ĐỨC MẸ FATIMA: LỜI NHẮN NHỦ CỦA MẸ VẪN CÒN MANG TÍNH THỜI SỰ

Ngày 13. 5 năm nay đánh dấu  đúng 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Con cái Mẹ khắp nơi sẽ mừng kính sự kiện đặc biệt này trong tâm tình tôn kính và mến yêu Mẹ. Đây là dịp để mỗi người chúng ta bày tỏ tâm tình của mình lên Mẹ, cũng như nhìn lại sứ điệp mà Mẹ gửi đến cho toàn thế giới cách đây 100 năm.
Sự hiện ra tại Fatima không chỉ có ý nghĩa sâu sắc về mặt tôn giáo, nhưng hơn thế sự kiện đó còn mang những thông điệp quan trọng đến với toàn nhân loại trên cả phương diện xã hội lẫn chính trị.
Tại Fatima cách đây 100 năm, qua sự hiện ra với ba đứa trẻ, Mẹ đã mang đến cho con người những lời cảnh báo kèm theo những yêu cầu cần thiết để cứu vớt nhân loại khỏi biến động bất an, tai họa chiến tranh và sự diệt vong.
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, chúng ta được mời gọi nhìn lại những lời kêu gọi của Mẹ dưới một vài khía cạnh trong đời sống của mỗi người cũng như của toàn nhân loại hôm nay.
ĐỨC TIN
Đức tin là cội nguồn và khởi đầu cho mỗi người và là lời kêu gọi đầu tiên mà Mẹ gửi đến nhân loại tại Fatima.
Nhìn chung, đức tin của con người trên thế giới đang xuống dốc một cách nhanh chóng. Tỷ lệ chối bỏ đức tin đang ngày một tăng cao, và các phe nhóm chống Giáo Hội ngày càng tinh vi dưới nhiều hình thức. Đức tin Công giáo đang giảm sút đáng kể trên nhiều nước, đặc biệt là Âu Châu.
Con người dần dần chối bỏ Thiên Chúa, khước từ Tin Mừng, chạy theo những ngẫu tượng và tôn thờ các giá trị vật chất. Không còn đức tin, con người đi đến sự lạc giáo, mê tín và ảo tưởng. Điều này khiến cho các giá trị tâm linh cũng như nhân phẩm con người  bị đảo lộn và lệch lạc.
Nhìn lại mới thấy sứ điệp Mẹ cách đây 100 năm còn tính cấp thiết cho thế giới hôm nay. Thật thế, con người cần đức tin thực sự để tin tưởng vào một điều gì đó. Tin vào Thiên Chúa để nhận ra những giá trị căn bản nơi cuộc sống. Tin vào Thiên Chúa để nhận ra mỗi chúng ta là anh em của nhau và là con cái của Thiên Chúa.
Đức tin hướng dẫn con người đến với những giá trị chân – thiện – mỹ. Đức tin đưa ta về với Chúa là cội nguồn của tình yêu. Và cũng chính đức tin đưa ta về với nhau trong tình nghĩa anh em con cùng một Chúa.
HOÁN CẢI
Hoán cải là lời kêu gọi thực sự quan trọng cho con người hôm nay. Mẹ Maria đã nhiều lần nhắc lại rằng: con người cần phải hoán cải.
Sự phát triển của thế giới không những đưa con người đến sự xa lìa Thiên Chúa mà con mang lại cho con người sự tự cao tự đại. Con người đang chối bỏ Đấng Tạo Hóa, đi vào con đường tội lỗi, và đề cao chính mình.
Đón nhận Thiên Chúa vốn dĩ không dễ thì hoán cải để trở về với Thiên Chúa lại càng khó khăn hơn. Con người ngày một xa dần Thiên Chúa. Bao lâu con người xa Thiên Chúa thì bâý nhiêu khó khăn cho sự hoán cải trở về. Những hệ lụy đau thương của sự không hoán cải đang ngày càng thấy rõ nơi cuộc sống nhân loại hôm nay.
Con người cần sự hoán cải để trở về với cội nguồn của mình là Thiên Chúa, trở về với những giá trị nhân linh của con người. Từ đó sự hoán cải đích thực đưa con người xích lại gần nhau trong tình huynh đệ và tình thương.
BÌNH AN
Bình an là điều mà ai cũng ao ước, cách riêng là giữa một thế giới nhiều hỗn loạn như hôm nay. Mẹ đã kêu gọi mọi người chuyên chăm cầu nguyện cho sự bình an của con người và của toàn thế giới.
Con người đang đối điện với sự bất bình an bởi khủng bố, bạo lực và chiến tranh đang hoành hành khắp nơi. Kỳ thị tôn giáo, phân biệt chủng tộc, cũng như chủ nghĩa vật chất đang đưa thế giới đến sự thờ ơ, lãnh đạm và ích kỷ.
Con người đánh mất Thiên Chúa, đồng nghĩa với việc đánh mất những giá trị cao cả nơi con người. Vật chất thay thế những giá trị luân lý. Tình thương bị thay thế bằng hận thù. Hòa bình bị phá hủy bởi bạo lực.
Bình an chỉ đến với con người khi con người biết tìm về cội nguồn bình an là Thiên Chúa. Khi bình an con người sẽ đi đến với nhau bằng tình thương và lòng nhân ái. Mang trong mình sự bình an thì bạo lực và chiến tranh sẽ không còn chỗ để ngự trị nơi con người và xã hội.
HY VỌNG
Con người hôm nay đang dần đánh mất nhiều phẩm giá tốt đẹp, nhưng trên hết đó là đánh mất hy vọng. Niềm hy vọng cũng là lời mời gọi được Mẹ nhắc đến trong sự hiện ra tại Fatima.
Trước nhiều khó khăn và thử thách, con người dường như sống một cuộc sống không có tương lai, chẳng mong chờ gì trong ngày mai! Cuộc sống nổi trôi một cách vô định, bỏ mặc cho hoàn cảnh và số phận.
Thế giới với quá nhiều biến động, kèm theo thiếu niềm tin vào một tương lai phía trước, con người đang sống một cuộc sống vô nghĩa, không mối tương quan. Để rồi giữa những lúc bế tắc, con người chỉ nghĩ đến việc kết liễu đời mình trong sự tuyệt vọng. Và thực tế cho thấy, xu thế tự tử đang tăng một cách đáng báo động ở nhiều nước phương Tây.
Thật thế, niềm hy vọng như là nguồn lực cho cuộc sống một lối đi. Hy vọng đưa mục đích và ý nghĩa vào cuộc sống. Hy vọng là sức mạnh đưa con người ra khỏi những vũng lầy của thất vọng và động lực đưa con người đến với nhau. Hy vọng trong cuộc sống sẽ đưa con người đến với Đức Kitô là Niềm Hy vọng đích thực của mỗi người chúng ta.
Sư điệp của Mẹ tại Fatima vẫn luôn mang tính thời sự đối với con người và nhân loại hôm nay. Mẹ đã mời gọi chuyên cần cầu nguyện. Cầu nguyện cho con người biết ăn năn và sám hối, biết hoán cải để trở về với một đời sống đức tin sâu sắc, và luôn mang trong mình một tia hy vọng lớn lao. Nhờ đó, tình nghĩa huynh đệ được triển nở và bình an được hiện hữu nơi mỗi con người cũng như trên toàn nhân loại.
Sứ điệp của Mẹ không chỉ dừng lại đối với những người Công Giáo, nhưng đó là lời mời gọi được dành cho cả nhân loại hôm nay. Tình hình thế giới và nhân loại vẫn nguy kịch như xưa. Lời Mẹ kêu mời càng tha thiết hơn xưa.
Trước tình cảnh đó, chúng ta được mời gọi thực hiện ngay lời dạy của Mẹ: hãy ăn năn sám hối, hãy siêng năng lần hạt Mân Côi, hãy tôn sùng đền tạ Trái Tim Đức Mẹ, và hãy dâng loài người cho Trái Tim Mẹ.

J.B Lê Đình Nam
 dongten.net


CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - A

Băn khoăn về nguồn cội con người, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời, thao thức truy tìm cứu cánh của đời người đã tiếp nối bằng bao thế kỷ mà không có được câu trả lời thoả đáng. Con người bơ vơ giữa ngã ba không biết phải đi về đâu. Khi xuống trần, Chúa Giêsu đã cho ta biết nguồn cội của Người là Đức Chúa Cha, ý nghĩa đời Người là thi hành thánh ý Chúa Cha, và cùng đích đời Người là trở về với Chúa Cha. Muốn về với Đức Chúa Cha, ta phải theo một con đường. Đường ấy có tên là GIÊSU. Đường này chắc chắn an toàn đi đến nơi về đến chốn vì Chúa Giêsu là người mở đường. Người chính là con đường và Người là tâm điểm của đích tới.
Chúa Giêsu là người mở đường.
Đi đâu cũng cần có đường. Không con đường nào tự nhiên có. Phải có người mở đường.
Có người mở ra những con đường vật chất, nhờ có óc phiêu lưu mạo hiểm, có tầm nhìn bao quát, có óc tính toán thực tế.
Có người mở ra những con đường suy tư triết học, sáng tác nghệ thuật, nhờ trí tuệ thông minh xuất chúng, có tư duy sáng tạo, có trực giác bén nhạy, có trí tưởng tượng phong phú.
Nhưng không ai có thể mở con đường lên trời. Đường lên trời hoàn toàn vượt khả năng con người. Phải có Đấng, ấy là Chúa Giêsu, Người đã đến từ Đức Chúa Cha, nay Người trở về cùng Đức Chúa Cha. Người lại hứa dọn chỗ cho ta trong Nhà Cha. Với những thông tin như thế, Người đã cho ta biết Trời chính là Nhà Cha. Quê Trời trở thành Quê Cha. Nước Trời trở thành một cõi đi về thân thương của con người. Con đường đi về ấy, chính Chúa Giêsu đã mở.
Chúa Giêsu là đường.
Không chỉ là người mở đường. Chúa Giêsu chính là con đường. Để về Nhà Cha, ta không chỉ đi theo, đi với mà còn phải đi trong Người. Không chỉ đi trong đường lối, trong tinh thần, nhưng trong chính bản thân Người. Như cành nho gắn liền với thân nho và sống bằng sự sống của thân nho. Như bánh rượu tan hoà vào trong máu thịt trở nên thành phần của bản thân ta. Như bản tính Thiên Chúa kết hợp với bản tính loài người trong bản thân Người. Đi trong Người để ta ở trong Người như Người ở trong Chúa Cha. Đi trong Người để ta mang hình ảnh của Người, để ai thấy ta cũng như thấy Người, như “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy”.
Chúa Giêsu là đích tới của con đường.
Đi trong Chúa Giêsu là một hành trình dài. Đi suốt cả đời chưa chắc đã tới.
Để đi trong Chúa Giêsu ta phải từ bỏ hết những gì của bản thân mình, kết hiệp trọn vẹn với Người, cũng như Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha, để trở nên một với Chúa Cha.
Khi đã hoàn toàn từ bỏ hết ý riêng và trở nên một với Người cũng là lúc ta đạt tới đích điểm, là lúc ta gặp được Chúa Cha, là lúc ta ở trong Nhà Cha, là lúc ta đạt tới Quê Hương yêu dấu trên trời.
Lạy Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin cho con biết đi trong con đường của Người.
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt


TÔI BIẾT TÔI ĐÃ TIN VÀO AI

Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã định nghĩa về Đức tin như sau: “Tin không gì khác hơn là sờ chạm được vào bàn tay Thiên Chúa trong đêm đen của trần thế, và cứ thế - trong tĩnh lặng - lắng nghe Ngài, nhìn thấy tình yêu”. Định nghĩa này được nói trong bài huấn từ kết thúc tuần tĩnh tâm cho giáo triều ngày 23-2-2013, trước ngày chấm dứt sứ vụ Giáo Hoàng. Vì thế, ta có thể coi đây như một di chúc của vị Giáo Hoàng trước khi rút lui vào đời sống chuyên tâm cầu nguyện. Với tư cách là một nhà thần học lớn của Giáo Hội, Đức Bênêđitô XVI đã đưa ra nhiều định nghĩa về đức tin. Dù mỗi định nghĩa nhấn mạnh tới một khía cạnh, nhưng tất cả đều diễn tả sự gặp gỡ, tiếp xúc, tín thác nơi một Đấng đang hiện diện cụ thể trong đời.

Trong thư gửi cho Timôthê là người môn sinh của mình, Thánh Phaolô đã viết: “Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1,12). Thư này được viết trong tù, vào lúc Phaolô cảm thấy mọi người đều bỏ rơi mình. Ông thấm nỗi cô đơn, chưa biết tương lai sẽ như thế nào. Giữa chốn lao tù, trong cảnh xiềng xích, Phaolô vẫn kiên vững một niềm tin, vì ông xác tín Thiên Chúa là “Đấng có đủ quyền năng bảo toàn giáo lý đã được trao phó cho tôi, mãi cho tới Ngày đó” (2Tm,1,12). Người ta dễ dàng tin tưởng vào Chúa khi gặp những điều tốt lành trong cuộc sống. Tuy vậy, giữa cơn phong ba bão táp của cuộc đời, để tuyên xưng đức tin vào Chúa, đòi hỏi phải có lòng kiên định đến mức anh hùng. Ông Gióp trong Cựu ước đang có một cuộc sống phong lưu đầy đủ, bỗng chốc rơi vào cảnh cùng cực: mất hết của cải và con cái. Bạn bè, người thân, thậm chí người vợ cũng xa lánh. Ông phải ngồi trên đống tro. Hình ảnh này vừa diễn tả cảnh cùng khốn, vừa cho thấy ông khiêm tốn sám hối. Trong hoàn cảnh đó, ông Gióp vẫn kiên định và cố gắng để không xúc phạm Chúa. Ông vẫn tin vào Chúa mặc dù ông không hiểu việc Ngài làm. Ông vẫn biện minh cho sự vô tội của mình và không chấp nhận lý luận của những người bạn đến thăm. Đó là kết quả của một niềm tin vững vàng, một niềm cậy trông tín thác nơi Chúa. Khi kiên định trong đau khổ, chắc chắn ông Gióp cũng thốt lên điều mà Phaolô sau này tâm niệm: tôi biết tôi đã tin vào ai.

“Ai” mà Phaolô nhắc đến không phải là một nhân vật huyền thoại mơ hồ. Vị đó là một Đấng cụ thể, là Thiên Chúa tối cao. Ngài là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacóp, tức là của các tổ phụ Israen. Ngài là Thiên Chúa, Đấng đã can thiệp trong lịch sử để hướng dẫn, tha thứ và chúc lành cho con người của mọi thời đại. Đấng ấy đang hiện diện trong cuộc đời. Ngài đã chinh phục Phaolô và biến đổi ông từ một người bách hại các tín hữu đến một vị tông đồ nhiệt thành, dấn thân truyền giáo cho các dân ngoại. Trải qua vô số gian truân trong các hành trình truyền giáo, ông đã cảm nhận rõ ràng Chúa luôn ở với ông. Ngài soi sáng hướng dẫn và ban cho ông sức mạnh, để ông can đảm nhiệt thành thực thi sứ vụ.

Trong chốn lao tù, đêm đen của trần thế, Phaolô đã chạm được vào bàn tay của Thiên Chúa và ông đã để Ngài dẫn dắt trong thinh lặng. Mặc dù những người thân đã xa lánh, nhưng ông biết vẫn có Chúa hiện diện ở đó, bên cạnh ông, để chia sẻ gian nan trong ngục tối và để thêm sức cho ông. Ông cũng tin rằng, trong bất cứ tình huống nào, ông cũng không nản lòng, vì “Ơn Ta đủ cho con”, như lời Chúa đã cam kết (2Cr 12,9). Chính nhờ sự xác tín vào Thiên Chúa, mà Phaolô can đảm lên đường truyền giáo, dẫu biết rằng khó khăn và thử thách đang chờ đợi ở phía trước. Trong lời từ biệt tín hữu Ephêxô, Phaolô đã nói với họ: “Giờ đây, bị Thần Khí trói buộc, tôi về Giêrusalem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa” (Cv 20,22-24). Chỉ một khi biết rõ Đấng mình tin tưởng là ai, thì thánh nhân mới có cam đảm và kiên vững trước mọi phong ba bão táp như vậy.

Người tín hữu tức là người tin vào Chúa. Tuy vậy, đối với nhiều người, “tin vào ai” hoặc “tin như thế nào” vẫn là một điều mơ hồ. Một khi xác tín: “Tôi biết tôi đã tin vào ai”, người tín hữu sẽ an tâm phó thác để Chúa dẫn đường, dù qua bao cơn nguy khốn. Đó là niềm tín thác của một em bé đơn sơ, đang ở trên một con tàu có cha mình làm thuyền trưởng. Mặc dù phong ba bão táp dữ dội, em vẫn tin chắc cha em sẽ điều khiển con tàu tới bến an toàn. Tình yêu mến và sự tin tưởng nói với em rằng: cha em là người giỏi nhất thế gian này. Niềm xác tín nơi Chúa cũng giúp chúng ta tìm thấy sự bình an, như em bé ngủ yên trong lòng mẹ, thư thái và an bình, vì chẳng có nơi đâu trên thế gian an toàn và ấm áp hơn.

“Tôi biết tôi đã tin vào ai”. Niềm xác tín ấy cũng giúp chúng ta có sức mạnh. Tác giả thư Do Thái đã viết: “Chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu Kitô là Đấng khai mở và kiện toàn Đức Tin” (Dt 12,1). Cuộc sống này là một cuộc đua. Ai muốn nhành nguyệt quế phải kiên trì và chấp nhận những khổ chế hy sinh. Trong cuộc đua thiêng liêng, người tín hữu nhận được sức mạnh nhờ niềm tin vào Đức Giêsu. Họ chắc chắn Người đang ở bên họ để tăng thêm sức mạnh, khích lệ động viên và giúp họ về đích trong vinh quang.

Một ngày nọ, tại Xêdarê, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ: “Người ta nói Con Người là ai? ... Các anh bảo Thày là ai?” (x. Mt 16, 13-20). Câu hỏi này khiến các ông ngỡ ngàng. Họ đã theo Chúa được vài năm rồi, mà xem ra chưa lúc nào đặt vấn đề nghiêm túc về căn tính của thày mình. Sau này, sau khi phục sinh, Người cũng hỏi Phêrô ba lần: “Simon con ông Gioan, con có yêu mến Thày hơn những người này không?” (Ga 21,15). Câu hỏi này cũng làm cho Phêrô lúng túng. Ông chỉ biết trả lời : “Lạy Thày, Thày biết rõ mọi sự. Thày biết con yêu mến Thày” (Ga 21,17). Nếu đối với câu hỏi ở Xêdarê, Phêrô đã tuyên xưng đức tin, thì lúc này, ông khẳng định lòng mến. Lòng mến ấy chân thành và tha thiết, có Chúa biết và làm chứng cho ông. Nhận biết Chúa là ai và thành tâm yêu mến Người, đó là những câu hỏi vẫn đang được đặt ra cho những ai muốn trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, bởi vì Người không chấp nhận một đức tin mờ ảo hay một tình mến nửa vời.

Trong cơn lốc cuộc đời hôm nay, một hiện tượng xem ra càng ngày càng phổ biến tới mức báo động, đó là lối sống đức tin hời hợt, thiếu chiều sâu. Con người vẫn khao khát Thiên Chúa, vẫn đi tìm kiếm Ngài. Tuy vậy, thay vì tìm kiếm một hình ảnh đích thật về Thiên Chúa, nhiều người chỉ chạy theo những ảo ảnh hoặc những “thượng đế” do họ tưởng tượng và bày vẽ ra. Nếu từ ban đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người giống hình ảnh của Ngài, thì trong xã hội thời nay, đang có một khuynh hướng ngược lại, đó là con người tạo dựng một “thiên chúa” theo hình ảnh mình, phù hợp với những tham vọng sở thích trần tục và dễ dãi. Do đó mà càng ngày càng xuất hiện nhiều hình thức mê tín dị đoan. Tôn giáo có nguy cơ trở thành một mớ đa thần hỗn loạn. Tình trạng buôn thần bán thánh, lo lót cho các vị thần để thăng quan tiến chức ngày càng ăn sâu vào não trạng của người dân, ngay cả một số lớn các quan chức và giới trí thức.

Đối với số đông người tín hữu công giáo, việc dạy và học giáo lý không được quan tâm. Nhiều người tự cho việc đi lễ mỗi tuần một lần là đủ “bổn phận” của người có Đạo. Hậu quả của lối sống Đạo thiếu giáo lý là một đức tin sơ sài, chỉ chú trọng đến bề nổi và những sinh hoạt kiểu hội hè, nặng tính thế tục. Cũng vậy, một số người có thói quen lượng giá đời sống đức tin của một cộng đoàn qua những bộ đồng phục hoặc những tổ chức bên ngoài mà ít nhấn mạnh đến đời sống nội tâm và tình bác ái. Họ tin Chúa, nhưng chưa hiểu rõ Chúa là ai đối với họ. Chính vì vậy, khi gặp gian nan thử thách, họ dễ ngã lòng và chao đảo. Đó là những người mang danh có Đạo, nhưng lại không biết mình tin vào ai.

“Tôi biết tôi đã tin vào ai”. Đó phải là lời khẳng định của mỗi người tín hữu, nếu họ muốn sống đúng với danh xưng này. Niềm xác tín ấy không dừng lại ở một công thức, hay một lời tuyên xưng nơi môi miệng, nhưng là kim chỉ nam cho đời sống hằng ngày và chi phối bao trùm trọn vẹn con người của mỗi chúng ta.

Mùa Phục Sinh 2017
Gm Giuse Vũ Văn Thiên


CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH - A

Cửa có hai công dụng. Để đóng vào và để mở ra. Có những cánh cửa như cửa tù ngục để giam kín phạm nhân. Có những cánh cửa giam hãm, bưng bít con người không cho thông giao với thế giới bên ngoài. Có những cánh cửa lò sát sinh nhốt thú vật để giết chết. Đó là những cánh cửa đóng kín chết chóc, huỷ hoại. Có những cánh cửa mở ra đón gió mát, đón khí trong lành, đón ánh sáng mặt trời tươi vui. Có những cánh cửa mở ra những chân trời xa tắp, khơi lên trong tâm hồn mơ ước cao xa. Có những cánh cửa mở ra đón nhận anh em trong tình huynh đệ thân mến. Đó là những cánh cửa mở ra sự sống.
Hôm nay, Chúa Kitô nói: “Ta là cửa chuồng chiên”, Người đã tự nhận mình là cánh cửa. Chúa Giêsu là cánh cửa không phải để đóng kín giam hãm đàn chiên. Nhưng là cánh cửa mở ra.
Chúa Giêsu là cánh cửa mở ra những chân trời vô tận.
Thỉnh thoảng ta nghe có dư luân xôn xao về ngày tận thế. Tất nhiên đó là một tin đồn thất thiệt, nhảm nhí, đượm mầu sắc mê tín dị đoan. Nhưng tin đồn đó cũng nói lên một sự thực là: Thế giới mà chúng ta đang sống là một thế giới hạn hẹp, sinh mạng con người là bèo bọt, kiếp sống con người là monh manh. Thật đáng buồn nếu con người chỉ có thế, bị kết án chung thân vào một thân xác mau tan rã, bị giam hãm trong một thế giới vật chất mau tàn tạ.
Chúa Giêsu Phục sinh đã phá vỡ vòng vây giam hãm đó. Khi tảng đá lấp cửa mộ lăn ra, Chúa Giêsu đã mở ra cho nhân loại một cánh cửa. Cánh cửa đó dẫn vào một không gian vô tận. Từ nay con người không còn bị kết án chung thân vào thân xác mau tan rã nữa, vì Chúa Giêsu phục sinh đã mặc lấy thân xác vinh hiển không bao giờ chết. Từ nay con người không còn bị giam hãm trong thế giới vật chất mau tàn tạ nữa, vì Chúa Giêsu Phục sinh đã mở lối ra thế giới thần linh, trong đó con người sống trong tự do, không còn bị ràng buộc trong không gian. Đó là một thế giới mới, thế giới vĩnh hằng, không bao giờ tàn tạ, thế giới vô biên chẳng có giới hạn.
Khi mở cánh cửa vào thế giới thần linh, Chúa Giêsu đã đẩy lùi ranh giới của thế giới vật chất đến vô hạn. Khi mở cánh cửa vào thế giới thần linh, Chúa Giêsu đã chắp cánh cho ước mơ của con người. Ước mơ ấy chẳng còn hạn hẹp trong những hạn chế của vòng vây thế giới, nhưng bay lên ngang tầm trăng sao để mơ những giấc mơ thần thánh. Khi mở cửa và thế giới thần linh, Chúa Giêsu đã giải phóng con người khỏi cảnh ngộ nô lệ vật chất hư hèn, nâng con người lên cuộc sống tự do của con Thiên Chúa.
Chúa Giêsu là cánh cửa mở ra suối nguồn sự sống
Thật là vô lý nếu con người sống chỉ để chết. Thật là vô lý nếu chết là hết. Nếu định mệnh con người là như thế, thà không sống còn hơn. Mỗi khi vào bệnh viện, ta không khỏi suy nghĩ khi nhìn những bệnh nhân rên xiết, quằn quại đau đớn hoặc thấy những tấm thân gầy còm, những khuôn mặt hốc hác. Đó là cái chết đang sống hay là một sự sống đang chết? Đời sống như thế còn có ý nghĩa gì không?
Chúa Giêsu đã bước vào thế giới kẻ chết để chiến đấu chống lại thần chết. Người đã chiến thắng. Và khi Người mở cửa mộ bước ra, Người đã mở cánh cửa dẫn vào một cuộc sống mới. Cuộc sống mới là một cuộc sống trọn vẹn bởi vì không còn bóng dáng Thần chết. Cuộc sống mới là một cuộc sống sung mãn bởi vì chẳng còn vết tích của đau khổ, bệnh tật, đói khát. Cuộc sống mới là một cuộc sống siêu nhiên trong đó con người được nâng lên làm con Thiên Chúa, được tham dự vào chính sự sống của chúa. Cuộc sống mới là một cuộc sống hạnh phúc vì được kết hợp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong một tình yêu trọn hảo.
Như thế cuộc sống con người vẫn có một hướng đi lên, để được nâng cao, để được phong phú, để được hoàn hảo. Chính vì thế mà dù biết cuộc sống khổ đau, người ta vẫn vui mừng khi một em bé chào đời. Chính vì thế người ta vẫn ăn mừng sinh nhật, coi đó là ngày trọng đại trong đời người.
Chính Chúa Giêsu đã biến đổi thân phận con người. Con người sinh ra không phải để chết, nhưng để sống, sống sung mãn, sống trọn vẹn, sống vĩnh viễn trong suối nguồn sự sống.
Nhưng để mở ra cho ta những chân trời vô tận của con Thiên Chúa, chúa Giêsu đã chịu nhận lấy kiếp sống mong manh, phù du, bèo bọt của con người. Để mở ra cho suối nguồn sự sống, Người đã phải đón nhận cái chết đau đớn. Người chính là vị Mục tử chân chính đã thí mạng vì đàn chiên.
Chúa Giêsu quả thật là cánh cửa mở ra cho đàn chiên đi đến những chân trời xa rộng, đi đến những đồng cỏ xanh tươi, đi đến những dòng suối trong lành.
Chúa Giêsu quả là vị mục tử tốt lành luôn chăm sóc đoàn chiên, luôn nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực bổ dưỡng. Chúa Giêsu đã đến cho ta được sống và được sống dồi dào.
Đó là cánh cửa duy nhất dẫn đến sự sống, ta hãy theo sát gót Người. Đó là người mục tử duy nhất, ta hãy nghe tiếng Người. Hãy đến với Người để Người đưa ta đến những chân trời xa rộng. Hãy đến với Người để Người băng bó vết thương, xoa dịu nỗi đau và phục hồi sự sống. Hãy đến với Người để Người đổ tràn tình yêu và sự sống vào tâm hồn ta.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

BỔN MẠNG THÁNG 5


THÁNG 5


NGÀY
LỄ
QUAN THẦY

10.05
Lễ thánh Solange
* Chị Hồng Hạnh
22.05
Lễ thánh Rita Cascia

* Chị Bích Dung 
25.05
Lễ thánh Sophie
*Chị Bích Phượng (Nhà Tập)
26.05
Lễ Thánh Philipphe de Neri
*Chị Hiên 




LỄ GIỖ CHA MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN


NGÀY
LỄ GIỖ
20.05
Ông cố Phêrô- Thân phụ Chị Nhi
21.05
(26.04 L)
Ống cố Giuse – Thân phụ Chị Hồng Thịnh
22 .05
Ông cố Giuse- Thân phụ Chị Tươi.
25.05
Ông Giacobê- Thân phụ Chị Matta Hà
31.05
Ông cố Phanxicô Savie- Thân phụ Chị Hải