Năm Thánh và Ân xá

 

Năm Thánh



Nguồn gốc Năm Thánh trong Kinh Thánh

I. Ngày Shabbat:

   1.Nguyên ngữ:

       Shabbat bắt nguồn từ 1 động từ gốc trong tiếng Semit, có nghĩa là: DỪNG (làm việc), NGHỈ VIỆC. NGHỈ NGƠI

    2. Nền tảng việc cử hành ngày Shabbat:

          * St. 2, 2-3 / Xh. 20, 8-11: Thiên Chúa sáng tạo: nghỉ, hoàn tất, chúc lành ngày VII

          *Đnl. 5, 15: Thiên Chúa cứu độ, giải phóng Dân vượt Biển Đỏ/ thoát Ai cập.

          *Đnl. 5,14: Lý do nhân đạo.

      3.Nhận xét:

         -   Shabbat trở thành dấu chỉ Giao ước

    Shabbat: ngày nghỉ trong tuần để dâng hiến Thiên Chúa, dành riêng (amshegulah)

          -  Shabbat trở nên: Luật quan trọng, từ thời Lưu đày (- VI)  là một đặc tính của Do thái giáo (cf. Mcb)

II.Năm Shabbat: (năm Hưu lễ)

      1.Nền tảng KT: Lv. 25, 1-7

      2.Nội dung cử hành:

          -Thời gian: 7 năm/lần: canh tác trong 6 năm+ 1 năm: ngưng trồng trọt. Mọi người đều được hưởng mọi hoa màu. Đất nghỉ ngơi, phục hồi. Con người kính Chúa.

      3.Mục đích:

         Lý do Tôn giáo: Xác nhận Chủ quyền Tuyệt đối của Thiên Chúa trên đất đai /Thánh hóa thời gian, con người.

        Lý do Xã hội: Con người chia sẻ áo cơm cho nhau, sống tình huynh đệ/ Củng cố, phát triển, phục hồi đất đai, phương tiện sản xuất.

      4.Nhận xét: Chu kỳ sinh học/con số 7: sự viên mãn / tái tạo hồng cầu.

  Đọc thêm

Thay đổi lối sống để kháng bệnh (TTCN. 01.02.04)

• Thưa ông, nhìn rộng hơn một chút, tại sao gần đây con người liên tiếp phải đối đầu với hết đợt dịch bệnh này đến đợt khác?

- Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: Đó là vấn đề môi trường và mối tương quan giữa con người với môi trường. Rừng xanh bị tàn phá cạn kiệt, băng Nam cực tan chảy, chất thải công nghiệp tràn lan, khói bụi ô nhiễm, hiệu ứng nhà kính... Chính các sự biến đổi không bình thường của môi trường này đã trực tiếp và gián tiếp làm cho thế giới vi sinh vật biến đổi theo. Có những loại virus trước đây không có bây giờ bất ngờ xuất hiện. Có những loại virus trước đây bình thường, "hiền lành", nay trở nên cực kỳ nguy hiểm, khi khống chế. Với tình hình này, Tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo sẽ cịn tồi tệ hơn. Trong 30 năm tới, nhân loại có thể sẽ phải đối đầu với 30 loại virus mới. Chúng đều nguy hiểm, khó lường trước và có thể gây ra các đợt dịch bệnh hàng loạt.

Nếu tạm gác sang các biện pháp y tế chuyên môn, mỗi con người chúng ta nên làm gì để tự bảo vệ mình trong "thời dịch bệnh” tràn lan này?

- Con người và virus dịch bệnh cũng có những mối tương quan với nhau. Con người khỏe mạnh có thể đề kháng virus dịch bệnh. Virus cũng có thể để kháng lại những gì con người tung ra để trị nó. Vấn đề cơ bản ở đây là mỗi bản thân con người cần thiết phải khỏe và từng thế hệ phải khỏe hơn để có thể chống chọi, tồnbtại trong thời đại nhiều dịch bệnh này. Điều oái ăm là rất nhiều người hiện nay lại đang trở nên yếu đi. Sự ỷ lại vào vật dụng hiện đại, lười biếng lao động, tập luyện cơ thể, sự ăn uống, sinh hoạt vô độ đều là những nguyên nhân trong xu hướng yếu dần của con người....

 Mỗi người chúng ta nên chọn một lối sống điều hịa: cĩ lm việc, cĩ vui chơi, tránh tham vọng quá nhiều dẫn đến trạng thái quá độ, căng thẳng rồi bệnh tật. Trong ăn uống, mỗi người cũng cần bớt lạm dụng quá nhiều những thứ sẽ không tốt cho cơ thể như đường, mỡ, rượu bia, thuốc lá; tăng cường chất xơ rau quả, đạm thực vật... Lối sống lành mạnh này cộng với sự tập luyện cơ thể phù hợp, tránh sa vào tệ nạn xã hội sẽ tạo ra sức khỏe cho mỗi người. Đây cũng chính là một trong những biện pháp cơ bản để tự bảo vệ mình trước những căn bệnh khó lường của thời đại.

III.Năm Toàn Xá.

1.Từ ngữ: Toàn xá, Năm Thánh. Một từ gợi lên niềm vui:

-La ngữ: Yubilaeum

-Do thái: Yobel: sừng cừu đực, tù và

2.Nền tảng Kinh Thánh: Lv, 25, 8-28

“Ngươi sẽ tính bảy tuần năm, 7*7 năm, thời gian 7 tuần năm sẽ là 49 năm, ngươi sẽ cho tù và rân rân vọng khắp nơi vào tháng 7, ngày 10 tháng ấy: vào ngày xá tội, người sẽ cho tù và vọng khắp nơi trong toàn xứ sở ngươi. Các người sẽ thánh hóa năm thứ 50, và các ngươi sẽ rao trong xứ ân xá cho toàn thể dân cư tro ng xứ. Đối với các ngươi, đó sẽ là Yobel, mỗi người sẽ về lại những sở hữu của mình, về lại thị tộc (gia đình) minh. Năm thứ 50 sẽ là Yobel đối với các ngươi ".

Như vậy:

    a) Thời gian 50 năm /lần, ngày 10.7 khởi đầu bằng tiếng tù và trên toàn thể đất nước.

    b) Cử hành: Những gì được cử hành trong năm S cũng được cử hành trong năm Yobel.

Nhưng triệt để hơn, sâu xa hơn và long trọng hơn. Năm Y của Do thái trong Cựu ước được cử hành như :

* một năm Thánh: thánh hóa, dâng hiến đặc biệt cho Thiên Chúa: chủ quyền tối cao của Thiên Chúa.

* một năm Giải phóng: Tưởng nhớ lại kỳ công Chúa đã thực hiện để đưa Dân qua biển Đỏ, thoát ách nô lệ Ai cập. Họ nhận ra và công bố mọi người đều là anh em và bình đẳng với nhau: trả tự do cho nô lệ, đoàn tụ gia đình, trở về quê hương

* một năm công bằng: hướng về Yave, Dân thanh tẩy, sám hối vì những bất trung thất tín của mình. Thể hiện tâm tình đó qua việc huỷ bỏ nợ nần, hận thù. Hoàn trả lại đất đai, phẩm vật quý giá cho khổ chủ. Năm tha thứ để thiết lập lại trật tự và bình đẳng.

* một năm của tạo thành: Chủ quyền của Thiên Chúa.

3. Nhận xét:

+ Do thái giáo cử hành năm thánh rất long trọng, sốt sắng và triệt để, mang tính tích cực.

+ Nhấn mạnh tính xã hội với mục đích:

 - khôi phục sự bình đẳng trong dân Chúa.

 - tạo điều kiện cho các gia đình mất của cải, tự do cá nhân.

 - thiết lập sự quân bình giữa mọi tầng lớp trong xã hội, xây dựng sự công bằng xã hội để mọi người nhận ra nhau là anh em trong tha thứ, hòa bình và yêu thương.

+ Không chú trọng tính cách sám hối, không nhấn mạnh tội lỗi, nhưng làm nổi bật tính vui tươi, tưng bừng của những người được Thiên Chúa thương xót, giải cứu và yêu thương.

+ Tuy nhiên, những thực hành đáng trân trọng ấy chỉ mới là hình bóng, là sự loạn báo và chuẩn bị. Năm Thánh đích thực chỉ khởi sự tại Hội đường Nazarethus lời công bố của Đức Giêsu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi. Vì Chúa đã xúc dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" (Lc 4, 18-19).

 

 

 

 

Hai Ngọn Núi

 

HAI NGỌN NÚI

 



Một cuốn phim tựa đề là Mask được dựa trên câu chuyện có thật của một bé trai tên là Rocky Dennis.  Em bị bệnh rất hiếm mà nó làm cho xương sọ và mặt của em lớn hơn bình thường.

 

Hậu quả là khuôn mặt của Rocky thì méo mó và biến dạng khủng khiếp.  Dáng vẻ kỳ quái của em làm cho nhiều người phải tránh xa em, và nhiều người khác lại nhạo cười em.

 

Qua tất cả những điều đó, Rocky không bao giờ thấy thương hại chính mình.  Em cũng không tức giận.  Em cảm thấy buồn về diện mạo của mình, nhưng em chấp nhận điều đó như một phần của cuộc đời. 

 

Một ngày kia, Rocky và chúng bạn đến thăm một khu giải trí.  Chúng đi vào một “căn phòng đầy tấm gương” và cười thích thú khi nhìn đến thân hình và diện mạo của chúng bị các tấm gương làm méo mó.

 

Bỗng dưng Rocky nhìn thấy điều gì đó làm em sững sờ.  Một tấm gương làm méo mó diện mạo dị thường của em cách nào đó mà nó làm cho khuôn mặt của em trở nên bình thường – ngay cả đẹp trai lạ lùng.

 

Lần đầu tiên, chúng bạn của Rocky nhìn thấy em trong một cách hoàn toàn mới.  Chúng nhìn thấy ở bên ngoài những gì bên trong con người em: một người thực sự xinh đẹp.

 

Điều gì đó giống như vậy đã xảy ra cho Đức Giêsu trong bài phúc âm hôm nay.  Trong sự biến hình của Người, các môn đệ của Đức Giêsu đã nhìn thấy Người trong một phương cách hoàn toàn mới.  Lần đầu tiên họ nhìn thấy ở bên ngoài những gì bên trong của Người: là Con Thiên Chúa vinh hiển, xinh đẹp.

 

Điều này nêu lên một câu hỏi.  Tại sao sự biến hình của Đức Giêsu lại được đặt vào các bài đọc mùa Chay, mà chúng thường ảm đạm, thay vì các bài đọc mùa Phục Sinh, thường đối diện với sự vinh hiển của Đức Giêsu?

 

Câu trả lời nằm trong bối cảnh của sự biến hình trong bài Phúc Âm.  Sự kiện này xảy ra sau khi Đức Giêsu nói với các môn đệ là Người phải lên Giêrusalem để chịu đau khổ và chịu chết.

 

Khi ông Phêrô nghe Đức Giêsu nói điều này, ông lớn tiếng nói, “‘Lạy Chúa đừng để việc đó xảy ra cho Thầy!’ Đức Giêsu quay lại và nói với ông Phêrô, ‘Xatan, hãy tránh xa ta! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người’.” (Mt 16:22-23)

 

Các ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan có lẽ cần một mũi thuốc bổ tinh thần chích vào cánh tay sau cảm nghiệm chấn động này.

 

Có lẽ đó cũng là lý do tại sao Giáo Hội lại đưa biến cố Biến Hình vào các bài đọc mùa Chay.  Giáo Hội muốn cho chúng ta một mũi thuốc bổ tinh thần trước khi giúp chúng ta chú ý đến những đau khổ của Đức Giêsu trong Thứ Sáu Tuần Thánh.

 

Nhưng còn có một lý do khác tại sao sự biến hình lại được đưa vào các bài đọc mùa Chay.  Đó là vì sự biến hình có sự tương đồng kinh ngạc với sự thống khổ trong một khu vườn.

 

Cũng như sự thống khổ trong khu vườn, nó xảy ra trên một ngọn núi – Núi Cây Dầu, sự biến hình cũng xảy ra trên một ngọn núi – Núi Tabo.

 

Và giống như sự thống khổ trong khu vườn, sự biến hình cũng chỉ được chứng kiến bởi ba môn đệ: Phêrô, Giacôbê, và Gioan.

 

Và giống như sự thống khổ trong khu vườn, nó xảy ra vào ban đêm, sự biến hình cũng xảy ra vào ban đêm.  Và trong cả hai trường hợp, các môn đệ thiếp ngủ trong khi Đức Giêsu vẫn tỉnh thức, cầu nguyện.

 

Sau cùng, và đây là lý do quan trọng, hai sự kiện này – sự thống khổ và sự biến hình – bổ sung cho nhau.

 

Trên núi Tabo, ba môn đệ được thấy Đức Giêsu trong một giây phút xuất thần, khi thiên tính của Người chiếu tỏa qua một phương cách chưa từng có.

 

Trên núi Cây Dầu, ngược lại, họ nhìn thấy Đức Giêsu trong giây phút thống khổ, khi nhân tính của Người chiếu tỏa qua một phương cách chưa bao giờ được thấy trước đó.

 

Núi Tabo và núi Cây Dầu tiết lộ sự tương phản kinh ngạc về nhân tính và thiên tính của Đức Giêsu. 

 

Hai biến cố trên các núi này là các mặt không thể tách biệt của một đồng tiền.  Chúng cho chúng ta thấy toàn thể Đức Giêsu trong một cách toàn thể: nhân tính và thiên tính của Người.

 

Và ngay ở đây, các biến cố trên hai ngọn núi này chứa đựng một thông điệp quan trọng, thực tiễn cho chúng ta.

 

Cũng như Đức Giêsu, chúng ta cũng có hai chiều kích về chúng ta.  Trong mỗi người chúng ta đều có điều gì đó mà nó nhân bản và điều gì đó mà nó thánh thiêng.  Trong mỗi người chúng ta đều có một tia sáng của Adong và một tia sáng của Thiên Chúa.

 

Cũng như Đức Giêsu trên núi Tabo, chúng ta cũng cảm nghiệm những giây phút xuất thần, khi tia sáng của Thiên Chúa chiếu qua thật rực rỡ đến độ hầu như làm chúng ta mù lòa.  Chúng ta cảm thấy thật gần với Thiên Chúa đến độ dường như có thể chạm đến Người.

 

Trong những giây phút này, chúng ta bàng hoàng thấy cuộc đời thật xinh đẹp biết chừng nào.  Chúng ta yêu quý mọi người.  Chúng ta ôm hôn bạn bè và tha thứ cho kẻ thù.

 

Đàng khác, giống như Đức Giêsu trong núi Cây Dầu, chúng ta cũng cảm nghiệm những giây phút thống khổ.  Trong những giây phút này, tia sáng Adong xuất hiện thật bén nhọn trong chúng ta đến độ tia sáng của Thiên Chúa lập lòe và như muốn tắt.

 

Trong những giây phút này, cuộc đời thật thê thảm.  Chúng ta cảm thấy không có ai yêu thương chúng ta.  Chúng ta nhìn thấy lỗi lầm nơi bạn hữu, và chúng ta nguyền rủa kẻ thù.  Chúng ta hồ nghi sự hiện diện của Thiên Chúa.

 

Khi các giây phút thống khổ và xuất thần này xảy đến, chúng ta phải nhớ đến hai ngọn núi: Núi Tabo và núi Cây Dầu.  Chúng ta phải nhớ lại rằng Đức Giêsu cũng kinh qua các thăng trầm trong cuộc đời của Người.

 

 Chúng ta phải nhớ đến những gì quan trọng hơn.  Chúng ta phải nhớ rằng trong cả hai trường hợp, trong sự xuất thần của Người trên núi Tabo, và trong sự thống khổ của Người trên núi Cây Dầu, Đức Giêsu đã cầu nguyện.

 

Nếu sự cầu nguyện là cách Đức Giêsu đáp trả với các giây phút này thì đó cũng phải là cách chúng ta đáp ứng với chúng.

 

Và nếu chúng ta làm như thế, cũng như Đức Giêsu trong sự biến hình trên núi Tabo, chúng ta cũng sẽ nghe Cha chúng ta nói với chúng ta, “Đây là Con ta, người mà ta đã chọn…” Và giống như Đức Giêsu trong sự thống khổ trên núi Cây Dầu, chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm được bàn tay chữa lành của Cha chúng ta chạm đến chúng ta.

 

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con,
xin cho chúng con biết đến những giây phút xuất thần
như Đức Giêsu đã biết trên núi Tabo.
Khi những giây phút này xảy đến,
xin giúp chúng con thi hành những gì Đức Giêsu đã làm.
Xin giúp chúng con quay về với Ngài trong sự cầu nguyện
và xin cho chúng con được nghe những gì Ngài nói với chúng con,
“Con là đứa con được chọn của ta.”

Và, lạy Cha, cũng giống như vậy,
khi những giây phút thống khổ xảy đến cho chúng con,
như chúng đã xảy ra cho Đức Giêsu trên núi Cây Dầu,
xin giúp chúng con thi hành những gì Đức Giêsu đã làm.
Xin giúp chúng con quay về với Ngài trong sự cầu nguyện
Và xin giúp chúng con cảm được bàn tay chữa lành của Ngài
chạm đến chúng con.

 

Lm. Mark Link S.J.

Bổn Mạng Tháng 3

 

THÁNG 3


 

NGÀY

LỄ

QUAN THẦY

09/03

Lễ thánh Françoise Romaine

Chị Lan

15/03

Lễ thánh Louise de Marillac

Chị Giêng

19/03

Lễ thánh Joseph

* Dì Thủy

* Chị Kim Tiên

* Bổn mạng Tập viện

Ghi chú:

Từ ngày 10/03 đến 18/03: làm Tuần Cửu Nhật kính Thánh Giuse -  Bảo trợ Tỉnh dòng.

 

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

 

 

NGÀY

LỄ GIỖ

05/03/1977

(16/01/1977 ÂL)

Ông cố Bênêdicto - Thân phụ Dì Nhơn

14/03

Ông cố Gioan Baotixita - Thân phụ chị Loan

16/03

Ông cố Lôrenxô - Thân phụ chị Thảo (Dominique)

17/03/1997

(09/02/1997 ÂL)

Bà cố Anna - Thân mẫu chị Hoa

25/03/2021

Ông cố Giuse - Thân phụ chị Sáng

 

Cha Hiện Diện Nơi Kín Ẩn

 

CHA HIỆN DIỆN NƠI KÍN ẨN

 




Cứ đến Thứ Tư Lễ Tro là chúng ta lại được nghe bài Tin Mừng này.

 

Đức Giêsu nói đến ba việc đạo đức quan trọng của người Do Thái:  cầu nguyện, bố thí, ăn chay. 

 

Chẳng phải cứ đợi đến Mùa Chay chúng ta mới làm ba việc đó.  Nhưng Mùa Chay là thời gian thuận lợi để ta tập trung chú ý hơn.  Tập trung vào cầu nguyện là làm mới lại tương quan với Thiên Chúa, từ bỏ những gì làm tôi xa Chúa và dứt bỏ mọi tội lỗi quen phạm.  Tập trung vào bố thí là chia sẻ của cải cho những người nghèo hơn, tự nguyện bỏ bớt một phần tiện nghi để giúp những ai đói khổ.  Tập trung vào chay tịnh là làm cho thân xác, tâm hồn mình trở nên nhẹ nhàng, thoát khỏi những kéo xuống nặng nề, những cám dỗ sống hưởng thụ, ích kỷ.  Cả ba việc này có tương quan chặt chẽ với nhau.

 

Khi làm tốt một việc, ta sẽ dễ làm hai việc còn lại hơn.  Ăn chay giúp chúng ta hàn gắn lại tình bạn với Chúa, và lớn lên trong sự thân mật đối với Ngài.  Ăn chay giúp ta tránh tội và tránh mọi thứ dẫn đến tội.  Ăn chay là thoát ra khỏi sự thèm muốn tự nhiên về cơm bánh vật chất, để nếm cảm sự cần thiết của tấm bánh tinh thần.  Nhờ ăn chay con người thấy mình được tự do hơn để sống theo ý Chúa. 

 

Khi chịu đói nơi thân xác, chúng ta sẽ thấy tim mình đói khát Thiên Chúa và mong Ngài đến với ta để làm ta mãn nguyện.  Nhưng ăn chay cũng giúp ta mở mắt trước tình cảnh thiếu thốn của tha nhân.  Nhờ ăn chay, chúng ta không còn sống cho chính mình nữa, nhưng biết sống cho Chúa và tha nhân.  Ăn chay giúp ta chế ngự được tính ích kỷ làm ta co lại, nhờ đó ta có thể mở lòng ra trước nhu cầu của anh chị em mình và chia sẻ cho họ điều mình đã tiết kiệm được từ ăn chay.

 

Ngay cả một người có hai áo cũng có thể chia sẻ được cho người trần trụi.  Người chỉ còn vài lon gạo cũng có thể chia cho người đang đói.  Chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình 40 ngày Mùa Chay.

Không phải chỉ là ăn chay, mà là sống chay.  Chay tịnh phải là một thái độ thấm vào cuộc sống.  Khi bớt nuông chiều những đòi hỏi ngày càng nhiều của thân xác, chúng ta sẽ thắng được những cám dỗ của thèm muốn vô độ.

 

*******************************

Lạy Chúa Giêsu,

xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,

nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,

dễ thấy Chúa hiện diện

và hoạt động trong đời con.

Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,

xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,

khép kín và nghi ngờ.

Xin dạy con sự hiền hậu

để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.

Xin dạy con sự khiêm nhu

để con dám buông đời con cho Chúa.

Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,

vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,

hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.

 

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

Hãy Biết Mình

 

HÃY BIẾT MÌNH



“Hãy biết mình!”  Đó là một trong những luận đề quan trọng trong triết lý của Socrates, ông tổ của triết học Hy Lạp, sống ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên.  Bên Đông phương, cụ Khổng Tử cũng chung một quan điểm, khi chủ trương “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”  Bản thân một người chưa trưởng thành hoặc thiếu tài đức thì không thể làm gì cho gia đình và xã hội.  Chúa Giê-su đã dùng những hình ảnh đơn sơ dễ hiểu mà chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay, để giáo huấn chúng ta: Hãy xem lại mình trước khi góp ý người khác.  Thông thường, chúng ta có thói quen để ý, thậm chí soi mói lỗi lầm của người khác, trong khi mình còn nhiều khiếm khuyết thì không lưu ý sửa đổi.  Ông La Fontaine, một tác giả ngụ ngôn nổi tiếng của văn học Pháp, đã viết câu chuyện một người mang hai chiếc giỏ, một chiếc đằng trước và một chiếc đàng sau.  Những lỗi lầm của người khác thì bỏ vào giỏ đàng trước; và những lỗi lầm của mình thì bỏ vào giỏ phía sau.  Câu chuyện ngụ ngôn này thật đúng với tâm lý chung của chúng ta.  Biết mình là can đảm khiêm tốn nhận ra những thiếu sót để thiện chí sửa đổi, nên hoàn thiện hơn mỗi ngày.  Trong cuộc sống, có nhiều người không biết bản thân, quá tự tin nên ảo tưởng về quyền lực, hậu quả là trở thành trò cười cho thiên hạ.

 

Con người sinh ra chưa biết gì.  Cần phải có thời gian học hành tập luyện.  Người khiêm tốn học hỏi sẽ biết đối nhân xử thế, kính trên nhường dưới và xây dựng một mối tương quan hài hòa với những người xung quanh.  Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta chuyên tâm sửa mình để có con mắt sáng.  Một khi có tâm hồn trung thực và ngay thẳng, chúng ta mới có thể giúp đỡ người khác sống tốt.  Người mù không thể dắt người mù!  Điều đó đã quá rõ.  Để hướng dẫn người khác đi đúng đường, chúng ta phải quen biết con đường đó, nếu không tất cả sẽ mất hướng.  Không ai trên đời là hoàn hảo, vì vậy mọi người phải giúp đỡ nhau để cùng nên hoàn thiện.  Động viên khích lệ và sửa lỗi cho nhau, đó chính là đức Ái Ki-tô giáo.

 

Lời giáo huấn của Chúa Giê-su không chỉ nhằm tới cá nhân, mà cả cộng đoàn tín hữu.  Ngay từ thuở sơ khai, giữa các tín hữu đã có sự cạnh tranh ghen tỵ, phân biệt giữa những người đàn bà góa gốc Hy Lạp (x. Cv 6,1-7).  Những cộng đoàn xứ họ của chúng ta ngày nay cũng thế.  Có những cộng đoàn bị tổn thương nghiêm trọng do những cá nhân tự phụ hoặc thiếu hiểu biết, thiếu thiện chí.  Xem quả biết cây, một cộng đoàn chia rẽ và thường xuyên xảy ra xung đột, thì không thể là một cộng đoàn đạo đức và như thế không có khả năng diễn tả hình ảnh sống động của Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Những mâu thuẫn bất hòa giữa các xứ họ là lực cản của công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội, là sứ vụ quan trọng nhất mà Chúa Giê-su đã trao phó.  Tình liên đới hài hòa và cộng đồng trách nhiệm chính là hoa trái của một cộng đoàn đức tin sinh động, có khả năng giới thiệu Chúa cho con người của thời đại hôm nay.

 

Bài đọc I trích sách Huấn Ca mang nội dung rất gần với những ca dao tục ngữ của người Việt Nam chúng ta.  Tác giả dạy mọi người phải thận trọng khi khen chê cũng như khi nhận định về một con người, một sự việc.  Ông bà ta dạy: người khôn ngoan uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.  Đó là lời dạy về sự thận trọng trong ngôn từ để tránh mất lòng và mất mát tình cảm.  Người xưa cũng nói: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” có nghĩa là một lời nói ra dù bốn ngựa khó đuổi.  Hãy nhớ rằng, một lời đã nói ra thì không thể lấy lại.  Khi nói ra những điều thiếu tế nhị có thể khiến cuộc sống của chúng ta trở nên tồi tệ, và làm rạn nứt những mối quan hệ xung quanh.

 

Ki-tô hữu không chọn một nhân vật trần thế làm lý tưởng cho mình, nhưng là chọn Chúa Giê-su.  Nói cách khác, hành trình đức tin cũng là hành trình hoàn thiện bản thân để nên giống như Chúa Giê-su.  Trong hành trình này, cần phải kiên trì nhẫn nại và nhất là cần phải khiêm tốn, biết mình.  Thánh Phao-lô khích lệ giáo dân Cô-rin-tô hãy kiên tâm bền chí để đạt tới sự hoàn thiện.  Ngài khẳng định: “Trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” (Bài đọc II).

 

“Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-ban.  Hình ảnh tươi đẹp tràn đầy sức sống của cây dừa và cây hương bá được tác giả Thánh vịnh dùng để diễn tả những ai sống tốt lành và luôn phó thác cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa.  Giữa cuộc sống còn đầy những âu lo trăn trở và bộn bề hôm nay, nguyện xin Chúa cho chúng ta vẫn ngẩng cao đầu, như đóa sen sống giữa bùn lầy mà vẫn tỏa hương thơm ngát cho những người xung quanh.

 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên