TỪ NIỀM TIN ĐẾN NIỀM VUI.

Khác biệt giữa niềm vui, và thú vui.
Niềm vui và nỗi buồn là những cảm xúc về mặt tinh thần của con người. Trong khi thú vui và đau đớn do tai nạn, hay do bệnh tật… là những cảm xúc của thân xác. Niềm vui và nỗi buồn thường kéo dài, trong khi thú vui và đau đớn thường mau qua.
Có nhiều yếu tố giúp ta có niềm vui như thi đỗ, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ; dành được huy chương vàng; cứu được một người khỏi chết đuối; giúp một lớp học thoát mù chữ; chặn được đám cháy; niềm tin vào Đấng Tối cao, giúp ta có niềm vui suốt đời...Ta tìm hiểu:
Niềm tin tác động đến niềm vui của con người ra sao?
Một xã hội khủng khoảng niềm tin
Hình ảnh vị Giáo sư Tiến sĩ, linh mục Daminh Lương Kim Định (1915-1997), với bộ áo dòng trắng, ung dung tự tại, đi vào trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn trước những năm 1975 đã gây ấn tượng, sự ngưỡng mộ và lòng kính trong với bao lớp sinh viên thời đó! Tôi thì đặc biết ấn tượng với bốn câu thơ, Ngài trích dẫn từ sách Kinh Thư III nơi giảng đường Đại học:
“Nhân tâm duy nguy.
Đạo tâm duy vi.
Duy tinh duy nhất.
Doãn chấp quyết trung”. Dịch:
“Lòng của trời siêu vi huyền ảo.
Lòng của người điên đảo ngả nghiêng.
Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm.
Ra công, ra sức giữ nguyên lòng trời”.
Lời nhận định trong Kinh Thư ngày xưa: “Lòng của trời siêu vi huyền ảo/Lòng của người điên đảo ngả nghiêng” đang diễn ra hàng ngày trong xã hội Việt Nam hôm nay. Xin trích dẫn để minh họa cho nhận định trên: Báo Tri Thức Việt Nam ngày 03 tháng 01 năm 2018, tác giả Sơn Vũ đã mô tả: “Trong sáng ngày 09 tháng 06 năm 2017, tại Kỳ họp Quốc hội khóa XIV, Đại biểu Đặng Thuần Phong (Bến Tre) nói trước Quốc hội về 6 điều bất an mà nhân dân luôn bức xúc: “Tham nhũng, lãng phí, thương mại hóa quan hệ xã hội, tài nguyên cạn kiệt, và vấn đề an toàn sống”. Và tác giả kết luận: “Khủng khoảng niềm tin là hiện tượng đang thực sự xẩy ra trong xã hội chúng ta, ở trên mọi khía cạch cuộc sống của người dân từ thành thị cho đến nông thôn…”  Thật đau lòng biết bao!
Từ niềm tin đến niềm vui
Ta thường nghe: “mất niềm tin là mất tất cả”; trong các Cty, Doanh nghiệp, người ta còn đề cao niềm tin khi chọn những khẩu hiệu: “Niềm tin của các bạn là tài sản của chúng tôi”. Quả đúng thế, làm sao ta có thể bình an, an vui, hạnh phúc, có niềm vui, khi trong lòng đầy mưu toan, nghi hoặc, hận thù…
Niềm vui sẽ biến mất khi niềm tin không còn nơi mỗi chúng ta!
Mất niềm tin, gia đình ly tán
Trong một gia đình, mà chồng hoài nghi vợ; vợ hoài nghi chồng, hoặc “Chồng ăn chả; vợ ăn nem…”, con cái không tin tưởng nơi cha mẹ; cha mẹ không tin tưởng nơi con cái, thì hỏi làm sao gia đình đó là một tổ ấm được? Sớm muộn gì gia đình đó cũng sẽ tan nát đổ vỡ. Cảnh tượng đó đang tràn ngập trong xã hội, từ thành thị đến nông thôn. Bao mảng đời bất hạnh, những cháu bế bơ vơ “đầu đường xó chợ” khắp nơi…Đau xót hơn, hàng triệu cháu bé không được chào đời vì nạn phá thai tràn lan...
“Tại TP.HCM hiện nay cứ bình quân 2, 7 cặp kết hôn lại có 1 cặp ly hôn. Rõ ràng, tình trạng ly hôn trong giới trẻ ngày càng phổ biến, nhất là tại các khu đô thị, thành phố lớn. Độ tuổi ly hôn dưới 35 tuổi chiếm tỉ lệ 30% và năm sau có xu hướng tăng hơn năm trước…Cũng theo các luật sư tỉ lệ hòa giải ly hôn thành chiếm tỉ lệ rất thấp, và mỗi tháng bình quận mỗi quận huyện tại TP.HCM có từ 80 - 100 vụ ly hôn.

 (Theo Trung tâm Tin tức VTV.VN 24 ngày 01- 08-2018).
 “Người dân mất niềm tin, thì đất nước khó bình yên” (TT. Nguyễn Xuân Phúc)
Đã hơn bốn mươi năm, quê hương thân yêu Việt Nam yên tiếng súng. Vể bề ngoài thì đất nước ta không chiến tranh, được bình an. Nhưng tận trong tâm hồn mỗi người dân liệu có được bình an chưa? Nếu lấy thước đo bình an bằng niềm tin vào cuộc sống, vào con người và vào xã hội thì ta có thể nói, xã hội Việt Nam hôm nay chưa bình an. Bởi lẽ, xã hội chúng ta đang tràn ngập hàng giả, độc hại từ Trung Quốc tràn qua. Và ngay cả những mặt hàng do chính nhà máy, xí nghiệp trong nước tạo ra như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc tây, thuốc tầu, ciment, săt thép, cửa nhôm, của kính cũng thật giả lẫn lộn…Rồi nạn: Bằng giả, Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ nhiều nơi được mua bằng tiền. Nghiêm trong hơn, là nạn quan giả, một số các quan chức nhiều nơi được mua bằng vàng, băng Đô-la, bằng gái đẹp, Bằng biệt thự năm sao… tạo ra quốc nạn tham những ngày một đa dạng và tinh vi…; người dân sống trong phập phồng lo sợ thì làm sao có bình an, có được niềm vui trong cuộc sống được.
Đúng như lời Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc nói:  “Người dân thiếu niềm tin thì đất nước khó bình yên”.  (Báo Dân Trí 25-07-2017)

Niềm tin có từ đâu, hệ quả của việc có niềm tin, và không có niềm tin:
Bản chất của niềm tin là những giá trị được hình thành trên nền tảng văn hoá và đạo đức của một cá nhân. Con người phân biệt đúng và sai, tốt và xấu, thiện và ác dựa trên các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức của mình. Mà các giá trị này lại thường được quyết định bởi tín ngưỡng.” (Báo Tri Thức Việt Nam ngày 03-01-2018).
Tôi nghĩ: Đây là một nhận định khá đúng đắn, khách quan, dù chưa hoàn toàn đầy đủ. Trên thực tế cho thấy, những quốc gia tôn trọng tín ngưỡng như Mỹ, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nhật…Cụ thể, trong lễ nhậm chức, Tổng Thống nào của Hoa Kỳ cũng phải đặt tay trên cuốn Kinh Thánh để thề hứa; và trong đồng Đô-la của Mỹ có ghi hàng chữ: “In God we Trust” (Chúng ta tin vào Chúa). Một thí dụ khác: Ngày 09 tháng 04 năm 1914 hãng Toyota của Nhật thu hồi 6.400.000 xe có lỗi ở trục lái, túi khí, và ghế ngồi đã bán ra trên toàn thế giới để sửa chữa.... Rồi những trạm xăng ở một số nơi; vùng nông thôn của Nhật đã thực hiện được việc tự mua bán không cần người kiểm soát…. Nhờ thế, nạn dối trá, tham nhũng trong xã hội rất ít, con người có niềm tin vào con người, cuộc sống đầy niềm vui...
Trái lại, những nước chưa tôn trọng niềm tin của tôn giáo đủ… những nước đó thường có nạn tham nhũng, lừa gạt thật nhiều. Hàng giả của Trung Quốc đã gây hoảng sợ cho nhân loại. Tại Việt Nam thì từ thành thị đến nông thôn đều sợ hàng Trung Quốc, nhất là hoa quả, thực phẩm Trung Quốc…
Nhận định về Việt Nam, tôi xin trích lời nhận định của ông: Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu tôn giáo, từng trả lời phỏng vấn với VietnamNetDường như những chính sách về tôn giáo nghiêm trọng và sai lầm trước đây mà cả hiện nay nữa đã tạo ra một quá trình sa mạc hóa về tâm linh ở Việt Nam, để giờ đây tâm hồn của người Việt đã biến thành một bãi hoang có thể chấp nhận các loại bụi gai xương rồng, và không thể trồng được loại cây cỏ hoa thơm, quả ngọt”. (Báo Tri Thức Việt Nam ngày 03-01-2018).
Đây quả là một nhận định thẳng thắn, đúng đắn, đau lòng biết bao! Nhưng tôi vẫn hy vọng “Thuốc đắng sẽ dã tật”, Việt Nam, mai đây sẽ sánh vai với các cường quốc năm châu, một khi biết thức tỉnh để sửa sai.

Phần kết: Tìm niềm vui từ đâu?
Cá nhân, tập thể, tôn giáo đều có những cách thức riêng trong việc tìm niềm vui:
Về cá nhân, có người tìm niềm vui qua đời sống dâng hiến (đi tu); có người tìm niềm vui trong việc sống chay tịnh, hay quảng đại giúp đỡ người nghèo hoạn nạn, bệnh tật; có người tìm niềm vui trong đời sống tình yêu vợ chồng (Vĩnh hôn và đơn hôn).
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001) thì: “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui…”
Mẹ Thánh Têxêxa (1910-2097): Tìm niềm vui trong việc chăm sóc người nghèo khó.
Đức Phật dạy (khoảng thế kỷ thứ 5 TCN): Tìm nguồn vui nơi chính mình. Kinh Hiện Pháp Lạc Trú dạy: “Quá khứ không truy tìm/ Tương lai không ước vọng/Quá khứ đã đoạn tận/Tương lai thì chưa đến/Chỉ có pháp hiện tại/Tuệ quán chính ở đây.”
Đạo Công Giáo: Dạy con người tìm niềm vui qua việc: “MẾN CHÚA VÀ YÊU NGƯỜI”. Cụ thể hơn: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết linh hồn, hết trí khôn” (Ga 15, 37); và “Anh em hay yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Cảm tạ Chúa, con có niềm vui vô tận, vì Chúa thương đã mặc khải để con biết Chúa; biết Chúa qua những công trình kỳ diệu do Chúa tạo dựng, trong đó có con; biết Chúa qua chính lời Chúa phán: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga4, 8).


                                                           Cursillista Inhaxio Đặng Phúc Minh

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN - B

Cuộc sống hôm nay đang đặt ra cho người Kitô hữu rất nhiều chọn lựa: chọn lựa giữa niềm tin vĩnh cửu với sự hấp dẫn kỳ thú của những thành tựu vĩ đại do nền khoa học kỹ thuật tiên tiến mang lại, giữa hành vi buông thả, tự do quá trớn với thái độ đúng mực theo nền tảng luân lý truyền thống, nhất là sự cân nhắc chọn lựa giữa các “thần tượng” trần thế với lời mời gọi lý tưởng đến từ thập giá Đức Kitô… Dưới ánh sáng Lời Chúa, chúng ta bắt gặp được câu trả lời thỏa đáng cho những chọn lựa ấy. Tin mừng Ga 1, 35 – 42 đã gợi lên cho chúng ta kinh nghiệm đáp trả đích thực của người môn đệ Chúa trước lời mời gọi của Đức Kitô.
1. Tiếng gọi từ thập giá
Gioan Tiền hô đã không giới thiệu Đức Giêsu “với hai người trong nhóm môn đệ” như là vị vua hùng dũng sẽ đem vinh quang cho toàn cõi Israel ở phương diện trần thế, nhưng “là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1, 36b). Khi nghe biết tước hiệu của Đấng đang “đi ngang qua” là “Chiên Thiên Chúa”, chắc hẳn hai môn đệ của Gioan (Anrê và một môn đệ khác) không khỏi sững sờ và kinh ngạc về vai trò và vị thế của Đức Giêsu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Lời giới thiệu của Gioan mở ra bước ngoặt trọng đại có liên quan đến sứ vụ của các ông và toàn nhân loại. Cũng chính trong thời điểm ấy, hai môn đệ của Gioan đã lắng nghe “tiếng gọi từ phía bên trong”, nhắc bảo các ông hãy bước theo Đấng cứu độ đích thật, là “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”, “Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần” (Ga 1, 33b). Nghiệm thấu điều này, hai môn đệ “liền đi theo Đức Giêsu” với tất cả niềm tín thác và hy vọng về giá máu cứu độ của “Chiên Thiên Chúa”. Hành trình sứ vụ trước mắt các ông là chặng đường đau khổ để minh chứng cho sự chọn lựa đúng đắn của mình vào thập giá Đức Kitô. Với tất cả tình yêu tận hiến, hai môn đệ của Gioan đã trở thành những môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu.
Tiếng gọi từ thập giá vẫn vang vọng trong tâm thức của người Kitô hữu hôm nay và với hết thảy những ai đang hướng chiều về Đấng là “Chiên Thiên Chúa” đang “đi ngang qua” đời họ với bao nỗi niềm buồn vui, khổ đau, hạnh phúc… Có khi, dường như ta đã tỏ ra e sợ trước những khổ đau đến từ thập giá. Có lúc, người mang danh kitô hữu lại nhát đảm, thậm chí khước từ, chạy xa khỏi mối dây thông hiệp với cuộc khổ nạn, phục sinh của “Chiên Thiên Chúa” trước những đắng cay, nghiệt ngã của cuộc lữ lành đức tin. Giữa bộn bề, ngổn ngang của bao định hướng, lựa chọn và những áp lực, cám dỗ của lối sống hình thức, tiếng gọi từ thập giá nhiều khi bị chìm lắng và có nguy cơ tan biến trong tâm khảm chúng ta…Hệ quả là, ta phải đứng giữa trăm chiều do dự, lần mò giữa mục tiêu tối hậu với những phương tiện tạm thời, làm cản lối về vinh quang đích thực chỉ có thể tìm thấy nơi thập giá Đức Kitô.
Thái độ đáp trả của hai môn đệ mời gọi ta hãy dứt khoát, can đảm bước ra khỏi lối mờ tối của những lựa chọn và hướng thắng về phía thập giá, ở đó, “Chiên Thiên Chúa” là mẫu hình lý tưởng nhất cho đời ta. Vì chỉ nơi “Chiên Thiên Chúa”, ta mới được biến đổi trong tiến trình hoán cải nội tâm thực sự, nhờ hiệu quả “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận từ ơn này đến ơn khác” (Ga 1, 16).
2. Sống với Đức Kitô
Bước theo Đức Kitô, cũng có nghĩa là chúng ta biết đáp trả cách nhiệt thành và kiên trung trước tiếng gọi từ thập giá. Như hai môn đệ của Gioan, sau khi đã nghe Gioan giới thiệu Đấng “là Chiên Thiên Chúa”, hai ông đã không hề do dự nhưng đã hoàn toàn dứt bỏ lối cũ và nhất mực bước đi theo Người, để sống với Người. Câu hỏi của các ông, “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” (Ga 1, 38b), hàm ẩn niềm khát khao kiếm tìm tận căn thân thế và hành động yêu thương của “Chiên Thiên Chúa” khi Người cứu độ nhân loại. Được tình yêu cứu độ thúc bách, các ông đã “đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người” (Ga 1, 39b). Để từ đây, “hai người trong nhóm môn đệ” của Gioan có thể thông dự vào đời sống thần nhiệm sâu xa và sung mãn của Đức Kitô, nhờ lòng tin và tình yêu tận hiến cho vinh quang thập giá.
Đời sống của người kitô hữu là một tiến trình bền bỉ, liên tục kết hiệp mật thiết và sinh động với sự sống của Đức Kitô. Dấu chứng cho sự kết hiệp này được biểu tỏ qua thái độ hy sinh trao hiến của chúng ta như hệ quả do bởi giá máu cứu chuộc của Con Chiên Thiên Chúa. Dù phải đối diện với những chọn lựa đầy khó khăn, người tông đồ của Đức Kitô hôm nay cũng được mời gọi đáp trả tiếng Chúa qua hành động kiếm tìm và “ở lại” trong tình yêu của Người.
Sống với Đức Kitô là cảm thông, sớt chia và làm triển nở tình yêu cứu độ của Người. Hôm nay, ta không thể “đến xem chỗ Người ở” cách thể lý, nhưng mỗi người chúng ta là thành viên chính thức, được hạnh phúc thông dự vào “Ngôi Nhà” Giáo hội do Đức Kitô thiết lập nên, là chính Nhiệm Thể của Người. Do đó, khi ta chu toàn sứ vụ của một chi thể ngay giữa lòng Giáo hội thì ta cũng đồng thời được kết hiệp với sự sống trọn hảo của Đức Kitô.
Sống với Đức Kitô, là tháp hiệp vào trong từng hơi thở, trong ánh mắt yêu thương, trong mỗi cử chỉ, hành vi trao hiến của Người. Tình yêu của Đấng “là Chiên Thiên Chúa” sẽ hiển trị khi ta biết mở rộng cõi lòng để đón nhận và đỡ nâng biết bao phận người đang bị vùi dập giữa những khổ đau của kiếp nhân sinh. Như Đức Kitô, ta hãy dõi ánh mắt yêu thương về phía hận thù và hãy nói lời thứ tha được khởi phát từ con tim dạt dào Đức ái trong ta. Như Đức Kitô, ta hãy cúi xuống và vực dậy nhân loại hôm nay đang cố rời xa những chuẩn mực nền tảng của Tin Mừng.
Ta hãy “ở lại” với Đức Kitô trong nhiệm tích Thánh Thể, để được thông truyền sự sống và tình yêu tuyệt hảo, nhờ đó, ta có được sức mạnh thần linh để sống chứng nhân cho Người trong cuộc sống hôm nay.
3. Chứng nhân cho Đức Kitô
Theo lời mời gọi của Đức Giêsu, Anrê và người môn đệ ẩn danh không chỉ “đến xem” và “ở lại với Người ngày hôm ấy” (Ga 1, 39b), nhưng các ông đã báo tin vui cho Si-mon và những người khác: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (Ga 1, 41b). Như vậy, được sống với Đức Giêsu dù chỉ trong khoảng khắc ngắn ngủi của buổi đầu gặp gỡ, các môn đệ đầu tiên đã thấu cảm gương mặt đích thực của “Chiên Thiên Chúa” như lời giới thiệu của Gioan. Các ngài đã được biến đổi thành những tông đồ thực thụ nhờ được “ở lại” trong tình yêu của Đức Kitô. Tình yêu ấy thúc bách các ngài tiến xa hơn trên hành trình sứ vụ giới thiệu “Chiên Thiên Chúa” cho muôn người, dẫu phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Bước theo Đức Kitô trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng được mời gọi trở nên chứng nhân trung thành của Người trước một nhân loại đang tỏ ra lãnh đạm với chân lý và mục tiêu tối hậu. Trong bối cảnh ấy, tiếng gọi từ thập giá vẫn không ngừng âm vọng trong cõi sâu thẳm của con người, kêu mời sự dấn thân quả cảm của những tâm hồn thiện chí cho sự sống và tình yêu của Đức Kitô được trở nên dũng khí linh nhiệm nhằm cảm hóa và biến đổi thế giới này.
Các môn đệ đầu tiên chỉ có thể giới thiệu Đức Kitô cho những người khác sau khi các ông đã “đi theo”, đã “đến xem” và “ở lại” với Người. Chúng ta chỉ có thể trở nên chứng nhân mạnh bạo, can trường của Đức Kitô khi ta đã sống kinh nghiệm thông dự vào tình yêu thập giá cách trọn hảo.

NGỘ NHẬN THA THỨ

Tha thứ và yêu thương tha nhân, đặc biệt với kẻ thù của mình, là trung tâm điểm của giáo huấn Tin Mừng Kitô giáo. Vì thế, trước hết cần phải vạch ra những quan niệm sai lầm về sự tha thứ và những áp dụng của nó. Hiểu biết những bế tắc về tâm lí cũng như tâm linh do quan niệm sai lầm về sự tha thứ, chúng ta sẽ tránh được không bị ngã lòng, tránh những bất công, những ảo tưởng về mặt thiêng liêng, phản lại chính mình, và những kiểu phát triển, về nhân bản cũng như đức tin, gây ức chế và cản ngại.
Những quan niệm sai lầm về sự tha thứ:
1. THA THỨ KHÔNG PHẢI LÀ QUÊN ĐI
Hành trình tha thứ đòi hỏi khả năng nhớ tốt và ý thức rõ về vết thương tổn do bị xúc phạm, nếu không sẽ không thể có sự biến đổi tâm hồn triệt để để thứ tha. Tha thứ giúp chữa lành vết thương của kí ức. Khi tha thứ, kí ức người bị xúc phạm cách nào đó không còn mang tính độc hại. Sự kiện đáng tiếc kia có thể phai mờ đi và bớt ám ảnh, dần dà vết thương được lành thành sẹo. Sự kiện có được nhắc nhớ cũng không còn gây đau nhức như trước. Kí ức được chữa lành không còn mang nặng những tâm tư phiền muộn về sự xúc phạm.
2. THA THỨ KHÔNG PHẢI LÀ PHỦ NHẬN
Sẽ không có tha thứ chừng nào nạn nhân còn chối bỏ hay không nhìn nhận mình bị xúc phạm và đang đau đớn. Đè nén sự thương đau do bị xúc phạm hay cắt bỏ một phần của bản ngã sẽ rất nguy hiểm, rốt cuộc có thể dẫn đến tâm bệnh. Những triệu chứng có thể biếu hiện như căng thẳng (stress), lo âu (anxiety), mất ngủ (insomnia), không còn thèm ăn, cảm giác có lỗi. Ta cần lưu ý đến những cảm xúc bộc phát của mình (sự nhục nhã, tức giận, ...). Đối diện và dần dần chấp nhận những cảm xúc đó, ta mới có thể được giải phóng khỏi những lo âu, phiền não và cảm giác lỗi tội.
3. THA THỨ ĐÒI HỎI CÁI GÌ HƠN SỨC MẠNH CỦA Ý CHÍ
Biến tha thứ thành một hành động đơn sơ của ý chí thôi thay vì là một cao đỉnh của học tập qua kinh nghiệm, là một sai lầm. Tha thứ cần có thời gian; lâu hay mau còn tùy thuộc sự thương tổn nặng hay nhẹ, tùy thuộc những phản ứng của người gây thương tổn, và tùy thuộc vào nguồn lực nội tâm của người bị xúc phạm. Tha thứ huy động tới mọi năng lực khác trong con người chứ không chỉ có ý chí, đó là: sự nhạy cảm tinh tế, trái tim, sự thông minh, óc phán đoán, trí tưởng tượng, và vân vân.
4. THA THỨ KHÔNG THỂ DO MỆNH LỆNH
Không nên giản lược sự tha thứ, hay bất cứ một thực hành thiêng liêng nào, chỉ như là một nghĩa vụ luân lí. Đặc tính của tha thứ là tự do, tự phát. Xin hãy hiểu câu kinh Lạy Cha “xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6,12) theo tinh thần “Chúa đã tha thứ cho anh em, thì... anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,13).
5. THA THỨ KHÔNG PHẢI LÀ TRỞ VỀ GIỐNG TÌNH CẢNH TRƯỚC ĐÂY
Không nên lẫn lộn tha thứ như là một sự tái lập các quan hệ như trước khi sự cố xảy ra. Tha thứ không đồng nghĩa với hòa giải. Khác với hòa giải, chúng ta có thể tha thứ cho một người vắng mặt, đã chết, hoặc vô danh. Trong những trường hợp bạo hành hay bị lạm dụng chẳng hạn, nạn nhân được khuyên chấm dứt quan hệ với kẻ gây sự để bảo vệ mình, điều đó không có nghĩa là gạt bỏ dứt khoát khả năng tha thứ trong tương lai. Tha thứ không có nghĩa là trở về quan hệ như xưa với người gây ra thương tổn cho ta. Tốt nhất, là lợi dụng sự xung đột để xem xét lại phẩm chất của mối quan hệ này và tái thiết nó trên một nền tảng vững chắc hơn.
6. THA THỨ KHÔNG PHẢI LÀ TỪ BỎ QUYỀN LỢI CỦA TA
Tha thứ không có nghĩa là bỏ qua những quyền lợi và những đòi hỏi của công lí, nếu không rốt cuộc có thể lại tạo dịp cho kẻ những gây sự và bạo ngược tiếp tục lộng hành, phạm pháp. Cẩn thận kẻo rồi tha thứ lại trở nên “nơi ẩn náu cho kẻ lừa đảo”. Đôi khi Kitô hữu bị lên án như thế khi “đưa má kia” ra cho người ta tát quá sẵn! Nên nhớ, công lí thì lo thiết lập lại quyền của bên bị hại trên một cơ sở khách quan, còn tha thứ tùy thuộc trước hết ý muốn tự do tốt lành. Điều này không có nghĩa là tha thứ thì phải từ bỏ sự thiết yếu của công lí. Tha thứ mà không đấu tranh cho công lí, thì chỉ biểu lộ là một kẻ nhát đảm, yếu đuối, dung túng sai lầm cho kẻ kia lại phạm tội.
7. THA THỨ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ MIỄN QUI TRÁCH KẺ XÚC PHẠM
“Tôi tha thứ cho anh ta, đó không phải là lỗi của ảnh”. Đây là một quan niệm sai lầm khác. Vì tha thứ không phải là miễn truy cứu trách nhiệm luân lí. Thông cảm không có nghĩa là miễn qui trách. Miễn thứ sai lầm thường được dùng như những thủ thuật thông minh khéo ngụy trang để làm dịu bớt nỗi đau của ta. Tự cho là người kia không có trách nhiệm thì dễ giải quyết vấn đề hơn là chấp nhận họ đã tấn công mình cách chủ ý và tự do. Miễn tha quá dễ dàng có thể là con dao hai lưỡi. Một đàng, nó xoa dịu ta, đàng khác nó biểu lộ một sự khinh thị đối với kẻ phạm tội, ngầm muốn nói: “em không đủ khôn ngoan để gánh trách nhiệm cho việc làm tồi tệ ấy!”
8. THA THỨ KHÔNG CÓ THÁI ĐỘ ĐẠO ĐỨC CỦA KẺ CẢ
Một số hành động hay thái độ trong tha thứ có thể khiến người khác cảm thấy bị hạ nhục hơn là giải phóng họ. Đó có thể là thái độ của kẻ cả, nghĩ mình đạo đức. Dưới mặt nạ của sự quảng đại, có thể ẩn một tìm kiếm quyền lực thuộc bản năng.
Tha thứ thật trước hết và trên hết là hành động xuất phát từ sức mạnh nội tâm. Cần sức mạnh nội tâm để nhận biết và chấp nhận ta mỏng manh dễ bị thương, hơn là ngụy trang che đậy bằng vẻ bề ngoài nhân lành.
9. THA THỨ KHÔNG CÓ NGHĨA PHÓ MẶC CHO CHÚA
Hẳn chúng ta đã từng nghe nhiều “chỉ có Chúa mới có thể tha thứ”, và hiểu theo nghĩa như thể nơi con người phàm nhân chúng ta không có chỗ cho hành động tha thứ. Đó là một cớ hợp lí để đào thoát và phó mọi trách nhiệm của ta cho Chúa! 
Chúa Giêsu dạy:
“Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6,37).
“Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6,12).
“Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18,35).
Thiên Chúa không làm thay cho ta những gì thuộc tự do trách nhiệm của ta. Tha thứ phụ thuộc vào hành động ân sủng và cũng phụ thuộc vào con người. Tự nhiên và ân sủng không đối nghịch nhau, nhưng phối hợp và bổ túc cho nhau.
Bước đi trên nẻo đường của tha thứ có lẽ đòi hỏi nhiều sức mạnh của lòng can đảm, đồng thời, tránh ảo ảnh của sự tha thứ ngộ nhận cũng đòi ta cố gắng nhiều như thế.
 
Nguồn: ubmvgiadinh.org

ƠN GỌI TỪ THIÊN CHÚA: CHIA SẺ CỦA MỘT LUẬT SƯ THEO CHÚA

Bây giờ và mãi mãi, tôi xác tín Đức Tin của tôi nơi Thiên Chúa! Tôi tin Thiên Chúa luôn hiện hữu trong tôi, tôi sẽ sống trọn với niềm tin này để xứng đáng trở thành một Ki tô hữu công chính!

Tôi là một người không có tôn giáo và luôn chỉ suy nghĩ, Đạo nào thì cũng dạy con người sống tử tế và lương thiện, lấy chữ Đức làm đầu. Nửa đời người trải qua nhiều sóng gió, vui buồn của cuộc sống, tôi vẫn tin rằng, dù thế nào ông Trời cũng sẽ không bỏ mình, ông Trời luôn công bằng! Tôi làm dâu trưởng của một gia đình gắn bó với nhà Phật, trong họ tộc đã có người là Sư chủ trì, Sư bác, nhưng với tôi, đạo Phật chưa khi nào đánh thức được nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi. Mọi việc ma chay, hiếu hỷ, giỗ Tết, thờ cúng, mồ mả tôi đều rất chu toàn và không ai có thể chê trách, nhưng trong tôi, chưa bao giờ nhập tâm bất cứ một câu kinh kệ nào, mọi việc tôi làm là một nghĩa vụ, sau đó, tôi cảm thấy trôi tuột và tôi luôn có suy nghĩ nghi ngờ về những gì mình đã trải qua.

Cho đến một ngày, người bạn đặc biệt đó xuất hiện trong cuộc đời tôi, tôi cho rằng đó là sự sắp đặt của số phận, bởi có những bất ngờ mà tôi không thể lý giải nổi. Và Lễ Lá năm nay tôi đã cùng người bạn bước chân vào Thánh đường Nhà Thờ Lớn Đức Bà Sài Gòn để dự Thánh Lễ. Hơn hai tiếng thinh lặng, chiêm ngắm Thánh Lễ đã làm thay đổi tâm hồn tôi, làm biến đổi tôi từ trong nhận thức, tôi nhận thấy rõ ràng rằng, có một điều gì đó thật đặc biệt, thật thiêng liêng đã tràn ngập trong toàn bộ con người tôi. Sau Thánh Lễ, tôi đã ngồi lặng đi, tôi thấy lòng mình chưa bao giờ nhẹ nhõm và thanh thản đến thế, xung quanh tôi tràn đầy một màu nắng rực rỡ, êm đềm. Và ý nghĩ sẽ trở thành Ki tô hữu ập đến với tôi, tôi hiểu rằng việc trở thành Ki tô hữu sẽ là mục đích của tôi, bắt đầu từ lúc này…

Trở lại Hà Nội, vào ngày Lễ Phục Sinh tôi đã đến Nhà Thờ Thái Hà. Tôi đã ở Hà Nội 27 năm, nhưng tôi chưa bước chân vào cung Thánh đường nào, dù những mái vòm nhà thờ cao vút, tĩnh lặng, trầm mặc, uy nghiêm luôn cuốn hút tôi. Thánh Lễ Phục Sinh lại gieo vào lòng tôi sự an yên mà tôi chưa bao giờ cảm nhận được, dự Thánh lễ mà lòng tôi rưng rưng xúc động! Sau đó vào đầu tháng 5/2017, tôi đã đến Văn phòng giáo xứ để hỏi về lịch học Giáo lý Dự tòng, gặp tôi Cha Phượng đã hỏi “Sao chị lại muốn học giáo lý để trở thành người Công giáo?” Thực ra, câu hỏi này bản thân tôi cũng đã tự hỏi mình, và ai biết tôi đang học Giáo Lý dự tòng cũng đều hỏi tôi như vậy. Nhưng để trả lời cho câu hỏi này, tuy dễ mà cũng thật khó, bởi khi đã tự mình Giác ngộ Đức Tin, xác tín con đường Đức Tin mà mình sẽ đi thì mọi lý do để giải thích cũng rất thừa. Tự sâu thẳm trong tôi, thôi thúc tôi rằng, THIÊN CHÚA là ĐẤNG mà tôi sẽ nguyện đi theo trong những ngày tháng còn lại và mãi mãi sau này! Khi vào học lớp Giáo Lý K53 cùng các anh chị em, được các Cha giáo khai tâm, tôi hiểu rằng, Tôi đã được lãnh nhận Ơn Mạc Khải của Thiên Chúa! Chính Ngài đã vén tấm màn nhận thức của tôi, đã ban ơn gọi để cho tôi thấy con đường đi đến với Ngài, con đường của Đạo Ki tô! Càng học, càng đọc những lời của Chúa, của Hội Thánh, tôi càng thấm hơn những lời giáo huấn, rao giảng của Ngài về ơn Cứu độ, về lòng thương xót, về đức hy sinh, sự khiêm nhường, sự dấn thân tận hiến của những người con dân Chúa, của các bậc tu trì. Tôi càng Ngộ ra rằng Cuộc sống này nếu không có Đức tin, Đức mến của Thiên Chúa, cuộc sống sẽ là những chuỗi ngày vô vị và tăm tối. Tôi hiểu sâu sắc rằng, hình ảnh của mỗi con người trên hành tinh này, là hình ảnh của Thiên Chúa do Thiên Chúa tạo dựng nên, vô cùng thiêng liêng và đáng trân trọng. Vì vậy, để sống mà không hổ thẹn, để sống thật sự ý nghĩa cho một ngày mai sống lại trên Nước Trời, thì mỗi chúng ta phải luôn cố gắng thực hiện những điều răn của Thiên Chúa, những điều Hội Thánh dạy hàng ngày trong tư tưởng, lời nói, việc làm.

Nghề Luật sư của tôi cũng cho tôi tiếp cận và nhìn nhận rất nhiều mặt trái và sự bất công của xã hội hiện nay, sự xuống cấp tha hóa đạo đức một cách đáng báo động và điều đó lại càng làm tôi nhận thấy sự Mầu Nhiệm của Thiên Chúa trong việc duy trì và phát triển Hội Thánh. Từ Mùa Phục Sinh, Chúa Nhật nào tôi cũng đến Nhà Thờ để dự Lễ, kể cả những khi đi công tác hay đi chơi xa khỏi Hà Nội.

Mỗi một giờ đi Lễ Chúa Nhật, tôi đều vô cùng tâm đắc với những lời suy niệm của các Cha dâng lễ. Sau những bon chen, mệt mỏi của công việc và đời sống, tôi đến Nhà Thờ để chiêm ngắm Thiên Chúa, Đức Cha Chí Thánh của nhân loại, chiêm ngắm Đức Mẹ Maria trọn đời đồng trinh, Mẹ của Thiên Chúa và cũng là Mẹ của tất cả chúng ta, dâng lời cầu nguyện đến Chúa Ba Ngôi để xin được thương xót, được ban thêm ơn Thánh Thần để cho mỗi chúng ta và tôi đủ niềm tin và sức mạnh để vác Thánh Giá đi theo Ngài đến Quê Trời!

Bây giờ và mãi mãi, tôi xác tín Đức Tin của tôi nơi Thiên Chúa! Tôi tin Thiên Chúa luôn hiện hữu trong tôi, tôi sẽ sống trọn với niềm tin này để xứng đáng trở thành một Ki tô hữu công chính!

Tạ ơn Chúa! Amen!
Luật sư Kiều Thị Hải Vân

Nguồn: FB Lm. Vinhson Trần Trí Tuệ

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA HIỂN LINH

Hôm nay, Ba Vua trên đường tìm đến thờ lạy Chúa Cứu Thế Giáng Sinh. Ba Vua là những người phương xa, không có đạo. Các Ngài tìm đến Chúa theo ánh sáng của ngôi sao lạ. Theo ngôi sao, các Ngài đến được Giêrusalem và được nghe giải nghĩa Thánh Kinh. Theo ngôi sao đưa đường dẫn lối các Ngài đã gặp được Chúa. Ánh sao đã chiếu sáng bầu trời đen tối, giúp các Ngài nhận định được hướng đi. Lời Thánh Kinh là một ánh sao chiếu soi tâm hồn giúp họ sáng lên niềm tin. Nhưng chính Đức Giêsu mới là ngôi sao mai dẫn họ đi vào một con đường mới, con đường chói ngời ngọn lửa đức mến.
Ngày nay có nhiều người đang tìm kiếm Chúa. Nhiều người muốn biết Chúa để theo Chúa. Nhưng họ không biết đường biết hướng. Cũng như Ba Vua, họ cần có những ánh sao soi đường dẫn lối.
Tìm đâu ra ngôi sao xưa đã soi đường cho Ba Vua? Ngày nay, Chúa không dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi người chúng ta trở thành một vì sao soi dẫn mọi người đến với Chúa.
Là ngôi sao có nghĩa là phải có ánh sáng. Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng. Người Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của họ mang ánh sáng, phản chiếu ánh sáng nhận tự nơi Thiên Chúa.
Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng hy vọng. Niềm hy vọng vào ơn cứu độ của Chúa giúp ta vừng bước trên đường lý tưởng. Niềm hy vọng vào một trời mới đất mới cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Niềm hy vọng vào hạnh phúc thiên đàng giúp ta đánh gía đúng mức của cải vật chất đời này. Hy vọng là ánh sáng làm tươi đẹp con người và cuộc đời.
Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng tin yêu. Tin yêu Chúa và tin yêu người. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu đẻ tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối thù hận, chia rẽ, bất hoà. Tin yêu là làn ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi, con người trở nên thân thiện, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng mến.
Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng công bình, bác ái. Niềm hy vọng, niềm tin yêu được chứng minh bằng đời sống công bình, bác ái. Tin Chúa được biểu lộ qua sự công bình trong đời sống. Yêu Chúa được thể hiện qua tình bác ái với tha nhân.
Tất cả những làn ánh sáng nói trên góp lại thành ánh sáng đạo đức. Đắm chìm vào vật chất sẽ khiến con người rơi vào bóng tối tuyệt vọng, không lối thoát. Nghi ngờ con người sẽ khiến cuộc đời chìm vào bóng tối cô đơn. Thiếu công bình bác ái sẽ phủ lên thế giới mới một bóng tối phi nhân, tàn nhẫn. Chỉ có ánh sáng đạo đức mới đủ sức phá tan những bóng tối ấy. Chỉ có ánh sáng đạo đức mới làm cho thế giới thành vui tươi hạnh phúc.
Thế giới đang mong chờ ánh sao dẫn đường. Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành một ngôi sao chiếu lên làn ánh sáng đạo đức. Chính qua làn ánh sáng ấy, mọi người sẽ nhận biết và yêu mến Chúa.
Lạy Chúa, xin giúp con sống xứng đáng là người con của Chúa sự sáng. Amen.