TÂM TÌNH SỐNG MÙA CHAY DÒNG SÔNG THANH TẨY (1)

Từ thuở nhỏ chúng ta được giáo dục để có tham vọng, để thành công, để trở thành ai đó, và như thế trong tâm chúng ta đã ẩn tàng một sự phân chia bất bình đẳng.

Mùa chay – Mùa Sám hối. Sám hối trước tiên là trở về với Chúa từ trong sâu thẳm của lòng mình, vì Chúa chính là đại dương của tình yêu, để càng ngụp lặn trong nguồn cội, ta lại càng đón nhận được sức sống tuôn trào. Như vậy, cụ thể của việc sám hối là thanh tẩy tâm hồn mình. Thanh tẩy không chỉ là rửa sạch những bợn nhơ của tâm hồn, nhưng còn chính là “thay đổi lối sống”, đúng hơn là “thay đổi não trạng” (metanoia), để cho tinh thần của chúng ta (nous) được “đảo ngược” (meta) nhờ Thần Khí của Chúa. Những kiểu cách suy nghĩ theo “tinh thần thế gian” ít nhiều đã nằm vùng trong đầu óc chúng ta, nên cần đảo ngược lại theo “tinh thần của Chúa”.

Tội lỗi đã làm đảo lộn mọi sự trong đời sống con người, đảo lộn sự hoà hợp giữa tinh thần, linh hồn và thân xác; đảo lộn bậc thang giá trị sống… Sự đảo ngược của Thần Khí Thiên Chúa là thiết lập lại trật tự ban đầu của việc tạo dựng, làm nên sự hài hòa và thống nhất toàn thể thân-tâm. Khi bản thân còn bị phân rẽ và xáo trộn thì mọi sự đều mờ tối, khiến mọi hành động của ta đều bị biến dạng, biến chất. Khi hợp nhất với chính mình, ta mới có thể tiến đến sự hợp nhất với Chúa, và mọi sự đều sáng lên. Kinh nghiệm ấy chính là dấu chỉ của sự sống đích thực mà ta phải nhận ra trong đời sống đức tin, và phải òa lên vui sướng khi tìm lại được chân tính của đời mình.

Hành vi sám hối trong sự thanh tẩy là nền tảng để xây dựng tòa nhà thiêng liêng, để từ đó làm nên những tầng cao của đời sống thánh thiện. Muốn vậy, ta phải bắt đầu bằng sự thực hiện một cuộc thanh tẩy toàn diện: từ bên trong đến bên ngoài. 

I. THANH TẨY BÊN TRONG
Người ta thích làm sạch đẹp cái bên ngoài, và thường dựa vào đó để yên tâm hoặc tự hào về cái sạch đẹp bên trong tâm hồn. Biết rằng điều đó không trung thực, nhưng nó đã trở thành lối sống của người đời, có khi đã trở thành một thứ văn hóa hay một truyền thống mang tính tôn giáo. Chẳng hạn truyền thống rửa tay trước khi ăn của người Do Thái được coi như một phương dược tôn giáo để thanh tẩy những ô uế bên trong (x. Lc 11, 37- 41). Thế nhưng Đức Giêsu đã vạch trần sự thật:“Bên ngoài chén đĩa thì các ngươi rửa sạch, nhưng bên trong thì các ngươi đầy những chuyện cướp bóc gian tà”.

Người Việt ta vốn chuộng hình thức, ham sĩ diện, và trong xã hội hôm nay, nó trở thành một thứ bệnh. Phải chăng vì vậy mà cuộc sống trở nên bát nháo, vàng thau lẫn lộn, tình trạng nội tâm ngày càng hỗn độn, truyền thống đạo đức ngày càng xuống cấp, tạo nên bao điều thị phi điên đảo. So với người xưa, có lẽ chúng ta đã kém xa. Câu chuyện trong Cổ học tinh hoa sau đây cho ta một hình ảnh về việc thanh tẩy nội tâm rất thi vị.

Rửa tai hay rửa lòng?
Theo truyền thuyết của Trung Quốc, Vua Nghiêu nghe tiếng Hứa Do là người tài giỏi nên xin nhường cả thiên hạ. Hứa Do từ chối, lui về ẩn ở núi Trung Nhạc, phía nam sông Dĩnh Thúy.
Sau, vua Nghiêu lại tìm đến, cố mời Hứa Do làm tổng quản cả chín châu. Hứa Do không muốn nghe chuyện nữa, bỏ ra bờ sông Dĩnh Thúy rửa tai. Ngay lúc bấy giờ Sào Phủ đang dắt trâu xuống bờ sông, gặp Hứa Do đang rửa tai, hỏi:
- Vì việc gì mà anh phải rửa tai?
Hứa Do thuật lại câu chuyện, Sào Phủ liền gò cổ trâu lại mà nói:
- Ta toan cho trâu uống nước đây, e rằng lại bẩn cả miệng trâu.
Nói xong, dắt trâu lên quãng sông trên cho trâu uống nước. Sau đó Sào Phủ lên tiếng:
- Anh đã làm gì để đến nỗi vua Nghiêu biết anh là người hiền trong thiên hạ mà mời anh ra làm vua?”
Có cả thiên hạ mà cố nhường cho người khác là chuyện lạ. Người được nhường thiên hạ cho mà không nhận cũng thật lạ. Nghe chuyện nhường thiên hạ mà cho là chuyện bẩn, phải đi rửa tai lại lạ hơn. Không để cho trâu uống phải nước đã rửa tai ấy, sợ bẩn miệng trâu lại càng lạ hơn nữa. Rửa tai là một hành vi biểu tượng của sự thanh tẩy để lòng không vướng bận những cao vọng thường tình. Quả là một tâm hồn trong sáng.
Các cao sĩ đã bàn rằng đây là câu chuyện thâm thúy bậc thượng thừa của người xưa. Cái độc đáo không phải là Hứa Do rửa tai hay Sào Phủ dẫn trâu ngược dòng sông để tránh cho trâu uống phải nước bẩn của danh lợi, mà ở câu hỏi bất thần của Sào Phủ: “Anh đã làm gì...?”. Đến trong sạch như Hứa Do chắc cũng sửng sốt xem lại cái gọi là trong sạch của mình.

1. Thanh tẩy cái “mình là”
Mong muốn trở thành nhân vật tầm cỡ nào đó, hoặc mơ ước làm được điều gì đó thật lớn lao, thường là tâm trạng phát xuất từ sự lẩn tránh cô đơn, lẩn tránh thực tại, mà theo Krishnamurti là lẩn tránh cái đang là. Mong muốn thế chỉ nuôi dưỡng và làm tăng thêm nỗi buồn và sầu khổ vốn có.

Khi mong muốn làm tốt cho đời, có khi chúng ta cũng đồng thời nuôi dưỡng tranh chấp và khổ lụy. Mong muốn nhiều khi đã trở thành tham vọng. Tham vọng được biện minh là để có tiến bộ. Muốn tiến bộ thì phải thành công, phải trở thành nhân vật nào đó. Tại sao ta phải nỗ lực để giành thế thượng phong? Tại sao phải cố gắng hết sức để khẳng định mình, dù trực tiếp hoặc thông qua một ý thức hệ hay quốc gia, hoặc ngay trong phạm vi tôn giáo? Sự tự khẳng định mình như thế không phải là lý do chính cho sự xung đột và hỗn loạn sao? Không phải tham vọng này là do sự thôi thúc lẩn tránh cái đang là sao? 

Tại sao chúng ta lại sợ hãi cái đang là? Chạy trốn thì có ích lợi gì khi mà những gì chúng ta đang là luôn luôn hiện diện ở đó? Chúng ta có thể thành công trong việc chạy trốn, nhưng những gì chúng ta đang là vẫn ở đó, chỉ nuôi dưỡng thêm sự xung đột. Bản thân ta ngày càng trở nên phức tạp và vô phương giải quyết, vì chúng ta không dám đối mặt với cái hiện trạng mà mình đang là

Cái đang là chính là “Chim ri làm tổ trong rừng sâu không cần nhiều hơn một cành; chuột chũi đi uống nước sông không cần đầy hơn một bụng” (Trang Tử). Sự phức tạp sẽ trở nên nghiêm trọng khi chim ri có tham vọng đặt tổ trên nhiều cành và chuột chũi uống nước mãi quên ngừng.

Đối với người lý tưởng hóa thì bình đẳng là một ý niệm; đối với người biết quan sát thì nó là một sự kiện. Có sự bất bình đẳng thế này: anh khôn khéo hơn tôi, anh có nhiều khả năng hơn, anh biết yêu còn tôi thì không; anh biết vẽ, biết sáng tạo, biết suy nghĩ, còn tôi chỉ là kẻ bắt chước; anh giàu có còn tôi nghèo khổ. Sự bất bình đẳng đó đang tồn tại, đó là một sự kiện, dù chúng ta có thích hay không. Càng không thể cào bằng về năng lực, vì mỗi người mỗi khác theo thiên hướng của mình, nhưng đáng buồn là ta biến nó thành sự bất bình đẳng trong thân phận con người.

Chúng ta không xem năng lực như là năng lực, mà dùng năng lực để chiếm quyền lực, địa vị, danh giá, và rồi các thứ ấy trở thành danh phận. Và vì chúng ta quan tâm đến danh phận nhiều hơn năng lực, chúng ta tiếp tục duy trì sự bất bình đẳng. Không chỉ có sự bất bình đẳng ở bên ngoài mà rõ ràng còn có bất bình đẳng ở bên trong. Tất cả điều này là sự thực. Chẳng có pháp chế nào xóa tan được sự bất bình đẳng này. Nhưng nếu ta hiểu rằng, phải có tự do nội tâm để thoát khỏi mọi quan điểm độc đoán, lúc đó bình đẳng sẽ có một ý nghĩa khác hẳn. Chỉ khi ta xóa sạch được sự bất bình đẳng tâm lý mà mình đã tạo ra khi dựa vào danh phận, chức tước, địa vị, khả năng… ta mới có thể tiếp nhận một sức sống mới. Nói cách khác, nếu xóa tan được sự phấn đấu tâm lý để trở thành một ai đó, lúc đó mới có thể có tình yêu.

Làm sao một người đầy tham vọng biết được bình đẳng hay biết được tình yêu? Tất cả chúng ta đều có tham vọng và chúng ta hay nghĩ rằng đó là sự thăng tiến. Từ thuở nhỏ chúng ta được giáo dục để có tham vọng, để thành công, để trở thành ai đó, và như thế trong tâm chúng ta đã ẩn tàng một sự phân chia bất bình đẳng.

Hãy nhìn cách chúng ta đối xử với nhau, cách chúng ta kính trọng người này và khinh miệt người kia. Nếu nhìn vào nội tâm mình chúng ta sẽ thấy rằng, chính cảm thức bất bình đẳng này đã tạo ra nhiều thứ giai cấp, nên cũng tạo ra nhiều thứ tranh chấp ngay trong tư tưởng. Bên trong thâm tâm chúng ta xây dựng sự bất bình đẳng và lệ thuộc vào người khác, nên không còn tự do. Luôn luôn có sự phân hóa giữa người với người, bởi vì mỗi chúng ta đều muốn thành công, muốn trở thành ai đó.

Chỉ khi nào chúng ta làm cuộc thanh tẩy nội tâm, chúng ta mới thấy mình chẳng là gì cả, và trong tự do, chúng ta mới không lợi dụng sự bất bình đẳng để thăng tiến cá nhân. Nhờ đó, sự hiện hiện của ta lúc nào cũng có thể mang lại bình yên và an lành.

Chính Chúa Giêsu đã đặt nền tảng cho sự bình đẳng này khi Ngài tuyên bố: “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô.” (Mt 23, 8-11).

Khi tâm bình đẳng giữa mọi người và mọi việc, ta cảm thấy bình an và thanh thản biết bao. Vì không còn đối chọi và tranh chấp trong chính mình, không còn hố sâu ngăn cách giữa người với người, nên không còn phải lo toan, phòng thủ, hơn thua, được mất… chỉ còn lại niềm vui rất thanh tịnh cho tâm hồn.

Lm. Thái Nguyên

BỔN MẠNG THÁNG 3


THÁNG 3

NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
09/03
Lễ Thánh Françoise Romaine
Chị Lan
15/03
Lễ Thánh Louise de Marillac
Chị Giêng
19/03
Lễ Thánh Giuse
* Dì Thủy
* Chị Kim Tiên
* Bổn mạng TậpViện

 

Ghi chú:


*Từ ngày 10/03 đến 18/03: Làm tuần cửu nhật Kính Thánh Giuse -  Bảo Trợ Dự tỉnh


LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN



NGÀY
LỄ GIỖ
05/03/1977
(16/01/1977 ÂL)
Ông cố Bênêdicto - Thân phụ Dì Nhơn
14/03
Ông cố Gioan Baotixita - Thân phụ Chị Loan
16/03
Ông cố Lôrenxô - Thân phụ Chị Thảo (Dominique)
17/03/1997
(09/02/1997 ÂL)
Bà cố Anna - Thân mẫu chị Hoa


LINH THAO - CHƯA BAO GIỜ LỖI THỜI

Thao viên được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng của Đức Giêsu, trở nên giống như Ngài trong khó nghèo và sỉ nhục để có thể trở nên người phục vụ cho Nước Chúa.

Mới đây, cha Arturo Sosa, Bề Trên Cả dòng Tên, dưới sự phê chuẩn của Đức Thánh Cha Phanxicô,  đã công bố bốn ưu tiên tông đồ của toàn Dòng trong mười năm tới. Trong bốn ưu tiên đó, “chỉ dẫn con đường đến với Chúa ngang qua Linh Thao và nhận định” được nói đến đầu tiên. Bấy lâu nay, vai trò của Linh Thao vẫn luôn được nói đến trên mọi diễn đàn liên quan đến Dòng Tên và sự nhận định – một khí cụ đặc nét được nói đến trong Linh Thao – cũng được nhấn mạnh như một phương thế hữu hiệu và thiết thực trong việc đào luyện, trong cung cách hành xử cũng như trong việc thực thi sứ mạng của Dòng.
Là một di sản của Thánh Inhaxio, Đấng Sáng Lập Dòng, Linh Thao và nhận định đã sớm được nhiều người biết đến và thực hành trong đời sống thiêng liêng. Đã mấy trăm năm trôi qua, chúng vẫn giữ được một chỗ đứng quan trọng trong các phương thế giúp đưa con người về với Thiên Chúa. Đây thực sự là một quà tặng lớn lao mà Thiên Chúa ban tặng cho dòng Tên nói riêng và cho Giáo hội cũng như con người nói chung. Bởi đâu mà Linh Thao và nhận định có sức cuốn hút và mang một tầm quan trọng đến thế?
Đặc nét của Linh Thao
Sách Linh Thao là một tập hợp các chỉ dẫn của Thánh Inhaxio liên quan đến những phương pháp đào luyện đời sống thiêng liêng. Trong đó, ngài đã dành phần lớn để nói về việc làm Linh Thao. Các tu sĩ và giáo dân khắp nơi trên thế giới đã có dịp tiếp xúc với Linh Thao, đã trải nghiệm những khoảnh khắc thinh lặng của tâm hồn để gặp gỡ Chúa với sự đồng hành của một tu sĩ Dòng Tên hay người được đào tạo để làm việc này. Làm Linh Thao là việc thực tập những bài cầu nguyện theo một tiến trình. Những bài cầu nguyện này tuy khác nhau nhưng không độc lập với nhau. Trái lại, chúng ăn khớp với nhau, bổ túc cho nhau, liền mạch với nhau để giúp thao viên tìm gặp Chúa khởi đi từ chính con người hiện tại của mình.
Điểm đặc nét của Linh Thao, ngoài yếu tố cầu nguyện cá nhân theo những bài gợi ý trong một tiến trình như đã nói, còn hệ ở yếu tố “đồng hành” của người hướng dẫn. Có thể nói, đây cũng là một điều kiện thiết yếu để được gọi là “làm Linh Thao”. Vai trò của người đồng hành tuy chỉ là “trung gian” giữa Tạo Hoá với thụ tạo, nhưng cũng không kém phần quan trọng vì chính họ sẽ giúp thao viên tìm gặp Thiên Chúa qua việc lắng nghe, chia sẻ, đặc biệt là giúp họ đọc những chuyển động trong lòng. Những bài gợi điểm của người giúp Linh Thao cũng khởi xuất từ việc đồng hành cá nhân này, chứ không phải là một tập hợp những gì đã dọn sẵn đem áp dụng cho tất cả mọi người.
Cũng như bao hình thức giúp đỡ thiêng liêng khác, chất liệu để thao viên cầu nguyện khi làm Linh Thao là Kinh Thánh, đặc biệt là các sách Tin Mừng. Nhưng người đồng hành chỉ là người gợi điểm, nghĩa là gợi ý, vạch ra vài điểm nhỏ để các thao viên tự mình cầu nguyện, bắt gặp và cảm nghiệm Thiên Chúa. Linh Thao không phải là giờ học Kinh Thánh. Thao viên sẽ không được nghe giảng thuyết về Kinh Thánh. Người giúp Linh Thao không nhất thiết là những chuyên viên về Kinh Thánh hay những diễn giả hùng hồn. Họ phải có khả năng truyền đạt tư tưởng, phải biết về Kinh Thánh, nhưng hơn hết, họ phải là những người am tường về những chuyển biến nội tâm, nhạy cảm và đọc ra được những vấn đề của linh hồn để có thể giúp đỡ người làm linh thao cách hiểu quả nhất.
Bởi thế, trong Linh Thao, ý thức và sự tự giác của thao viên là điều rất quan trọng. Linh Thao có phát huy tác dụng hay không, phần lớn lệ thuộc vào sự quảng đại và mở lòng của người ấy với Chúa và với người đồng hành. Họ phải tuân thủ chương trình, phải giữ thinh lặng cả bên ngoài lẫn bên trong, vì sự thinh lặng sẽ giúp họ đi vào lòng mình dễ dàng hơn. Họ phải tin tưởng, chia sẻ cho người đồng hành biết những gì đến với họ trong giờ cầu nguyện, với hy vọng sẽ được giúp đỡ. Họ phải cầu nguyện theo phương pháp được chỉ cho họ. Đôi khi, để có thể hoàn thành các bài thao luyện, thao viên phải đạt đến một mức độ trưởng thành thiêng liêng nào đấy và thân thuộc với việc cầu nguyện. Trong Linh Thao, thao viên sẽ được hướng dẫn để trực tiếp gặp gỡ Thiên Chúa, để có kinh nghiệm cá vị về Ngài, một Thiên Chúa được cảm nghiệm bằng con tim chứ không phải chỉ được nhận biết bằng lý trí.
Lợi ích của việc làm Linh Thao
Các bài cầu nguyện theo tiến trình và có dụng ý của Linh Thao đặt thao viên trước câu hỏi về ý nghĩa sự hiện hữu của bản thân. Họ nhận ra điều đó khi đối diện với Đấng là Nguyên lý và Nền tảng của đời mình. Để rồi, họ nhận biết con người hiện tại của mình với biết bao ngổn ngang, mất trật tự, lẫn lộn giữa phương tiện và cùng đích, là những điều làm cho thao viên rơi vào khủng hoảng và bối rối. Họ không biết mình đang ở đâu và sẽ đi về đâu.
Thao viên được giúp đỡ để nhận biết tình trạng của mình, và thường thì đó là một tình trạng chẳng tốt đẹp gì, bởi nó bị nhuốm đầy những toan tính vẩn đục, xuất phát những một sự quy kỷ và lãng quên Thiên Chúa. Có đôi khi, đó là tình trạng mà người ấy đã không dám đối diện, không muốn đương đầu vì sợ phải nhìn thấy những góc khuất của đời mình. Độ lắng nhờ sự tĩnh lặng của con tim giúp thao viên đi vào trong lòng, nhận ra được điều mà bấy lâu nay mình không biết và cũng chưa bao giờ nghĩ là mình đang vướng phải. Họ thấy cách tường tận những vấn đề đó, những gốc rễ của sự bất an họ đang có; và đặc biệt, họ nghiệm thấy một Thiên Chúa đầy khoan dung, vẫn đang chờ đợi họ từng giây từng phút.
Từ khởi điểm nhận ra con người đang bị vây bủa bởi biết bao lớp mây mù đen tối, thao viên nghe được lời mời gọi giao hoà với Thiên Chúa, đồng thời nỗ lực sắp xếp lại những bận tâm và ý hướng theo một trật tự đúng đắn. Tình trạng tội lỗi cũng hệt như tình trạng hỗn mang mà sách Sáng Thế nói đến (x.St 1,1). Công trình sáng tạo của Thiên Chúa được ví như một cuộc sắp xếp lại mọi thứ và đặt để nó vào đúng vị trí và chức năng. Sắp xếp lại cuộc đời chính là thực hiện một công cuộc sáng tạo mới, nơi đó, thao viên cần ơn Chúa, cần sức biến đổi của Thánh Thần, để nhận ra và chỉ sử dụng những phương thế nào dẫn mình đến với Chúa, đồng thời loại bỏ những gì cảm lối mình trên bước đường thiêng liêng.
Không ai khác, chính Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, là khuôn mẫu cho việc sắp xếp này. Sau khi đã biết mình, thao viên được hướng dẫn để chiêm ngắm Đức Kitô, từ ý định cứu độ con người của Ba Ngôi Thiên Chúa, đến các mầu nhiệm được nói đến trong Tin Mừng, đặc biệt là khoảnh khắc Ngài hiến mình trên thập giá và phục sinh, để xin được ơn cùng cảm thức với Ngài, buồn nỗi buồn của Ngài, vui niềm vui của Ngài. Thao viên trải qua các bài cầu nguyện để xây dựng đời mình trên nền tảng kinh nghiệm cá vị với Chúa, thấu cảm được món quà cao quý được ban cho mình là trở thành con Thiên Chúa trong người Con của Ngài. Thao viên được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng của Đức Giêsu, trở nên giống như Ngài trong khó nghèo và sỉ nhục để có thể trở nên người phục vụ cho Nước Chúa.
Linh Thao cũng giúp người ta hiểu và cảm được thế nào là tình yêu đúng nghĩa, một tình yêu “hệ ở hành động hơn lời nói” và “luôn thông truyền chính mình cho nhau” (x.LT 230 và 231) mà chính Thiên Chúa đã tỏ lộ và nêu gương trước. “Hành động” mà Thiên Chúa thực hiện khi biểu lộ tình yêu của mình cho nhân loại chính là việc “thông ban chính Ngài”. Thao viên được hướng dẫn để nhận biết Thiên Chúa nơi những ơn mình nhận được; đặc biệt, họ thấy Thiên Chúa vẫn đang lao tác rất cật lực trong công trình sáng tạo vì ơn cứu độ của muôn loài. Vị Thiên Chúa ấy luôn luôn “hành động” và ngang qua “hành động”, Thiên Chúa không ngừng tỏ lộ chính mình để con người có thể chiêm ngắm, say mê và đi vào trong tương quan với Ngài. Và như một hệ quả tất yếu, con người sẽ được quyến rũ để trao dâng lại cho Ngài tất cả, trọn vẹn con người mình. Sự hiến dâng này đưa con người vào trong Thiên Chúa, để con người tiếp tục kết hiệp với Ngài ngay trong chính những biến cố thường hằng và nhỏ nhặt của đời sống. Từ đó, con người và Thiên Chúa trở nên gần gũi nhau hơn trong một mối dây tình yêu bền vững.
Linh Thao đích thực là một phương thế giúp biết mình, biết tình trạng của mình và biết đâu là con đường mình nên đi để tìm thấy hạnh phúc. Linh Thao đưa thao viên vào trong một tương quan cá vị có sức biến đổi, giúp thao viên tìm lại “hình ảnh Thiên Chúa” nguyên tuyền của mình và làm cho hình ảnh ấy được sáng lên theo khuôn mẫu của Đấng là “hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình” – Đức Giêsu Kitô.
Nối dài Linh Thao: khả năng nhận định
Nhiều người vẫn hay lầm tưởng rằng cứ sau khi làm Linh Thao là mình được biến đổi cách hoàn toàn, mình được đổi mới và đời sống thiêng liêng của mình đã vượt lên một bậc. Thật ra, Linh Thao không có tác dụng thần kỳ như vậy. Sau Linh Thao, thao viên có thể có được một vài thành quả nào đó. Họ sống chan hoà hơn, yêu đời hơn, họ thấy dễ yêu thương hơn như thể mình được lột xác. Nhưng chính thao viên cũng có kinh nghiệm này là “tình trạng biến đổi” ấy dường như chỉ tạm thời. Sau một khoảng thời gian nào đấy, họ lại trở về với nếp sống cũ, có khi còn sống tệ hơn. Những gì mà họ cảm nghiệm được nơi Linh Thao đã nhạt nhoà và không còn lôi cuốn gì nữa.
Người ta thường ví việc làm Linh Thao như một cuộc nghỉ ngơi để lấy lại sức, hệt như chiếc xe sau khi chạy một quảng đường dài cần được đổ xăng. Hiểu như thế cũng đúng, nhưng chưa toát lên hết được chiều kích huấn luyện của Linh Thao. Quả vậy, chúng ta không phủ nhận rằng Linh Thao giúp bổ sức cho linh hồn. Nhưng Linh Thao còn hướng thao viên đến sửa đổi và chỉnh đốn lại đời sống theo khuôn mẫu Đức Kitô; mà việc sửa đổi chỉnh đốn ấy không chỉ diễn ra từ việc chiêm ngắm các mầu nhiệm, nó cũng không phải chỉ diễn ra trong thời gian làm Linh Thao.
Linh Thao đích thực là trường dạy cầu nguyện qua các bài thao luyện. Và điều đặc biệt nơi trường học này là nó liên kết thao viên với cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống hậu Linh Thao. Chỉ chiêm ngắm, xin ơn và quyết tâm không thôi thì không đủ để giúp người ta sắp xếp lại cuộc đời. Muốn mặc lấy con người mới, thao viên cần tiếp tục tập luyện các nhân đức và loại bỏ lối hành xử cũ, nếp sống cũ. Điều này đòi hỏi một thời gian dài, có khi có cả thất bại. Như thế, Linh Thao không dừng lại ở những ngày thinh lặng và cầu nguyện. Nó cần và phải được tiếp tục trong cuộc sống thường nhật với những bổn phận và công việc. Sự tiếp nối từ Linh Thao vào sinh hoạt hàng ngày được thực hiện dựa trên ý thức về những nết xấu của bản thân và một quyết tâm diệt trừ nó bằng cách noi gương Thầy Chí Thánh Giêsu mà mình đã có dịp chiêm ngắm. Thánh Inhaxio đã nói rất rõ điều này khi trình bày về việc xét mình mà thao viên cần thực tập hai lần trong ngày.
Ngoài ra, một yếu tố khác cũng hết sức quan trọng trong quá trình đào luyện là sự nhận định. Hai bộ nhận định thần loại mà Thánh Inhaxio mô tả trong sách Linh Thao đã trở thành đề tài học hỏi, nghiên cứu của nhiều học giả. Có thể nói, nhận định là khả năng đọc những chuyển động nội tâm, thấy được những tác động cùng những lôi kéo của nó. Những chuyển động nội tâm ấy vẫn luôn tồn tại và được Inhaxio mô tả như là dấu vết hoạt động của các thần, thể hiện qua cái gọi là “an ủi thiêng liêng” hay “sầu khổ thiêng liêng”. Tuỳ vào mức độ trưởng thành thiêng liêng của đương sự mà các thần sẽ có những tác động khác nhau. Hay ngược lại, dựa vào cách thức các thần tác động mà mình có thể đoán biết được mình đang ở đâu trên hành trình đào luyện. Thánh Inhaxio, dựa vào kinh nghiệm của mình, đã chỉ rõ những nguyên tắc hoạt động của các thần để ta có thể nhận biết và chọn lựa cách ứng phó cho phù hợp.
Nhận định rất quan trọng trong hành trình đào luyện vì nó giúp thao viên luôn tỉnh táo và ý thức về hành trình thiêng liêng của mình. Nó cho thao viên biết mình đang ở đâu và nhắc nhở thao viên không ngừng để ý đến những chuyển động nội tâm, cũng như phải cảnh giác trước những cạm bẫy của kẻ thù và mở lòng ra với Thần Khí để được hướng dẫn. Một thói quen nhận định sẽ làm người ta nhạy bén hơn với các biến cố xảy đến trong cuộc sống, giúp họ canh chừng, không để cho những thói quen và nết xấu cũ quay trở lại. Một sự nhận định tốt không những giúp thao viên nhận biết vấn đề đang xảy ra mà còn cho họ khả năng dự đoán được những gì xảy sẽ đến; từ đó, họ có thể tìm cách phòng tránh bằng những phương pháp đã được Inhaxio chỉ bảo. Dần dần, họ sẽ thân thuộc với những gì thuộc về Thiên Chúa và sớm chê ghét những sự đời vì đã nhận ra được những giả tạo của nó. Con người của nhận định là con người thông thạo ngôn ngữ của Thiên Chúa, Đấng vẫn không ngừng nói chuyện với người ấy bằng những tác động trong một con tim nhạy bén với tiếng nói của Ngài.
Chưa bao giờ lỗi thời
Linh Thao và hoa trái của nó là sự nhận định chưa bao giờ trở nên lỗi thời, nếu không muốn nói là vẫn còn rất tức thời vì đối tượng của nó là tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng cho các tu sĩ để đáp ứng lại khao khát kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống của con người. Những vấn đề của kiếp nhân sinh và vòng lẩn quẩn của nhân tình thế thái luôn làm người ta thấy choáng váng và mệt mỏi. Tìm lại con người mình và vui hưởng bình an trong vòng tay yêu thương của Chúa là điều mà con người ở mọi thời đại luôn khắc khoải, mong chờ.
Linh Thao và nhận định giúp con người nhìn thấy tình trạng hiện tại của mình, đồng thời, giúp người đó khám phá ra sự quý giá của bản thân trước Thiên Chúa. Con tim họ được mở ra để nhìn nhận thực tại như nó là và thiêng liêng hoá tất cả bằng đôi mắt của Chúa. Trong cái nhìn toàn cục ấy, con người biết đặt để mọi vật vào đúng vị trí của nó và tái xây dựng lại bản thân. Nó đòi hỏi người ta một sự trả giá là dứt khoát đoạn tuyệt với nếp sống cũ và nỗ lực không ngừng để sống lối sống mới. Sẽ có một cuộc chiến nội tâm rất cam go khi phải chọn lựa giữa những giá trị mới và giá trị cũ, giữa cái cuốn hút linh thiêng của thần lành và vị ngọt quyến rũ phàm tục của thần dữ. Nhưng hơn hết, linh thao và nhận định giúp con người thấy mình gần Thiên Chúa, thấy Thiên Chúa như vẫn đang tương tác liên tục với mình và nơi con tim mình, đất với trời được nối kết.
Linh Thao và nhận định không lỗi thời vì nó luôn mở ra với Thần Khí để lắng nghe tiếng nói của Ngài trong mọi biến cố. Nó không phải là một linh đạo chết đi trên mặt chữ, nhưng được sống trong từng kinh nghiệm hàng ngày. Có thể nói, nó đẩy người ta đi tìm kiếm cái hơn trong sự nhạy bén với dấu chỉ thời đại. Nó không khép lại vì nó không được viết ra chỉ cho một thời đại nào đó, nhưng là cho mọi con người trong hành trình tìm kiếm Thiên Chúa. Vì hành trình này mãi không có điểm dừng, nên các phương pháp hướng dẫn nó cũng như vậy.
Có nhiều cách thức đưa con người đến với Thiên Chúa, nhưng Linh Thao và nhận định vẫn được xem là một trong những cách hữu hiệu và gần gũi nhất, có thể áp dụng cách rộng rãi cho mọi tầng lớp, trong mọi môi trường. Hơn ai hết, các Giêsu hữu là những người đã được đào tạo và sống trong môi trường này; họ có sứ mạng giới thiệu nó cho thế giới cùng với chứng tá đời sống của mình để đưa con người và Thiên Chúa đến gần nhau hơn. Trở thành cầu nối giữa Tạo Hoá với thụ tạo là điều mà mọi Giêsu hữu được mời gọi để trở thành ngang qua kinh nghiệm mà họ đã đụng chạm được khi làm Linh Thao và khi thực hành việc nhận định. Đây là một sứ mạng hàng đầu, một thách đố và cũng là niềm hãnh diện của những ai sống linh đạo Inhaxio. Bằng mọi giá, các Giêsu hữu phải luôn cố gắng giúp con người gặp gỡ Thiên Chúa vì chỉ có như thế, họ mới tìm thấy được ý nghĩa đích thực và đúng đắn về sự hiện hữu của mình và không ngừng lớn lên trong ân sủng của Thần Khí với tư cách là con cái Thiên Chúa trong người Con Giêsu.


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

'MẶC KỆ ĐI', CÂU THẦN CHÚ GIẢI THOÁT BẢN THÂN KHỎI GUỒNG QUAY TIỀN BẠC, QUAN HỆ, CÔNG DANH

Đứng trước những khó khăn trong cuộc sống, những mẫu thuẫn, cãi vã trong xã hội hay gia đình, đã bao nhiêu lần bạn “mặc kệ đi”? Liệu đó có phải là cách giải quyết tốt nhất hay không?

Bạn mặc kệ không phải bạn sợ hãi, nhút nhát, mà khi đó bạn tự tìm cho mình một lối thoát, một chút thời gian để thả lỏng bản thân, để chuẩn bị đối diện với cơn bão lớn trước mắt. Học được cách mặc kệ cũng chính là khi bạn hiểu được nghệ thuật không quan tâm.
Mặc kệ, không phải là tức giận, mà đó là quên đi.
Mặc kệ, không phải là oán trách, mà đó là thay đổi.
Mặc kệ, không phải là oan ức, mà đó là tha thứ.
Mặc kệ, không phải là diễn kịch, mà đó là khoan dung.
Khi bạn tổn thương, hãy nói với chính mình rằng: “Mặc kệ đi, coi tổn thương đó là bài học, lần sau sẽ cẩn thận hơn”.
Khi bạn tranh cãi với người khác, hãy nhắc nhở bản thân: “Mặc kệ đi, cãi tới cãi lui lãng phí thời gian, hao tổn tâm sức”.

Khi bạn đối diện với thất bại, hãy thuyết phục chính mình: “Mặc kệ đi, đạt được chưa chắc đã là phúc, mất đi chưa chắc đã là họa, tất cả là duyên trời định”.
Khi bạn chịu tủi thân, hãy an ủi bản thân rằng: “Mặc kệ đi, nhẫn nhịn được đó là chí khí, nhượng bộ được đó là trí tuệ, chịu tủi bây giờ, sau này may mắn sẽ tới”.
Một câu đơn giản “Mặc kệ đi” kỳ thực chẳng đơn giản chút nào, cần phải nỗ lực buông bỏ, cần phải thực lòng giải thoát, cần một tấm lòng khoan dung rộng lượng, cần đủ dũng khí để đối diện.
Mặc kệ đi! Đó không phải là thỏa hiệp, mà là một loại tâm thế.
Mặc kệ đi! Đây phải là bị khuất phục, đó là sẵn sàng từ bỏ.
Mặc kệ đi! Là an ủi, cũng là tha thứ, là dũng khi và cũng là sự kiên cường.
Cuộc sống này đâu phải lúc nào cũng vạn sự như ý, muốn sống thoải mái thì bạn phải suy nghĩ tích cực, muốn được vui vẻ thì bạn phải biết “đủ”. Khi bạn buông bỏ thứ tình cảm không thuộc về mình, buông bỏ những vật chất không phải của mình, chắn chắn bạn sẽ không còn bán mạng theo đuổi, cũng sẽ chẳng bao giờ cau mày phiền não.
Hãy học cách mặc kệ! Đừng so đo tính toán, đừng lo nghĩ quá nhiều. Lúc nào cũng phiền não há chẳng mệt mỏi sao? Lúc nào cũng giày vò vết thương há chẳng đau sao? So với việc than trời oán trách, chẳng thà mặc kệ mọi thứ, hãy sống cho mình.
Chỉ cần cuộc sống bình an, chỉ cần thân thể khỏe mạnh, chỉ cần ngày qua ngày lạc quan vui vẻ, gia đình hoà thuận, mất đi một chút thì có là gì, tiền tài không đủ thì có làm sao. An trú trong tâm hồn mới là điều quan trọng nhất.
ST

CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN - C

Trong cuộc sống, vẫn còn đó rất nhiều người dốt, nhưng lại được mua chuộc bằng tiền, bằng quyền để lãnh đạo và dạy dỗ người khác. Tệ hơn nữa là những kẻ đạo đức giả tạo lại oang oang nói về lòng nhân từ hay tha thứ một cách “ngọt như đường mía lau”!
Không những thế, những kẻ trá hình này lại còn lôi kéo nhiều người khác đi vào con đường mù quáng, sai trái của mình…
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu răn dạy các môn đệ và những ai bước theo Ngài trong vai trò chứng nhân, phải khôn ngoan, sáng suốt, thông hiểu về Giáo Lý và có đời sống gương mẫu, có đủ tư cách phù hợp với vai trò của mình và nhất là phải giữ vững bản chất của một người thuộc về Chúa để nên giống Chúa.
Nếu người môn đệ mà mù mờ về Giáo Lý, hiểu sai ý Thiên Chúa và sống một cuộc đời phản chứng, gương mù và biến chất, thì sẽ gây nên những hậu quả khôn lường. Bóng tối thêm vào bóng tối vẫn là bóng tối chứ không tạo ra được tia sáng nào. Mù mà dắt mù ắt sẽ rơi xuống hố.
Như vậy, muốn thành công, người môn đệ phải có sự hài hòa giữa đời sống nội tâm và hành động. Nói khác đi, cần phải làm gương trước khi khuyên bảo người khác… để lời nói và hành động của mình trở nên “nhất ngôn, nhất hành”.
Lạy Chúa Giêsu, xin chiếu giãi Ánh Sáng là Chân Lý của Chúa vào trong tâm hồn chúng con. Xin cũng cho chúng con luôn thuộc về Ánh Sáng và phải có trách nhiệm chiếu giãi Ánh Sáng đó cho mọi người. Amen.
Giuse Vinhsơn Ngọc Biển SSP