CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN-B

Ai đi xa cũng phải chuẩn bị hành trang. Chuyến đi càng xa thì hành trang càng nhiều. Chuyến đi càng quan trọng thì hành trang càng phải chọn lựa, tính toán. Hôm nay Đức Giêsu sai các môn đệ đi một chuyến quan trọng: tiếp nối sứ mạng của Người đem Tin Mừng đến khắp các làng mạc xa xôi. Để chuẩn bị cho chuyến đi quan trọng này, Đức Giêsu đã giúp các môn đệ sắp xếp hành trang. Sau khi đã loại bỏ những loại hành trang cồng kềnh không cần thiết, có hại cho nhiệm vụ, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ những hành trang thực sự cần thiết và hữu ích cho sứ vụ Tông đồ.
Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu. Các môn đệ chỉ được sai đi sau khi đã có một thời gian sống bên cạnh Người. Thời gian sống bên Đức Giêsu cần thiết để các môn đệ hiểu biết, cảm thông và nhất là yêu mến, gắn bó mật thiết với Người. Đây chính là hành trang quan trọng nhất. Người được sai đi phải gắn bó mật thiết với Đấng đã sai mình. Sự gắn bó mật thiết là nguồn mạch, bảo đảm tính trung thực, là chìa khoá thành công của sứ vụ. Đức Giêsu đã nêu gương về điểm này khi luôn gắn bó mật thiết với Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Người. Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha. Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.
Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác. Khi chỉ thị cho các môn đệ: “không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo”, Đức Giêsu muốn các ông sống trong cảnh nghèo khó để hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa. Tiền của, tiện nghi vật chất dễ tạo ra một thứ an tâm giả tạo, dẫn con người đến chỗ tự mãn, tự kiêu, tự phụ cho rằng mọi thành công là nhờ tài sức riêng mình. Vì thế, dễ tha hoá, làm theo ý mình hơn là làm theo ý Chúa, sắp đặt chương trình cho Chúa hơn là tìm thực hiện chương trình của Chúa. Nghèo khó sẽ giúp người môn đệ ý thức sự nghèo nàn thiếu thốn, sự yếu ớt của mình, ý thức đó sẽ giúp người môn đệ biết khiêm nhường, tin tưởng phó thác cho Chúa. Tôi chỉ là hư vô, là cát bụi. Mọi thành công đều của Chúa, nhờ Chúa. Những thành công do tài sức con người sẽ mau tàn. Chỉ có công trình của Chúa mới bền vững. Vì thế đơn sơ phó thác là một hành trang rất cần thiết cho người môn đệ. Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.
Hành trang của người môn đệ là tình liên đới. Đức Giêsu không sai các môn đệ đi riêng lẻ, nhưng sai từng hai người một. Người biết khả năng con người yếu kém, cần có tập thể nâng đỡ mới hoàn thành sứ mạng. Lời chứng của một cá nhân chưa đủ sức thuyết phục. Cần có sự đồng tâm nhất trí của một tập thể lời chứng mới thực sự đáng tin. Hơn nữa, Đức Giêsu không sai các môn đệ đi làm việc với giấy tờ hay đất đai, nhưng sai các ngài đến với con người. Các ngài phải sống giữa mọi người, nhờ mọi người giúp đỡ, chia sẻ cuộc sống với họ. Phải liên đới với con người. Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài làm việc tông đồ một cách hữu hiệu. Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng dễ dàng được đón nhận.
Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương. Đức Giêsu sai các môn đệ đến với những người đau yếu bệnh tật, hoang đàng tội lỗi, bị quỷ ma hành hạ. Tức là đến với những người kém may mắn ở đời. Những người nghèo hèn yếu đuối. Những người bị xã hội bỏ quên. Để đến với những người anh em bé nhỏ, người môn đệ phải có trái tim biết cảm thương. Các ngài phải mang trái tim của Thiên Chúa luôn chạnh lòng thương khi nhìn thấy đám đông bơ vơ tất tưởi, túng thiếu, đói khát. Phải sẵn sàng băng rừng vượt suối đi tìm một con chiên lạc. Phải mở rộng vòng tay đón nhận đứa con hoang đàng trở về. Phải sẵn sàng tha thứ cho kẻ tội lỗi thật lòng hối cải ăn năn.
Mỗi người chúng ta đều là môn đệ của Chúa. Khi chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội và Thêm sức, Chúa sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng của Người. Tôi thấy anh chị em ở Giáo xứ Cửa Nam rất tích cực trong việc tông đồ. Nhưng có lẽ anh chị em vẫn băn khoăn, không biết làm sao để việc tông đồ có kết quả tốt đẹp. Hôm nay, Đức Giêsu cho ta biết, muốn việc tông đồ có kết quả, ta phải gắn bó mật thiết với Chúa, phó thác mọi sự cho Chúa, đồng thời phải có tình liên đới và nhất là phải biết cảm thương anh chị em đồng loại. Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em. Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa. Liên kết mọi người trong tình yêu mến. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

KHƠI DẬY ĐỨC TIN ÂM Ỉ CỦA CHÚNG TA

Ta khơi dậy ngọn lửa đức tin bằng cách đưa mình trở về cội rễ lần nữa. Dù cho đức tin là một ơn Chúa ban, nhưng đôi khi thật hữu ích nếu ta đi lại con đường và xem xét những tác động trần thế nào đã giúp gầy dựng đức tin trong ta.

Bất kỳ ai từng xem một đám cháy đều biết đến một lúc ngọn lửa sẽ nguội đi và biến mất, thành than, rồi cuối cùng lạnh dần và trở thành tro tàn. Nhưng trong tiến trình đó, có một thời điểm, trước khi nguội hẳn, những khối than có thể âm ỉ đến nổi bùng cháy thành ngọn lửa trở lại.
Đấy là hình ảnh mà thánh Phaolô dùng để thúc giục chúng ta thắp lại ngọn lửa đức tin khi chúng dường như đang lụi tàn. “Tôi nhắc anh em hãy khơi dậy ngọn lửa ơn Chúa từng được trao cho anh em.” Đúng là một hình ảnh đầy ý nghĩa. Đôi khi đức tin chúng ta cần được khơi dậy trong cốt lõi để đức tin đó được sống động và hiệu lực. Nhưng làm sao để được thế? Làm sao ta khơi dậy trở lại ngọn lửa đức tin của mình?
Ta khơi dậy ngọn lửa đức tin bằng cách đưa mình trở về cội rễ lần nữa. Dù cho đức tin là một ơn Chúa ban, nhưng đôi khi thật hữu ích nếu ta đi lại con đường và xem xét những tác động trần thế nào đã giúp gầy dựng đức tin trong ta.
Ai và điều gì đã giúp đưa đức tin đến với ta? Dĩ nhiên, đây là một câu hỏi vô cùng riêng tư mà chỉ có chúng ta mới trả lời được cho mình. Với tôi, khi lần trở lại và tìm đến gốc rễ đức tin của mình, tôi tập trung vào vài điểm.
Thứ nhất, là đức tin và chứng tá của bố mẹ tôi, một điều vô cùng quan thiết. Đức tin là điều quan trọng nhất trong cuộc đời bố mẹ tôi, và ông bà đã làm mọi việc có thể để bảo đảm con cái mình là chúng tôi cũng thấy rõ đức tin như thế. Và cuộc sống của bố mẹ tôi chưa bao giờ đi ngược đức tin của họ. Đấy là một chứng tá mạnh mẽ và và là một món quà vô giá.
Rồi còn có chứng tá của giáo xứ tôi, một cộng đoàn nhập cư nông thôn, đủ nhỏ để mọi người đều biết nhau, biết niềm vui nỗi buồn của nhau và có thể chia sẻ với nhau trong đức tin, dù cho không phải lúc nào cũng nồng hậu hết mực. Cần cả ngôi làng để nuôi dạy một đứa trẻ, và trong trường hợp tôi là cần cả một giáo xứ. Khi lớn lên, tôi có thể nhìn quanh nhà thờ, và thấy hầu hết những người tôi quen biết, dù thân hay không thân, đều đang quỳ gối trong cùng một đức tin. Ngày nay, đó là chuyện hiếm, và tôi xem đó là món quà lớn tôi đã nhận được.
Tiếp đến là chứng tá dấn thân và đức tin của các xơ Dòng Ursula, những người đã đến vùng nông thôn chúng tôi để dạy trong các trường công. Các sơ không chỉ dạy chữ mà còn dạy giáo lý cho chúng tôi nữa. Đến tuổi thiếu niên, tôi đã học được hai quyển giáo lý và nắm bắt rõ ràng những kiến thức về đức tin của mình, một món quà mà về sau tôi mới nhận ra được tầm quan trọng của nó.
Cuối cùng, một điều đã ghi khắc cội rễ bền vững sâu sắc trong lòng tôi, chính là tiếng Chúa trong thuở thiếu thời. Thuở thiếu thời, tôi nghe tiếng Chúa mạnh mẽ và rõ ràng trong lòng. Tôi phải thừa nhận, có nhiều điều mà lúc đó tôi xem là tiếng Chúa, thật ra chỉ là những tiếng nói của sợ hãi, rụt rè, cục bộ, và cái tôi tự đại của mình. Nhưng phải thừa nhận, cũng có tiếng Chúa, rõ ràng, không thể chối cãi. Tôi biết thế vì phần nhiều những nỗi sợ, rụt rè, cục bộ, và cái tôi của tôi đã biến mất từ lâu, nhưng tiếng Chúa thuở thiếu thời vẫn còn trong tôi.
Tuy nhiên, đôi khi tiếng đó có thể khá lặng lẽ, và cảm giác như đó chỉ là tiếng nói của sự ngây thơ thuở nhỏ, như Ông già Noel, Thỏ Phục Sinh, và Chúa Giêsu, chứ không phải là một điều có thực hoặc từng rất có thực. Với tôi, cũng như với tất cả mọi người, đôi khi trí tưởng tượng và tính hiệu lực của đức tin bị cằn khô đến nỗi những bận tâm của tôi chiếm hết chỗ của Chúa. Lúc đó tôi cần phải khơi dậy khối than âm ỉ của đức tin bằng cách đi lại hành trình để đưa bản thân tôi vào lại đức tin của bố mẹ, vào những gì ghi khắc trong lòng tôi nhờ cộng đoàn giáo xứ, vào những chứng tá và giáo lý mà các sơ Dòng Ursula đã dạy tôi, và vào tiếng nói thần thiêng sâu sắc rõ ràng đã vang lên trong tôi và hướng dẫn tôi thuở thiếu thời.
Hành trình đi ngược trở lại này có thể hữu ích cho hầu hết mọi người, nếu biết để ý một điều. Cảm giác như Thiên Chúa im lặng trong cuộc đời người trưởng thành của ta, thật ra đó có thể là một cách Chúa hiện diện sâu sắc hơn, chứ không phải là sự đi xuống của đức tin. Thuở thiếu thời, tiếng Chúa thường rõ ràng, nhưng về sau, sự rõ ràng đó nhường đường cho “đêm tối tâm hồn” như lời các nhà thần nghiệm. Và khi đó sự thiếu vắng Thiên Chúa không phải là vấn đề mất đức tin nhưng là một sự hiện diện mới mẻ, phong phú hơn và bớt hình tượng của Thiên Chúa trong đời chúng ta. Sự sốt sắng không phải lúc nào cũng là dấu chỉ của một đức tin sâu sắc, cũng thế sự thiếu vắng Thiên Chúa không nhất thiết là dấu hiệu của một đức tin đi xuống. Thiên Chúa hẳn đang kiên nhẫn chờ đợi và sẽ đến trong đời chúng ta, theo cách của Ngài, chứ không phải theo cách của chúng ta.
Dù cho như thế, chúng ta vẫn cần nghe theo lời thánh Phaolô: “Tôi nhắc anh em hãy khơi dậy ngọn lửa ơn Chúa từng được trao cho anh em.”
Ronald Rolheiser,

J.B. Thái Hòa dịch

NĂM SAI LẦM BẠN CÓ THỂ VI PHẠM TRONG THÁNH LỄ MÀ BẠN KHÔNG BIẾT

Thánh lễ có nghi thức phụng vụ đã được ấn định rõ. Sau đây là năm sai lầm các bạn có thể vi phạm trong thánh lễ mà không biết.

1 – Khi linh mục dâng Mình Thánh Chúa, phải quỳ hay đứng?
Quy định chung của Sách lễ Rôma (số 43) ghi rõ: “Giáo dân quỳ khi dâng Mình Thánh Chúa trừ khi sức khỏe không cho phép, hoặc nơi chốn quá hẹp, hoặc có rất đông người, hoặc vì một lý do chính đáng nào khác”. Giáo hội khuyên nên quỳ khi dâng Mình Thánh Chúa và đứng lên khi đáp câu: “Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho đến khi Chúa lại đến trong vinh quang.”

2 – Chúc bình an
Tông huấn Bí tích Tình yêu của Đức Bênêđictô XVI (Sacramentum caritatis) ghi: “Trong Thượng hội đồng các giám mục, cần dung hòa cử chỉ này, đôi lúc mang hình thức thái quá, tạo lộn xộn trước khi Rước lễ” (SC n. 49).
Trong một bức thư, hồng y Cañizares, cựu giám chức của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích xác định chúc bình an không phải là bắt buộc: “Chúc bình an không phải là việc làm một cách máy móc khi không được thực hiện một cách đầy đủ”.

3 – “Nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”.
Chúng ta biết luật chung khi chấm dứt một lời cầu nguyện là đọc chữ “Amen”. Nhưng vì sao cuối Kinh Lạy Cha không đọc Amen? Chữ Amen trong tiếng hê-brơ dịch phỏng là “chớ gì được như vậy” được đọc sau mỗi lời cầu nguyện, nhưng không đọc sau Kinh Lạy Cha trong thánh lễ đơn giản là vì lời cầu nguyện chưa xong. Thay vì đọc “Amen” thì linh mục bắt qua lời cầu nguyện: “Lạy Chúa , xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Nhờ Chúa rộng lòng thương cứu giúp, Chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi và được an toàn khỏi mọi biến loạn, đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc, và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng con”.

4 – “Chính nhờ Người, bởi Người và trong Người…”
Có những lời cầu nguyện mà chỉ có linh mục mới được quyền đọc, chẳng hạn vào cuối lời cầu nguyện “Chính nhờ Người, bởi Người và trong Người…” dù cha chủ tế mời gọi cộng đoàn “cùng đọc chung” nhưng giáo dân nên giữ thinh lặng, đứng yên và long trọng trả lời “Amen”. Giáo dân cũng không nên đọc theo lời xin bình an: “ Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói với các Tông đồ rằng: ‘Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con…’, chỉ có chủ tế mới đọc lời này.
Phải phân biệt vai trò của linh mục và giáo dân trong thánh lễ để giáo dân không “dẫm chân” lên sứ vụ thiêng liêng của linh mục như người ta thường hay nói.

5 – Ăn chay trước khi rước lễ
Theo luật chung, Giáo hội xin giáo dân giữ chay một giờ trước khi rước Mình Thánh Chúa, nhịn ăn, nhịn các thức uống, nhưng nước lạnh và thuốc men thì được phép.
Ăn chay cũng là cấm nhai kẹo cao su trước và trong thánh lễ. Luật này bắt buộc và ai cố tình vi phạm bị Giáo hội cho là phạm sự thánh. Không vi phạm luật là dấu chỉ kính trọng, nhận thấy sự hiện diện của Chúa Kitô trong Phép Thánh Thể, một thái độ đúng để chuẩn bị rước Chúa.


Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

GIÚP NHAU SỐNG TỐT ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN

Muốn cộng đoàn được ổn định, phải có những kỷ luật mà mọi người, kể cả bề trên, phải tuân thủ nó. Kỷ luật giúp bạn chế tính tự do phóng khoáng quá mức của tu sĩ,...

Đời sống cộng đoàn là một phần của đời tu. Người tu sĩ nào sống tốt ba lời khấn thì cũng tự nhiên sống được đời sống cộng đoàn. Cũng tương tự, ai sống tốt đời sống cộng đoàn thì cũng giúp ích rất nhiều để người đó hoà nhập bản thân mình vào ba lời khấn tốt hơn. Những khó khăn và thách đố trong đời sống cộng đoàn mà chúng ta đã nói đến không nhằm mục đích khiến người tu sĩ cảm thấy sờn lòng, nản chí. Chúng ta chỉ cố gắng nêu lên thực tại, để có thể can đảm và thẳng thắn đối diện với nó bằng sự nỗ lực của bản thân và sức mạnh trợ giúp của Chúa, chứ không phải để trở nên sợ sệt. Quả vậy, nếu Chúa đã khởi sự điều gì thì Ngài cũng luôn đưa nó đến sự hoàn tất. Đời sống cộng đoàn là sáng kiến của Chúa, nên chắc chắn Ngài sẽ chỉ cho ta những phương thế giúp ta vượt qua được những khó khăn và sống đời sống cộng đoàn thật tốt, như một phương thế giúp ta nên thánh trong đời tu của mình. Để sống tốt đời sống cộng đoàn, dĩ nhiên không chỉ suốt ngày ngồi đó cầu nguyện xin Chúa, dù đây là điều cần thiết. Bản thân mỗi người phải nỗ lực và cộng tác hết sức mình.
Muốn cộng đoàn được ổn định, phải có những kỷ luật mà mọi người, kể cả bề trên, phải tuân thủ nó. Kỷ luật giúp bạn chế tính tự do phóng khoáng quá mức của tu sĩ, đồng thời, giúp đưa mọi thứ về trật tự cần có cho một đời sống chung. Nhưng mọi người phải sống tính kỷ luật trong sự tự nguyện, uyển chuyển chứ không coi nó như tiêu chuẩn tối cao bất khả thay thế. Phải biết kỷ luật từ bên trong con người mình, kiềm hãm những xung động trong tâm hồn mình, làm chủ những thúc đẩy xấu ra trong tâm trí. Kỷ luật bên ngoài phải là một sự trợ giúp để người tu sĩ hình thành một kỷ luật bên trong. Nhờ đó, họ mới có thể có được một nguồn nội lực thiêng liêng mà đào luyện mình cho tốt. Trong cộng đoàn, nếu ai cũng tuân thủ những quy định chung, chu toàn tốt bổn phận được giao thì mọi diễn biến cuộc sống sẽ trôi đi êm đẹp như con nước mùa thu.
Mỗi người cũng cần phải có sáng kiến để xây dựng cộng đoàn. Xem cộng đoàn như nhà mình và anh chị em như người thân của mình. Đừng chỉ biết lo cho bổn phận của mình rồi thôi, nhưng cũng nên tập quan sát để thể hiện lòng quảng đại của mình đối với mọi người. Có thể có ai đó đang cần mình giúp? Có thể có ai đó quên chưa làm việc bổn phận của mình mà mình có thể giúp được? Có thể nhặt một cọng rác, tưới một cành hoa… dù đó không phải là bổn phận của mình? Mỗi người cần có trách nhiệm với việc chung, đóng góp những tài năng, khả năng, sở trường của mình để giúp cho đời sống cộng đoàn thêm phong phú, nhưng không biến mình thành khác biệt so với những anh em khác trong cộng đoàn, hay làm cho mình quá nổi trội, lấn át người khác. Mỗi người cần phải hành động và phục vụ vì lợi ích chung của cộng đoàn hơn là lợi ích của mình. Phải có tinh thần hy sinh cho nhau, chọn việc khó cho mình, dành phần hơn cho người khác, xem người khác trọng hơn mình như lời Thánh Phaolô đã dạy.
Trong nếp sống chung, cũng cần có sự phân chia giờ giấc sao cho quân bình, ổn định. Có giờ lao động chân tay, giải trí, thể thao, giờ chơi chung, giờ chia sẻ, nơi mọi người có thể thoải mái vui cười chơi đùa với nhau. Những hoạt động này, ngoài giúp cho đời sống cộng đoàn, cũng giúp cho sức khoẻ, sự khiết tịnh và nhiều điều khác. Chính trong những thời điểm này mà anh chị em được hoà quyện cuộc sống của mình với nhau, chia sẻ với nhau những niềm vui nỗi buồn, thông tri cho nhau những điều mình biết và thể hiện sự liên đới dành cho nhau. Một tình bạn trong sáng và cởi mở cũng từ đó mà hình thành và phát triển. Quả vậy, muốn sống tốt với nhau thì phải bỏ đi những thành kiến không tốt về nhau. Đa phần thành kiến đến từ sự vô tri. Trò chuyện nhiều, chia sẻ nhiều, đặc biệt là những chia sẻ thiêng liêng sẽ giúp xua tan đi mọi hiểu lầm, nghi kỵ, đôi khi, nó cũng giúp vượt qua những rào cản vô hình mà bấy lâu nay mình đã xây dựng.
Ngoài ra, cộng đoàn cũng cần có những giờ mà mọi thành viên ngồi lại với nhau, thẳng thắn nhìn nhận những điểm tốt điểm xấu của cộng đoàn, để tìm cách phát huy hay khắc phục. Tiếng nói của mỗi người đều cần được lắng nghe và tôn trọng. Cộng đoàn phải thực tiễn, thẳng thắn nhìn nhận những yếu đuối chứ không sống trên mây. Phải biết cách khen tặng hay góp ý chân thành để giúp nhau sửa đổi trong tinh thần huynh đệ. Khi cần thì có thể đối thoại với tất cả sự tôn trọng lẫn nhau.
Người nào có thiện chí sống đời cộng đoàn thì chắc chắn sẽ luôn cố gắng tiếp cận với nhiều anh chị em mà mình chưa biết rõ hay những người mình ít có cảm tình. Đây là một hành vi rất khó thực thi, vì nó đi ngược lại với xu hướng thúc đẩy của thân xác. Nếu mình cảm thấy được mời gọi thì hãy làm. Còn không, ít ra là đừng làm gì để khiến cho tương quan vốn dĩ chưa tốt ấy trở nên tồi tệ hơn. Nhưng dù sao thì việc biết mình, biết người, chấp nhận mình và chấp nhận người, sống khiêm tốn, bỏ mình, bỏ ý riêng là điều rất cần thiết. Muốn tâm hồn bình an và có thể có tương quan tốt với người khác, cần phải bỏ đi lòng thù hận, ganh đua theo nghĩa tiêu cực. Hãy cố gắng mang lấy vui buồn của người khác làm của mình và thấy Chúa trong nhau, nhìn những khác biệt của anh em trong Chúa để có thể làm việc vượt trên thiện cảm và ác cảm. Để tránh những lệch lạc trong tương quan, cần phải học cách yêu anh chị em mình bằng một tình yêu nhưng không, nhân hậu và phổ quát. Ngoài ra, cũng phải học cách biết ơn nhau, phải biết mình cần đến nhau, biết mình là quà tặng của nhau, được Chúa gửi đến để bổ khuyết cho nhau.
Sống trong cộng đoàn, một lối hành xử tế nhị và đúng mực cũng là điều rất quan trọng. Mỗi cá nhân phải biết mở lòng, chủ động đến với người khác trước, phải biết ra khỏi mình để đến với người khác. Đừng bắt người khác làm theo ý mình, hãy chiều theo ý họ nếu điều ấy là tốt. Nếu không thể nói được những điều tốt đẹp về người khác thì cũng đừng nói hành nói xấu họ, đặc biệt là những người mình không ưa, dù có khi điều đó là đúng. Nếu cần góp ý họ điều gì, có thể góp ý cách trực tiếp hoặc thông qua bề trên hoặc ai đó mình tin tưởng. Việc nói xấu để thoả mãn cho sự nhiều chuyện và căm phẫn của mình chẳng giúp giải quyết được điều gì, mà chỉ có thể làm cho tương quan thêm tồi tệ, và làm cho cộng đoàn thêm chia rẽ. Trái lại, việc nói những điều tốt cho nhau sẽ giúp nối kết mọi người hơn. Biết cách ăn nói sao cho phải phép, kính trên nhường dưới nhưng không giả tạo. Sống trong cộng đoàn, đừng lúc nào cũng bận tâm cách thái quá đến những khác biệt. Hãy để ý nhiều hơn đến sứ mạng. Nhưng cũng đừng lấy cớ công việc mà tách ra khỏi cộng đoàn. Khi nhận biết trong cộng đoàn có ai đang chia rẽ, hãy cố gắng trong khả năng có thể trở thành sứ giả hoà bình. Đây là sứ mạng của tất cả mọi người, đặc biệt là bề trên. Đừng khó tính hay đòi hỏi quá, và quan trọng là phải biết tha thứ, cưu mang lẫn nhau mà sống.
Chúng ta đang cố gắng vạch ra những yếu tố giúp sống đời sống cộng đoàn thật tốt. Nó bao hàm một sự tu thân, mở ra và hướng thượng. Trợ lực trước hết giúp ta sống đời cộng đoàn chính là ơn Chúa, ý thức về sự hiện diện và lời mời gọi của Chúa. Tiếp đến là một nỗ lực mở ra với anh chị em, nhìn thấy Chúa trong họ, để rồi cuối cùng, ta cố gắng tu sửa bản thân mình, gọt đẽo con người mình sao cho hợp với đời tu qua cách hành xử, nói năng, đối nhân xử thế. Có được ba điều này, ta sẽ thấy được điều kỳ diệu nơi đời tu. Chính kinh nghiệm của các bậc thánh nhân đã cho chúng ta thấy điều đó.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN - B

“Cha Ta hằng làm việc, thì Ta cũng làm việc” (Ga.5, 17). Đó là câu Đức Giêsu nói với người Do Thái khi họ tra vấn tại sao Ngài chữa bệnh vào ngày sabát, tức ngày nghỉ theo luật của người Do Thái. Thiên Chúa luôn làm việc: Ngài lôi kéo con người đến với Ngài. Ngài có thể dùng biến cố này biến cố kia, hoặc người này người kia, hoặc ngay cả những giới hạn của mỗi người để giúp con người đến gần Thiên Chúa.
I. Vẫn có một tiên tri ở giữa họ
Tiên tri thường được nhiều người hiểu như người biết trước biến cố sẽ xảy ra. Một người như vậy, cho thấy người đó có quyền năng của Thiên Chúa. Thế nhưng theo đúng nghĩa, tiên tri là ngôn sứ, người đại diện Thiên Chúa nói với dân chúng, người nói với dân chúng theo lệnh của Thiên Chúa. Tiên tri, là một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa hiện diện và quan tâm đến dân Ngài.
Trong lịch sử Do Thái, Thiên Chúa luôn yêu thương và săn sóc dân. Người Do Thái đã nhận ra các thẩm phán, các vua, là những người được Thiên Chúa xức dầu, là những người thay Thiên Chúa dẫn dắt và chăn dắt dân. Môsê là người được Thiên Chúa chọn để dẫn dân ra khỏi Aicập (Xh.3, 9-10), Samson là thẩm phán được Thiên Chúa dùng để giải phóng dân khỏi cảnh đàn áp của người Philitinh (Tp.13-16), Samuel là thẩm phán được sai tới để chăn dắt dân.
Tiên tri là người biết nhìn lịch sử, nhận ra sự can thiệp của Thiên Chúa trong cuộc sống mà nhiều người khác không nhận ra. Cũng có tiên tri không muốn thi hành chức năng “nói nhân danh Thiên Chúa cho dân” vì vị tiên tri biết rằng, mình có loan báo, thì dân chúng và những người lãnh đạo dân cũng chẳng nghe; như vậy, rao giảng chẳng có ích lợi gì mà chỉ chuốc lấy sự thù ghét và tai họa. Về điều này, tiên tri Yêrêmia là một điển hình. Lời Chúa trong sách tiên tri Êdêkiel hôm nay cho thấy, cho dù dân chúng có không nghe lời cảnh báo của Thiên Chúa qua tiên tri, thì ít nhất khi một tiên tri thi hành chức năng ngôn sứ của mình, cũng làm cho con người thời đại đó biết rằng, có một tiên tri đang hiện diện giữa họ: Thiên Chúa vẫn đang quan tâm và săn sóc lo lắng cho họ, cho dù họ có vâng nghe Thiên Chúa hay không.
II. Dầu vậy Đức Giêsu cũng chữa một vài bệnh nhân
Đức Giêsu được dân chúng cho là một tiên tri, và là một tiên tri lớn (Mt.16, 14). Với người Do Thái, Môsê là một tiên tri lớn. Người Do Thái vẫn mong ước vị tiên tri lớn cỡ tầm mức Môsê xuất hiện; vì như xưa Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu qua Môsê, thì khi vị tiên tri lớn tầm cỡ của Môsê xuất hiện, Thiên Chúa cũng sẽ làm những điều trọng đại cho dân tộc Do Thái như ngày xưa Ngài đã làm.
Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ, đã chữa lành nhiều bệnh nhân, đã phục sinh người chết, đã cho kể điếc được nghe người câm nói được kể què được đi. Ngài là một tiên tri, và là một tiên tri lớn. Chính Gioan tẩy giả cũng nghĩ rằng Đức Giêsu là vị tiên tri phải đến, vị tiên tri mà dân Do Thái hằng mong ước. Có thể đó là lý do tại sao Gioan lại sai môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Ngài có phải là Đấng phải đến không?” Đã có lúc dân Do Thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, vì họ nghĩ rằng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu dân khỏi ách thống trị của người Roma (Ga. 6, 15).
Không có tiên tri nào được đón nhận nơi quê hương mình. Người ta quá thành kiến về quá khứ hoặc thành phần giai cấp xã hội của vị ngôn sứ, nên không nhận ra sứ điệp hoặc sự can thiệp của Thiên Chúa qua họ. Khi Đức Giêsu trở về làng Nadarét, dân chúng đã không tiếp đón Ngài như một tiên tri, cho dù làng Nadarét là một làng nhỏ, và dân chúng nơi đó cũng không thông thái gì hơn những người ở thành thị khác ở đất nước Do Thái. Vì họ thiếu niềm tin, nên Đức Giêsu không thể làm những dấu lạ cả thể, Ngài phải ra đi. Tuy vây, “Ngài cũng đã làm một vài dấu lạ bằng cách đặt tay chữa lành một số người ốm đau bệnh tật”. Thiên Chúa vẫn luôn chứng tỏ sự hiện diện và quan tâm của Ngài đối với con người, cho dù con người có cố tình từ chối. Đức Giêsu là sự hiện diện đặc biệt của Thiên Chúa cho con người, không chỉ đối với những người làng Nadarét, nhưng còn cả đối với tất cả người Do Thái thời đó, và còn cho tất cả con người của mọi thời đại sau nữa. Đức Giêsu là dấu chỉ và biểu tượng Thiên Chúa đang ở với con người.
III. Ơn Ta đủ cho con
Trước biến cố ngã ngựa trên đường đi Đamát, Phaolô là nỗi kinh hoàng đối với Kitô hữu. Tuy nhiên một khi được ơn trở lại, Phaolô lại là dấu chỉ của Thiên Chúa quyền năng, Đấng luôn hoạt động và làm con người trở lại với Ngài. Cả cuộc đời còn lại, Phaolô hăng say loan báo Tin Mừng Phục Sinh: Thiên Chúa đã làm những điều cả thể cho con người nơi Đức Giêsu Kitô. “Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi cả, trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi”. Với những người biết Phaolô, Phaolô là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa luôn hoạt động nơi con người.
Với cá nhân Phaolô, “cái dằm” đâm vào xác thịt của Phaolô lại là điều Thiên Chúa dùng để làm Phaolô ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa và làm Phaolô gần gũi với Thiên Chúa. “Đã ba lần tôi xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt tôi, nhưng Ngài nói: ơn Ta đủ cho con”. Thiên Chúa không cất “cái dằm” khỏi Phaolô, nhưng Thiên Chúa hứa ban ơn để Phaolô vượt lên được: “Ơn Ta đủ cho con”.
Nhiều người cũng có cái dằm nơi xác thịt mình. Có lẽ những người này cũng có kinh nghiệm xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt mình. Nhiều người trong họ có kinh nghiệm “cái dằm” đó vẫn tồn tại cho dù họ đã thành khẩn kêu xin Chúa nhiều lần. Tuy nhiên, không biết những người này có ý thức được rằng: câu Thiên Chúa nói với Phaolô cũng là câu Thiên Chúa muốn nói với mỗi người không? “Ơn Ta đủ cho con”. Hãy tin tưởng nơi Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã khởi đầu những điều kỳ diệu nơi mỗi người, thì cũng chính Thiên Chúa là Đấng sẽ hoàn thành những gì Ngài đã khởi đầu. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài vẫn đang hoạt động nơi mỗi người qua Thánh Thần của Ngài. Chỉ cần mỗi người tin tưởng và đặt tất cả hy vọng nơi Ngài mà thôi.
Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm