nhưng chúng ta mở đường cho nguồn điện tuôn chảy qua và trong chúng ta. Đây có phải là cách mà chúng ta thường cầu nguyện? Nếu ngược lại, ai đang hoạt động trong chúng ta?
Có Chúa Thánh Thần, không có gì là không có thể. Nếu chỉ cậy vào tài năng của chúng ta, rất nhiều chuyện sẽ không có thể. Như vậy, nếu chúng ta nghĩ rằng chuyện gì đó không thể, thì rất tiếc rằng chúng ta đang bắt Chúa Thánh Thần phục vụ cho chúng ta. Hãy tin tưởng vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần, như Đức Kitô đã và đang tin tưởng nơi chúng ta. Đây là kinh nghiệm của những người “liều” đã hiến dâng cuộc đời cho sứ điệp của Tin mừng. Chính họ đã làm thay đổi biết bao con người. Chính họ đã làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Thật đơn giản, họ tin tưởng nơi Chúa. Họ biết Chúa có thể thực hiện những điều phi thường qua con người mỏng dòn của họ. Chính những con người đơn sơ, thậm chí không may mắn được cắp sách tới trường như hầu hết các môn đệ của Giêsu – mà một bài giảng có thể hoán cải từ 3 đến 5 ngàn người! Đâu là phép lạ? Đâu mới thực sự là sức mạnh? Khi họ chấp nhận để Chúa Thánh Thần hiện diện nơi mình. Khi họ chấp nhận để Chúa Thánh Thần nói qua con người và miệng lưỡi mình. Khi họ chấp nhận để cho “ngôn ngữ” của Chúa Thánh Thần được nói lên. Với “ngôn ngữ” của Chúa Thánh Thần, mọi sự có thể được biến đổi, lòng người có thể thay đổi, tội lỗi sẽ được tha. Chúng ta học được gì qua những kinh nghiệm này?
Có lẽ điều lo lắng lúc này không phải làm sao tôi có thể thay đổi chồng tôi, vợ tôi, bạn tôi, con tôi, kẻ thù tôi, người tội lỗi, etc? Làm sao tôi có thể dạy họ? Làm sao tôi có thể thuyết phục họ? Câu hỏi nào đang trong đầu ban? Không cần quan tâm bao nhiêu câu hỏi. Có một điều đơn giản hơn, chúng ta nên quan tâm – câu khẳng định của Đức Giêsu: Bình an cho anh em…Anh em hãy lấy Thánh Thần (Ga 20: 21- 22). Nếu chúng ta chấp nhân điều này – chính Thánh Thần sẽ là người thực hiện. Không ai trong chúng ta có thể làm phép lạ. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thực hiện. Đâu là sức mạnh có thể làm thay đổi? Hy vọng đây sẽ là thánh lễ Hiện xuống đặc biệt trong đời chúng ta.
Lm. Jos Đinh Công Phúc