ĐÓN NHẬN VÀ LOAN BÁO LÒNG THƯƠNG XÓT

Bài giảng của Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên
trong Thánh lễ tại Đền Thờ Thánh Phaolô ngoại thành ngày 06/03/2018

Các Bài đọc: Đn 3,25.34-43; Mt 18, 21-35 (Thứ Ba tuần III Mùa Chay)
“Thưa Thày, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? có phải bảy lần bảy không?”
Kính thưa Cộng đoàn phụng vụ,
Nhân câu hỏi của Thánh Phêrô, Chúa Giêsu đã kể một câu chuyện dụ ngôn. Nội dung của câu chuyện vừa bao gồm giáo huấn về lòng thương xót của Chúa Cha, vừa là lời mời gọi con người hãy tha thứ cho nhau. Nếu theo quan niệm của con người, sự tha thứ dừng lại ở con số bảy, thì đối với Chúa Giêsu, sự tha thứ không có giới hạn: “Thày không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”. Đọc câu chuyện dụ ngôn này, chúng ta thấy một chuỗi những điều chênh lệch và cách biệt.
Sự chênh lệch thứ nhất là con số 7 và 70 lần 7 (tức là 490 lần). Con số 7 là cách nghĩ hẹp hòi tính toán của con người. Con số 70 lần 7 nói lên sự tha thứ không giới hạn của Thiên Chúa.
Sự chênh lệch thứ hai là giá trị của hai món nợ: Món nợ của người đầy tớ đối với ông chủ là mười ngàn yến vàng, trong khi người bạn kia nợ anh ta chỉ có một trăm quan tiền. Các nhà nghiên cứu lịch sử cho biết, đối với món nợ thứ nhất, một người có thu nhập bình thường phải lao động cật lực trong suốt một trăm năm mới kiếm đủ, trong khi đó, món nợ thứ hai, người ta có thể kiếm trong 3 tháng. Sự khác biệt này như một điểm nhấn để nói lên lòng bao dung của ông chủ rất lớn.
Sự cách biệt thứ ba, đó là sự bao dung của ông chủ và sự hẹp hòi của người đầy tớ vừa được tha nợ. Người đầy tớ vừa được tha một món nợ rất lớn, nhưng lại cố chấp và đòi bằng được một món nợ nhỏ của người anh em. Ông chủ trong dụ ngôn vừa được gọi là vua, vừa là tôn chủ và kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu kết luận: đó là hình ảnh của Chúa Cha. Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân hậu và sẵn sàng tha thứ, thì con người lại ích kỷ và giữ mãi hận thù.
Bài học được rút ra từ câu chuyện dụ ngôn do chính Chúa Giêsu công bố: “Ấy vậy, Cha của Thày ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho nhau” (c 35). Đây cũng là lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta trong kinh Lạy Cha, kinh mà chúng ta đọc hàng ngày: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Cảm nhận lòng thương xót của Chúa, người tín hữu phải thực thi lòng thương xót đối với anh chị em mình. Lòng thương xót của Thiên Chúa đã san bằng những cách biệt, nối liền những khoảng cách. Mùa Chay chính là thời điểm giúp chúng ta nhận ra khoảng cách ấy, để khiêm nhường sám hối và canh tân đổi đời. Một khi nhận ra lòng thương xót của Chúa, chúng ta sẽ đối xử nhân hậu với anh chị em mình.
Bài sách thánh trích từ sách ngôn sứ Đanien cũng cùng chung tư tưởng, diễn ta sự cách biệt giữa Thiên Chúa chí thánh và con người tội lỗi. Đó là lời cầu nguyện của ông Adaria giữa lò lửa (Bài đọc I). Ông đã ca ngợi tình thương vô bờ của Thiên Chúa, mặc dù dân Do Thái đã nhiều lần phản nghịch và phạm tội chống lại Ngài. Thiên Chúa luôn thương xót thứ tha, dân Israen luôn bất trung phản nghịch. Lời cầu nguyện này vừa là lời tôn vinh Chúa qua những điều kỳ diệu Ngài thực hiện trong lịch sử của dân Do Thái, vừa là lời cầu nguyện của niềm hy vọng cậy trông. Vì những ai tin vào Chúa sẽ không bao giờ phải hổ thẹn. Lòng thành tâm sám hối là của lễ đẹp lòng Chúa và nhờ đó, Chúa sẽ ban ơn tha thứ.
Kính thưa Cộng đoàn,
Chuyến viếng thăm Ad Limina của Hội đồng Giám mục Việt Nam được thực hiện trong thời điểm Mùa Chay. Mùa Chay là mùa trở về. Chuyến hành hương Ad Limina cũng là một cuộc trở về. Nếu lời mời gọi của Mùa Chay là trở về với Chúa, thì chuyến Ad Limina là cuộc trở về với cội nguồn đức tin. Nếu Mùa Chay nhắc ta ý thức bổn phận của người đã được lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thì cuộc hành hương nhắc ta trách nhiệm của sứ vụ tông đồ. Dừng chân suy niệm bên mộ Thánh Phêrô và mộ Thánh Phaolô tông đồ, chúng ta, các Giám mục, như được liên kết hơn bao giờ hết với các vị thủ lãnh đầu tiên của Giáo Hội, đồng thời cảm nhận tính liên tục của Giáo Hội qua mọi thời đại, bất chấp những bão tố phong ba. Giáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập, đặt nền móng trên Phêrô và có cột trụ vững chắc là Phaolô. Nhờ có nền móng và cột trụ vững chắc đó, quyền lực trần thế cũng không thể phá hủy. Lịch sử Giáo Hội hoàn vũ và cách riêng lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam đã chứng minh điều đó. Nghi thức viếng mộ hai Thánh Tông đồ mang đầy cảm xúc. Lời kinh nối liền Giáo Hội qua mọi thế hệ, đã hơn hai mươi thế kỷ. Lời kinh này không thay đổi, trong khi bao thế lực hùng mạnh của trần gian, đã có thời xưng hùng xưng bá, nhưng đã suy tàn và bị xóa sổ. Hội đồng Giám mục Việt Nam đến nơi linh thiêng này, để khẳng định lòng trung thành với đức tin đã được tuyên xưng từ thời các thánh Tông đồ, được thể hiện trong một Giáo Hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền. Cuộc viếng thăm Ad Limina cũng là dịp để các Giám mục, với tư cách là những người kế vị các thánh Tông đồ, thể hiện tình hiệp thông với Đức Thánh Cha, vị Đại diện Chúa Kitô ở trần gian và là Đấng kế vị Thánh Phêrô. Ngài là mối dây hữu hình liên kết mọi thành phần Dân Chúa trên toàn thế giới, và làm thành gia đình của Thiên Chúa.
Với tinh thần của Mùa Chay, là những giám mục, chúng ta được mời gọi cảm nhận lòng thương xót của Chúa. Nếu chuyến viếng thăm Ad Limina là cuộc trở về để được tiếp thêm nghị lực tông đồ, thì Mùa Chay lại là mùa trở về để đón nhận ơn tha thứ. Như bao tín hữu khác, chúng ta cũng cần sám hối vì những thiếu sót trong bổn phận, để rồi nhờ ơn Chúa, chúng ta thực thi sứ mạng loan báo lòng thương xót của Ngài một cách có hiệu quả. Có thể chúng ta mắc nợ Chúa những món nợ rất lớn. Chúa sẵn sàng tha cho chúng ta, trong khi đó chúng ta không sẵn sàng tha thứ cho anh chị em mình những món nợ rất nhỏ.
Chúng ta đang dâng thánh lễ tại Đền thờ mang tên vị Tông đồ dân ngoại là Thánh Phaolô. Cuộc đời và ơn gọi của Thánh Phaolô diễn tả lòng thương xót của Chúa. Từ một người đang bừng bừng căm giận và hung hăng tìm giết các Kitô hữu, Chúa đã biến đổi ông nên một tông đồ. Trước khi gặp Chúa Giêsu trên đường đi Damas, Phaolô cho rằng mình đang chiến đấu vì danh Chúa. Tuy vậy, lòng nhiệt thành chiến đấu của ông đặt không đúng chỗ. Chúa đã biến đổi cuộc đời ông và đã điều chỉnh để lòng căm thù của ông trở thành lòng nhiệt thành tông đồ. Phaolô đã mắc nợ Chúa một món nợ rất lớn, nhưng Chúa đã tha thứ. Không những thế, Ngài còn đặt ông làm tông đồ của muôn dân.
Đến nơi linh thiêng này trong chuyến Ad Limina, chúng ta cùng ôn lại cuộc đời và giáo huấn của Thánh Phaolô. Cùng với thánh nhân, chúng ta cảm nhận rằng Chúa đã thương “dành riêng và gọi chúng ta từ trong lòng mẹ” (x. Gl 1,15), để góp phần loan truyền Lời Chúa và dựng xây Giáo Hội với tư cách là người kế vị các tông đồ. Thánh Phaolô đã khiêm tốn nhìn nhận rằng: “là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa” (1Cr 15,9). Chúng ta cũng vậy, Chúa chọn chúng ta làm Giám mục không phải vì những công đức hay tài ba của chúng ta, nhưng do lòng nhân từ thương xót của Chúa. Truyền giáo là một sứ mạng đầy gian nan thử thách, Phaolô đã nhiều lần muốn chùn bước, nhưng Chúa khích lệ ông: “Ơn ta đủ cho con” (2Cr 12,9). Phaolô coi truyền giáo là một đam mê, thậm chí là một món nợ phải hoàn trả, vì vậy Ông tâm niệm: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Trải qua những thăng trầm gian khổ, Phaolô vẫn miệt mài kiên định trong các hành trình truyền giáo. Cảm nhận sâu xa về niềm vui trong sứ mạng tông đồ, Thánh nhân đã xác tín: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6,14). Trong cảnh tù đày và xiềng xích, ông vẫn vững vàng và quả quyết: “Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1,12). Niềm xác tín này đã giúp ông vượt qua tất cả. Ông còn lạc quan tin tưởng và chờ đợi triều thiên công chính Chúa ban cho mình như phần thưởng của lòng trung thành.
Kính thưa Cộng đoàn,
Sứ mạng loan báo Tin Mừng được trao phó cho mọi tín hữu, qua bí tích Thánh Tẩy. Một cách đặc biệt, các Giám mục chúng ta được Chúa đặt làm mục tử mặc dù chúng ta bất xứng. Chúng ta “được tuyển chọn giữa loài người và được đặt lên vì loài người mà lo việc thuộc về Thiên Chúa”. Cuộc hành hương này cũng nhắc nhở chúng ta về bổn phận quan tâm chăm sóc đoàn chiên được trao phó. Đã lãnh nhận nhưng không, chúng ta hãy trao ban nhưng không. Xin Thánh Phaolô tông đồ dạy chúng ta kinh nghiệm truyền giáo, để “trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người, vì Tin Mừng tôi làm tất cả những điều đó để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1 Cr 9,23). Vào lúc cuối của cuộc đời, ước gì chúng ta được nghe những lời ngọt ngào của Chúa: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi” (Mt 25, 23). 

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY-B

Chân lý gây xúc động sâu xa nhất mà Giáo Hội hằng rao giảng là chúng ta đã được Thiên Chúa yêu thương từ trước muôn đời. Kitô giáo được xây dựng trên một niềm xác tín vững chắc rằng tình yêu Thiên Chúa đã hạ cố đến thế giới đau khổ bệnh tật này qua con người Đức Kitô. Đối với mọi tín hữu, đây là lời cốt tủy của Tin Mừng. Không có đoạn văn nào trong Kinh thánh nói rõ điều này hơn là lời Đức Chúa Giêsu nói với ông cụ Nicôđêmô: "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã sai Con Một mình, ngõ hầu những ai tin vào Ngài sẽ không phải chết nhưng sẽ được sự sống vinh cửu."
Tình yêu chúng ta đối với tha nhân không phát xuất từ đâu khác hơn là tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta. Tình yêu Thiên Chúa dành cho thế gian này bao la bát ngát đến nỗi Ngài hiến tặng mạng sống mình cho tất cả, chẳng loại trừ ai... Thiên Chúa yêu thương từng người trong chúng ta cứ như là không còn ai khác để cho Ngài yêu thương. Ngài như người cha luôn mong muốn cùng gia đình đồng hành suốt cuộc đời, và không thể an lòng cho đến khi con cái đi đây đi đó ai nấy đều an toàn trở về mái ấm gia đình.
Chính khi nhìn vào thập tự giá, chứng kiến hình ảnh Đức Kitô chịu khổ hình treo trên thập giá, thấm đẫm bao nhiêu là quyền lực của sự dữ nơi tội lỗi, chúng ta mới bắt đầu nhận ra tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta cao cả biết bao. Tất cả mọi độc ác hận thù ghen ghét bất công của cuộc đời đều đổ dồn vào cây khổ giá, sừng sững giữa trời và đất, trên ngọn đồi Canvê. Một trong những chi tiết đầy ngỡ ngàng nhất về cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu chính là Thập giá nay trở nên bằng chứng tột cùng cho tình yêu Thiên Chúa. Thập giá sừng sững trên đồi cao, xưa kia là dấu chỉ của tủi nhục, nay trở nên chiếc cầu ân sủng thần kỳ có sức chữa lành cả thế giới. Cây chết chóc nay trở nên cây sự sống, cây thất bại nay trở thành cây chiến thắng.
Bài đọc thứ nhất cho chúng ta biết dân Do Thái đã bất tuân lề luật và phụ bạc tình yêu của Thiên Chúa như thế nào. Họ đã phá vỡ giao ước và kéo theo sự sụp đổ hoang tàn của đền thờ và thành thánh. Nhiều ngôn sứ đã lên tiếng kêu gọi thống hối và sửa đổi cách sống, nhưng vẫn hoài công, chẳng ai màng tới. Chưa hết, ngay trong những giờ phút đen tối nhất của cuộc lưu đầy, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi dân Ngài nhưng tiếp tục kêu gọi họ quay về với lề luật, với Thiên Chúa. Lịch sử dân Do thái thật là một kho lưu trữ nhắc nhở cho chúng ta hay biết những gì sẽ xảy ra mỗi khi chúng ta phủ phàng từ chối tình yêu Thiên Chúa. Lịch sử ấy cũng đem lại cho chúng ta niềm an ủi rằng chúng ta cũng phải đối diện với việc chọn lựa đón nhận hay từ chối lòng nhân từ yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta đã tự đặt mình vào một tình thế nguy hiểm là sống chia lìa với Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn kính trọng tự do cá nhân của chúng ta và sẽ không áp đặt ép uổng tình yêu của Ngài, đi ngược với những ước vọng chúng ta. Chúng ta có thể từ chối lòng thương yêu cũng như quà tặng tình nghĩa của Chúa. Chúng ta có thể quay lưng với tình yêu của Thiên Chúa mà ôm lấy bóng tối của tội lỗi và tự mình vĩnh viễn tách xa khỏi Ngài.
Hôm nay chúng ta đã đi được nửa con đường mùa Chay. Đây là lúc chúng ta duyệt xét lại những dốc lòng hồi đầu mùa Chay, và tự hỏi cuộc sống chúng ta đã hân hoan đáp lại tình yêu Thiên Chúa chưa? Tình yêu của Ngài có tìm được cách diễn tả qua nếp sống chúng ta chưa? Chúng ta đang làm gì để mang tình yêu của Ngài vào cuộc đời của bạn bè chúng ta? Mùa Chay là một lời mời gọi chúng ta bước ra khỏi nơi tối tăm của tội lỗi mà bước vào ánh sáng kỳ diệu của Đức Kitô.

Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR.

BỔN MẠNG THÁNG 3


THÁNG 3


NGÀY
LỄ
QUAN THẦY
09.03
Lễ Thánh Françoise Romaine
*Chị Lan (Hv)
15.03
Lễ Thánh Louise de Marillac
* Chị Giêng
19.03
Lễ Thánh Giuse
* Chị Thủy, Chị Kim Tiên,
* Các chị TậpViện

* Ghi chú: Từ ngày 10/03 đến 18/03: Làm tuần cửu nhật Kính Thánh Giuse -  bảo Trợ Dự -Tỉnh




LỄ GIỖ CHA MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

NGÀY
LỄ GIỖ

01.03
( 14.01 ÂL)
Bà cố Maria- Thân mẫu Dì Hằng
02.03
( 15.01 ÂL)
Ông cố Bênêdicto - Thân phụ  Dì Nhơn
14.03
Ông cố Gioan Baotixita- Thân phụ Chị Loan
16.03
Ông cố Lôrenxô- Thân phụ Chị Thảo (Dom)
25.03
( 09.02 ÂL)
Bà cố Anna- Thân mẫu Chị Hoa

  

THINH LẶNG

Giữa cuộc sống ồn ào đầy những bon chen tính toán, chúng ta có nguy cơ bị cuốn theo lối sống buông thả dễ dãi và sa đọa. Những toan tính mưu mô, những cạnh tranh khốc liệt có thể làm chúng ta lạc hướng. Nhiều khi chúng ta không còn biết mình là ai và sống để làm gì. Trong bối cảnh đầy rẫy những tính toán và cạnh tranh, cần lắm những giây phút thinh lặng để trở về với nội tâm, biết mình biết người và tiến bước trên con đường hoàn thiện.

Trước hết, chúng ta cần thinh lặng để nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện qua những kỳ công của Ngài. Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã viết:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem Trời giải nghĩa yêu”
(Đà Lạt trăng mờ).

Khi bình luận bài thơ này, có tác giả đã giải thích những lời của Hàn Mặc Tử như một tiếng “suỵt” ra dấu cho mọi người im lặng để thưởng thức những điều kỳ diệu xung quanh mình. Những điều kỳ diệu ấy vừa long lanh như giọt sương sớm, vừa mỏng manh dễ vỡ như chiếc bình pha lê, vì vậy một tiếng động nhỏ có thể làm tan biến mất. Trong thinh lặng và suy tư, chúng ta nghe được ngôn ngữ của Chúa qua thiên nhiên vũ trụ. Ngôn ngữ này là lời “giải nghĩa yêu”, tức là kể cho chúng ta biết về Tạo Hóa. Vẻ đẹp huy hoàng của tạo vật nói với chúng ta về quyền năng của Thiên Chúa. Ngài dựng nên bao điều tốt đẹp để phục vụ con người. Ngôn ngữ của tạo vật chỉ có thể được lắng nghe trong thinh lặng, để biến thành sự chiêm ngắm, cảm phục và tri ân. Tác giả Thánh vịnh đã thốt lên trước vẻ huy hoàng của vũ trụ: “Lạy Đức Chúa là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu. Uy phong Ngài vượt quá trời cao… Ngắm tầng trời do Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã tạo thành” (Tv 8,2). Thánh Phanxicô thành Asidi đã chiêm ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên và viết nên “Bài ca Mặt trời”. Trong bài ca này, vị thánh khó nghèo đã “tâm sự” với các tạo vật và gọi mặt trời, mặt trăng, gió nước… là anh chị em. Nơi vẻ đẹp của thiên nhiên, thánh nhân đã cảm nhận bàn tay Thiên Chúa và thốt lên: “Con xin chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con! Vì người chị của chúng con, người mẹ trái đất của chúng con, mẹ nâng đỡ chúng con và mang lại nhiều hoa trái, những bông hoa tươi đẹp, những cây cỏ xanh tươi”. Nhận ra vẻ đẹp của tạo vật giúp chúng ta yêu mến và ý thức bảo vệ môi trường cuộc sống. Trái đất này là ngôi nhà chung, do chính Thiên Chúa là kiến trúc sư tạo dựng. Con người phải biết bảo vệ ngôi nhà của mình nếu muốn sống an bình và hạnh phúc. Trước tình trạng tàn phá thiên nhiên và khai thác cạn kiệt tài nguyên một cách vô trách nhiệm, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đặt ra câu hỏi cho mọi người: Loại thế giới nào chúng ta muốn chuyển lại cho những người đến sau chúng ta, cho các trẻ em đang lớn lên? Những giây phút chiêm ngắm thiên nhiên sẽ giúp ta có cái nhìn mới, để yêu mến và bảo vệ công trình sáng tạo của Chúa. Giáo lý Công giáo cũng dạy chúng ta: khi chuyên cần lao động và ý thức bảo vệ môi trường, chúng ta cộng tác với Chúa trong công trình sáng tạo, để làm cho công trình ấy thêm rạng rỡ và hoàn hảo.

Thinh lặng để nhận ra vị trí của mình trong gia đình và cộng đồng xã hội. Những giây phút hồi tâm giúp ta trở về với chính mình, để nhận ra mình quá nhỏ bé trong vũ trụ mênh mông và trong thế giới loài người. Việc nhìn nhận này sẽ giúp ta khiêm tốn và thận trọng hơn trong cách đối xử với anh chị em. Khi ý thức mình là một thành phần nhỏ bé của cộng đồng xã hội, chúng ta sẽ biết sống hòa đồng với mọi người, tạo nên một xã hội liên đới và cảm thông. Chúa dựng nên chúng ta mỗi người một khuôn mặt, mỗi người một sở thích và quan điểm khác nhau. Sự khác biệt ấy không phải lý do để gây mâu thuẫn, trái lại, chúng tạo nên sự phong phú đa dạng trong cuộc sống xã hội. Nếu biết kết hợp những khác biệt ấy, cuộc sống này thấm đượm tình nhân ái, hài hòa như một bản hòa tấu du dương, phong phú và đầy sức sống.

Thinh lặng để nhìn lại cách sống của mình và mối tương quan với anh chị em. Chính trong thinh lặng mà ta nghe tiếng nói của lương tâm. Lương tâm khiển trách khi ta làm điều sai lỗi và khen ngợi khi ta làm điều tốt. Thinh lặng cũng giúp ta thẳng thắn nhận ra những yếu kém và khuyết điểm của mình, để quyết tâm sửa đổi. Lúc nóng giận, một người vốn hiền lành bỗng chốc trở thành kẻ sát nhân. Khi “mất khôn”, một lời nói có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Cổ nhân đã nói: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”, nghĩa là: một lời nói ra, bốn con ngựa khó mà đuổi kịp. Những giây phút thinh lặng giúp ta nhận ra mình còn nhiều giới hạn, nên phải cố gắng giữ gìn để sống hòa đồng với anh chị em xung quanh. “Kiêu ngạo bao nhiêu cũng chẳng đủ, khiêm tốn dù mấy cũng không thừa”. Lòng khiêm tốn giúp ta chiếm được tình cảm của mọi người. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã dạy: “Hễ ai nâng mình lên thì sẽ bị hạ xuống và ai tự hạ mình xuống thì sẽ được nâng lên” (Lc 14,11).

Thinh lặng để nhận ra ưu điểm của những người sống xung quanh. Sống trên đời, ai cũng có những điểm tốt. Điều quan trọng là chúng ta biết nhận ra những điểm tốt ấy. Thông thường, người ta hay săm soi và khai thác những khuyết điểm của một người, mà dễ dàng bỏ qua điểm tốt nơi họ. Con người ta, dù gian ác đến đâu chăng nữa, trong thâm tâm của họ vẫn còn những điểm tốt. Nếu biết khôn ngoan khéo léo khơi dậy những điểm tốt ấy, ác nhân vẫn có thể phục thiện và hòa nhập cuộc sống. Trong những giây phút thinh lặng, ta nhận ra nơi bạn bè, đồng nghiệp những điều tốt lành, từ đó, ta tôn trọng họ và nhìn họ với cái nhìn mới.

Mùa Chay là mùa trở về, trở về với Chúa và trở về với anh chị em. Đây là mùa thuận tiện giúp ta cảm nhận tình thương của Chúa. Chỉ trong những giây phút thinh lặng, chúng ta mới có thể sống tinh thần Mùa Chay cách hiệu quả. Phụng vụ Chúa nhật I Mùa Chay, cả ba năm A,B,C đều cho chúng ta chiêm ngắm hình ảnh Đức Giêsu trong hoang địa. Chúng ta hãy vào hoang địa với Người, để cầu nguyện, suy tư và để tâm sự với Chúa trong thinh lặng, nhờ đó chúng ta sẽ được xem “Trời giải nghĩa yêu”.

Hải Phòng, Mùa Chay 2018
+Gm Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY-B

Một trong những vấn đề lớn của thế giới hiện nay là nạn ô nhiễm môi sinh. Các giòng sông đang bị ô nhiễm vì biết bao chất thải dơ bẩn, độc hại. Không khí ta hít thở đang bị đe dọa vì bụi bặm, vì khói xe, khói nhà máy. Nước biển bị ô nhiễm vì nạn dầu nhớt rò rỉ, vì chất thải của những lò phản ứng nguyên tử. Tầng khí quyển bị những chất khí độc chọc thủng đang làm thay đổi khí hậu và gây ra những căn bệnh nguy hiểm. Để con người có thể sống và phát triển được, thế giới cần phải được thanh tẩy khỏi các nguồn ô nhiễm.
Sự ô nhiễm không chỉ trong môi trường vật lý. Nhiều môi trường khác như môi trường văn hóa, môi trường đạo đức cũng đang bị ô nhiễm trầm trọng. Tôn giáo không tránh khỏi nạn ô nhiễm. Muốn cho bầu khí đạo đức được trong sạch, muốn cho đời sống tâm linh tồn tại và phát triển, tôn giáo cũng cần được thanh tẩy. Hôm nay Đức Giêsu vào Đền thờ và đã thanh tẩy Đền thờ. Người đã làm 3 cuộc thanh tẩy
1) Người đã thanh tẩy Đền thờ khỏi ô nhiễm vì súc vật. Trong nghi lễ của đạo Do Thái, cần có súc vật để dâng cho Thiên Chúa. Khi dâng lễ hy sinh, người ta mổ một con thú, đặt trên bàn thờ rồi đốt lửa thiêu con vật. Mùi mỡ cháy quyện khói xông lên nghi ngút. Người giầu thì dâng một con bò hay một con chiên. Người nghèo có thể dâng một cặp chim bồ câu hoặc một đôi chim gáy. Để đáp ứng nhu cầu của tín đồ,dịch vụ cung cấp lễ vật mau chóng thành hình ngay trong khuôn viên Đền thờ. Ta hãy tưởng tượng một chợ trâu bò ngay trong Đền thờ. Thật là dơ bẩn, ồn ào và chướng tai gai mắt. Nhưng nhu cầu đã biện minh cho sự ô nhiễm. Và dân Do Thái mặc nhiên chấp nhận để cho súc vật nghễu nghện ngự trị ngay trong khuôn viên Đền thờ rất nguy nga, rất lộng lẫy, rất cao sang mà họ từng ca tụng là “đền vàng”, là “nơi thánh”. Thấy nhà Chúa bị xúc phạm, Đức Giêsu không kiềm chế được cơn giận, đã lấy roi xua đuổi hết súc vật và cả đám con buôn ra khỏi Đền thờ.
2) Khi xua đuổi các con buôn ra khỏi Đền thờ, Đức Giêsu đã thanh tẩy thói tôn thờ ngẫu tượng. Theo Đức Giêsu, ngẫu tượng nguy hiểm nhất là tiền bạc, tức là thần “Mammon”. Đã có lần Người lên tiếng cảnh báo: “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của”, và “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào nước Thiên đàng”. Những con buôn đưa súc vật vào Đền thờ không do lòng yêu mến Thiên Chúa, nhưng vì lợi nhuận. Đưa súc vật vào nơi tôn nghiêm, họ đã coi trọng tiền bạc hơn Chúa. Để cho súc vật làm ô uế Đền thờ cao trọng, họ đã dùng Đền thờ làm phương tiện phục vụ túi tiền của họ. Các tư tế coi sóc Đền thờ có lẽ cũng được chia phần nên đã cho phép con buôn được tự do họp chợ trong Đền thờ. Họ cũng như con buôn, coi tiền bạc trọng hơn Thiên Chúa. Họ đã rơi vào thói tôn thờ ngẫu tượng: thờ tiền bạc, dùng Chúa và Đền thờ để phục vụ tư lợi.
3) Khi đuổi súc vật ra khỏi Đền thờ, Đức Giêsu muốn thanh tẩy cung cách thờ phượng của ta. Trước kia người ta dâng súc vật làm của lễ. Lòng đạo đức được đo lường bằng sức nặng của con vật. Dâng con vật to sẽ được nhiều ơn phúc. Nay, Đức Giêsu cho thấy Chúa đã chán thịt bò, mỡ dê. Chúa đã ghê sợ mùi khói mùi khét lẹt, mùi máu tanh tưởi (cf. Is 1,11). Thánh vương Đavít đã hiểu: “Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận” (Tv 50,16). Chúa muốn ta đến với Người bằng chính bản thân ta. Lễ dâng đẹp lòng Chúa là thái độ khiêm nhường thống hối như lời Thánh vịnh: “Lễ dâng Chúa là tâm hồn thống hối. Một tấm lòng tan nát dày vò, Chúa sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50). Lễ dâng đẹp lòng Chúa là phó thác trót cả tâm hồn thân xác trong tay Chúa như Đức Giêsu đã làm trên Thánh giá: “Lạy Cha, con dâng phó hồn con trong tay Cha”. Lễ dâng được Chúa vui lòng chấp nhận là sát tế chính bản thân mình để làm theo ý Chúa: “Máu chiên bò Chúa không ưng. Của lễ toàn thiêu Chúa không nhận. Thì này con đến để làm theo ý Chúa (Tv). Ta sát tế chính bản thân mỗi khi ta từ bỏ ý riêng, chiến đấu chống lại những cơn cám dỗ của dục vọng, tiền bạc, thói gian tham, tính tự ái kiêu căng, sự chia rẽ bất hòa.
Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ. Người muốn ta hãy tiếp tục công việc của Người. Giữ gìn cho nhà thờ luôn sạch đẹp, có bầu khí tôn nghiêm là điều cần thiết. Nhưng cần hơn vẫn là giữ gìn ngôi Đền thờ thiêng liêng là chính bản thân ta. Tâm hồn chính là cung thánh nơi Chúa ngự. Ta phải luôn luôn thanh tẩy tâm hồn để xứng đáng với Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói tôn thờ tiền bạc, coi trọng tiền bạc hơn Chúa. hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi những dục vọng đam mê làm ô uế cung thánh của Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói gian tham, bất công. Hãy thanh tẩy tâm hồn ta khỏi những kiêu căng đố kỵ. Thân xác ta là Đền thờ của Chúa. Hãy kính trọng thân xác của mình và của người khác. Hãy tu bổ những Đền thờ thân xác đã xuống cấp, suy tàn, bị xúc phạm, bị bán rẻ. Hãy sửa chữa những Đền thờ thân xác đang bị bào mòn vì bệnh tật, vì đói khát, vì thương tích. Hãy kính trọng thân xác của người khác vì đó là Đền thờ của Chúa.
Trong mùa Chay này, ta hãy cố gắng thanh tẩy bản thân, để tâm hồn và thân xác ta trở thành một Đền thờ xứng đáng cho Chúa ngự.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt