Cách Các Thánh Chữa Lành Tình Bạn Bị Tổn Thương

 CÁCH CÁC THÁNH CHỮA LÀNH TÌNH BẠN BỊ TỔN THƯƠNG

 


Tình bạn không chỉ là khởi nguồn cho sự phát triển thiêng liêng mà còn của niềm vui và sự hài lòng, và do đó, việc kết thúc một tình bạn trong sự giận ghét có thể gây ra nhiều đau khổ và buồn bã.  Những cuộc tranh luận, bất đồng hoặc hiểu lầm có thể khiến những mối quan hệ từng tốt đẹp và giàu sức sống phải tan vỡ.

 

Nếu điều này đã từng xảy ra với bạn, thì hãy can đảm lên; một số vị thánh cũng từng trải qua kinh nghiệm không hạnh phúc này.  Ví dụ điển hình nhất về tình bạn tan vỡ có thể kể đến chính Chúa Giêsu, vì một trong những môn đệ đã phản bội Ngài.

 

Khi Giuđa Ítcariốt dẫn lính canh đền thờ vào Vườn Gethsemane để bắt Chúa Giêsu, Ngài gọi hắn là “bạn” (Mt 26:50), không phải theo cách mỉa mai hay châm chọc, mà là chân thành và yêu thương.  Chúa sẵn lòng tha thứ cho Giuđa về việc hắn đã làm, nhưng Giuđa từ chối.  Mối quan hệ đi đến một kết thúc bi thảm không phải vì Chúa Giêsu mong muốn như vậy, mà bởi vì Giuđa đã đầu hàng tuyệt vọng sau hành động phản bội của mình và tự treo cổ.

 

Tình bạn căng thẳng của các vị thánh

 

Nhiều trường hợp về tình bạn căng thẳng giữa các vị thánh đã được ghi nhận.  Thánh Phaolô và thánh Banaba là những người bạn thân thiết.  Trong thực tế, chính Banaba là người đã giới thiệu Phaolô với thánh Phêrô và các tông đồ khác.

 

Việc Banaba đón nhận Phaolô đã làm cho những Kitô hữu tiên khởi khác bỏ qua sự nghi ngờ đối với người từng bắt bớ Giáo hội này.  Cả hai vị tông đồ được Chúa Thánh Thần chọn để đi truyền giáo cùng nhau.  Banaba có người em họ trẻ tuổi là Máccô đi cùng.  Tuy nhiên, trong hành trình đó, Máccô đã quay về vì một lý do nào đó không rõ (Cv 13:13).  Điều này khiến Phaolô tức giận.  Khi hai vị tông đồ chuẩn bị cho một hành trình truyền giáo khác, Banaba lại muốn mang theo Máccô, nhưng Phaolô nhớ lại sự không kiên định trước đó của người trẻ tuổi này nên không cho phép, và điều này dẫn đến sự rạn nứt tạm thời giữa Phaolô và Banaba.

 

Vào thế kỷ thứ tư, thánh Heliodorus gặp thánh Giêrônimô ở Ý, trở thành môn đệ và cuối cùng là bạn của vị học giả lỗi lạc này.  Ngài thậm chí còn tài trợ cho thánh Giêrônimô trong việc dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh, ngôn ngữ phổ thông thời bấy giờ.  Bản dịch này, theo yêu cầu của Giáo hoàng St. Damasus, được gọi là Vulgate.  Khi thánh Giêrônimô và các môn đệ đến Đất Thánh, thánh Heliodorus cũng đi theo, mặc dù ngài từ chối tham gia vào cuộc sống ẩn dật trong sa mạc vì ngài cảm thấy Chúa không kêu gọi mình theo lối sống đó.

 

Thánh Giêrônimô nổi tiếng với tính khí nóng nảy, đã rất bực bội về điều này và đã viết một lá thư đầy phẫn nộ quở trách thánh Heliodorus.  Sau đó, thánh Heliodorus trở lại Ý và được bổ nhiệm làm Giám mục của thị trấn nhỏ Altino.  Ở đây, ngài vẫn thể hiện lòng khoan dung và độ lượng của mình bằng cách tiếp tục gửi hổ trợ tài chính cho thánh Giêrônimô.

 

Đôi khi, sự khác biệt về tính cách có thể khiến tình bạn trở nên căng thẳng.  Ví dụ điển hình về điều này liên quan đến hai vị thánh Basiliô và Grêgôriô thành Nazianzus của thế kỷ IV.

 

Basiliô là người hướng ngoại, dứt khoát và kiên định, trong khi đó Grêgôriô nhạy cảm, rụt rè và thích ẩn dật.  Cả hai đều được thụ phong linh mục, Basiliô rất sẵn sàng, còn Grêgôriô thì rất miễn cưỡng, và cả hai đều về một tu viện để tu tập một thời gian.  Vào năm 370, Basiliô được bổ nhiệm làm Giám mục Caesarea, và ngài đã chứng tỏ mình rất phù hợp với vai trò tích cực trong việc bảo vệ giáo lý của Giáo hội chống lại những lạc thuyết thời đó.

 

Đổi lại, hai năm sau, Basiliô đã bổ nhiệm “người bạn miễn cưỡng” của mình là Grêgôriô làm Giám mục Sasima.  Tuy nhiên, thay vì đến Sasima ở, Grêgôriô vẫn ở lại Nazianzus để phụ giúp cha mình, lúc đó cũng đang là Giám mục ở đó (vào thời kỳ đầu của Giáo hội, giáo sĩ chưa bắt buộc phải độc thân).  Điều này khiến Basiliô rất tức giận, có lẽ vì ngài đã quen với chuyện mọi việc phải theo ý mình trong những vấn đề như vậy.  Tuy nhiên, cuối cùng, hai người bạn cũng đã làm hòa với nhau, và nếu sự hòa giải này không xảy ra trong cuộc sống trần thế của họ, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ xảy ra trên Thiên Đàng.

 

Tình bạn là một quà tặng

 

Tình bạn là một quà tặng của Thiên Chúa.  Quả vậy, theo thánh Aelred thành Rievaulx: “Thiên Chúa là tình bạn.”  Đó là lý do tại sao Thánh Phanxicô de Sales có thể tự tin nói rằng: “Tình bạn trên thế giới này sẽ được nối lại, không bao giờ bị tan vỡ.”  Suy nghĩ này có thể là một sự an ủi nếu bạn buồn bã vì sự tan vỡ của một tình bạn từng viên mãn.  Bạn có thể yên tâm rằng trong vương quốc của Thiên Chúa, tất cả các mối quan hệ đổ vỡ sẽ được chữa lành và hoàn thiện.  Nếu bạn không muốn tái lập mối quan hệ với ai đó, ngay cả trên Thiên Đàng, thì tốt hơn hết bạn nên bắt đầu cầu nguyện để thay đổi con tim, vì cách duy nhất để tránh biết và yêu thương ai đó trong cõi vĩnh hằng là một hoặc cả hai bạn đều ở ngoài Nước Trời.

  

Những người bạn thường giúp chúng ta phát triển lòng đạo hạnh, và chúng ta cũng nên làm điều tương tự cho họ.  Giúp đỡ lẫn nhau để trưởng thành trong sự thánh thiện đôi khi có thể cần đến sự sửa dạy trong tình huynh đệ.  Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề này, Thánh Phanxicô Xaviê khuyên rằng: “Các bạn càng thân thiết, các bạn càng có thể nói thẳng thắn, nhưng nếu chỉ là quen biết xã giao thì từ từ rồi hãy quở trách.”

 

Sự quan tâm của chúng ta đến hạnh phúc thiêng liêng của bạn bè luôn đi kèm với sự rủi ro là họ sẽ bị xúc phạm hoặc buồn lòng vì chúng ta.  Nhưng mọi tình bạn – ngay cả khi tan vỡ – đều có thể trở thành phúc lành khi bạn nhìn nhận từ góc độ của sự vĩnh hằng.

 

Suy tư thêm từ các vị thánh

“Khi tôi kiệt sức vì những bất ổn của thế giới, tôi hoàn toàn phó mình cho tình thương của những người đặc biệt gần gũi với tôi.  Tôi biết rằng mình có thể hoàn toàn tin tưởng họ với những suy nghĩ và cân nhắc của mình, bởi vì họ có một tình yêu Kitô giáo nồng nàn và là những người bạn trung thành của tôi.  Vì tôi không tin tưởng họ như tin tưởng một con người khác, mà là tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng ngự trong họ và khiến họ trở nên như hiện tại.”  Thánh Augustinô

 

“Nếu một người phải chịu đựng sự lăng mạ, đánh đập và bỏ tù vì một trong những người bạn của mình, anh ta sẽ đau khổ biết bao khi biết rằng người bạn của mình không nhớ gì về điều đó và thậm chí không muốn nghe người ta nói về điều đó.  Mặt khác, anh sẽ hài lòng biết bao khi biết rằng bạn anh ta luôn tha thiết nói về điều đó và thường cảm ơn anh về điều đó.  Vì vậy, Chúa Giêsu Kitô rất hài lòng khi chúng ta nhớ lại với lòng biết ơn yêu thương vì những nỗi đau đớn, nỗi buồn và cái chết mà Ngài đã chịu vì chúng ta.  Mỗi lần chúng ta bị một người bạn đối xử tệ bạc, chúng ta có thể tự hỏi mình đã đối xử với “Người Bạn” vĩ đại nhất như thế nào.” Thánh Alphonsus Liguori

 

Một số điều bạn có thể thử

Thánh Augustinô nói rằng vào những lúc chúng ta bị cái nghèo làm khổ cực, buồn bã vì tang chế, ốm đau hoặc dằn vặt bởi nỗi đau, hãy để những người bạn tốt đến thăm chúng ta.  Họ nên là những người không chỉ có thể vui với niềm vui của ta mà còn có thể khóc với nỗi sầu của ta nữa.  Hãy để họ là những người đưa ra lời khuyên hữu ích và giúp ta bày tỏ cảm xúc của mình trong cuộc trò chuyện.

 

Bạn nên cố gắng trở thành người bạn tốt như thánh Augustinô đã đề cập, ngay cả với những người bạn cũ, đặc biệt là khi họ gặp bất hạnh.  Đây sẽ là dấu chỉ của lòng bác ái Kitô giáo chân chính nơi bạn, và trong trường hợp tình bạn rạn nứt, nó thậm chí có thể giúp hàn gắn lại.

 

Duy trì lòng bác ái với những người bạn cũ là điều quan trọng, ngay cả khi họ đối xử bất công với bạn.  Thánh Thomas More, khi bị kết án tử hình vì từ chối chấp nhận cuộc hôn nhân không hợp lệ của Vua Henry VIII, đã nói với các thẩm phán của mình, một số người trong số họ vốn là bạn bè và đồng nghiệp của ngài rằng: “Giống như thánh Phaolô đã giữ áo cho những kẻ ném đá Stêphanô chết, giờ đây cả hai đều là bạn trên Thiên đàng và sẽ mãi mãi là bạn ở đó, thì tôi cũng thật sự tin tưởng và nguyện cầu hết lòng rằng, mặc dù hiện giờ trên trần gian, các ngài là những vị thẩm phán lên án tôi, nhưng sau này chúng ta vẫn có thể gặp nhau trên Thiên đàng trong sự cứu rỗi đời đời.”

 

Tác giả: Fr. Joseph M. Esper - Chuyển ngữ: Mai Ni
Nguồn: Catholic Exchange

 

CÁCH CÁC THÁNH CHỮA LÀNH TÌNH BẠN BỊ TỔN THƯƠNG

 

Tình bạn không chỉ là khởi nguồn cho sự phát triển thiêng liêng mà còn của niềm vui và sự hài lòng, và do đó, việc kết thúc một tình bạn trong sự giận ghét có thể gây ra nhiều đau khổ và buồn bã.  Những cuộc tranh luận, bất đồng hoặc hiểu lầm có thể khiến những mối quan hệ từng tốt đẹp và giàu sức sống phải tan vỡ.

 

Nếu điều này đã từng xảy ra với bạn, thì hãy can đảm lên; một số vị thánh cũng từng trải qua kinh nghiệm không hạnh phúc này.  Ví dụ điển hình nhất về tình bạn tan vỡ có thể kể đến chính Chúa Giêsu, vì một trong những môn đệ đã phản bội Ngài.

 

Khi Giuđa Ítcariốt dẫn lính canh đền thờ vào Vườn Gethsemane để bắt Chúa Giêsu, Ngài gọi hắn là “bạn” (Mt 26:50), không phải theo cách mỉa mai hay châm chọc, mà là chân thành và yêu thương.  Chúa sẵn lòng tha thứ cho Giuđa về việc hắn đã làm, nhưng Giuđa từ chối.  Mối quan hệ đi đến một kết thúc bi thảm không phải vì Chúa Giêsu mong muốn như vậy, mà bởi vì Giuđa đã đầu hàng tuyệt vọng sau hành động phản bội của mình và tự treo cổ.

 

Tình bạn căng thẳng của các vị thánh

 

Nhiều trường hợp về tình bạn căng thẳng giữa các vị thánh đã được ghi nhận.  Thánh Phaolô và thánh Banaba là những người bạn thân thiết.  Trong thực tế, chính Banaba là người đã giới thiệu Phaolô với thánh Phêrô và các tông đồ khác.

 

Việc Banaba đón nhận Phaolô đã làm cho những Kitô hữu tiên khởi khác bỏ qua sự nghi ngờ đối với người từng bắt bớ Giáo hội này.  Cả hai vị tông đồ được Chúa Thánh Thần chọn để đi truyền giáo cùng nhau.  Banaba có người em họ trẻ tuổi là Máccô đi cùng.  Tuy nhiên, trong hành trình đó, Máccô đã quay về vì một lý do nào đó không rõ (Cv 13:13).  Điều này khiến Phaolô tức giận.  Khi hai vị tông đồ chuẩn bị cho một hành trình truyền giáo khác, Banaba lại muốn mang theo Máccô, nhưng Phaolô nhớ lại sự không kiên định trước đó của người trẻ tuổi này nên không cho phép, và điều này dẫn đến sự rạn nứt tạm thời giữa Phaolô và Banaba.

 

Vào thế kỷ thứ tư, thánh Heliodorus gặp thánh Giêrônimô ở Ý, trở thành môn đệ và cuối cùng là bạn của vị học giả lỗi lạc này.  Ngài thậm chí còn tài trợ cho thánh Giêrônimô trong việc dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh, ngôn ngữ phổ thông thời bấy giờ.  Bản dịch này, theo yêu cầu của Giáo hoàng St. Damasus, được gọi là Vulgate.  Khi thánh Giêrônimô và các môn đệ đến Đất Thánh, thánh Heliodorus cũng đi theo, mặc dù ngài từ chối tham gia vào cuộc sống ẩn dật trong sa mạc vì ngài cảm thấy Chúa không kêu gọi mình theo lối sống đó.

 

Thánh Giêrônimô nổi tiếng với tính khí nóng nảy, đã rất bực bội về điều này và đã viết một lá thư đầy phẫn nộ quở trách thánh Heliodorus.  Sau đó, thánh Heliodorus trở lại Ý và được bổ nhiệm làm Giám mục của thị trấn nhỏ Altino.  Ở đây, ngài vẫn thể hiện lòng khoan dung và độ lượng của mình bằng cách tiếp tục gửi hổ trợ tài chính cho thánh Giêrônimô.

 

Đôi khi, sự khác biệt về tính cách có thể khiến tình bạn trở nên căng thẳng.  Ví dụ điển hình về điều này liên quan đến hai vị thánh Basiliô và Grêgôriô thành Nazianzus của thế kỷ IV.

 

Basiliô là người hướng ngoại, dứt khoát và kiên định, trong khi đó Grêgôriô nhạy cảm, rụt rè và thích ẩn dật.  Cả hai đều được thụ phong linh mục, Basiliô rất sẵn sàng, còn Grêgôriô thì rất miễn cưỡng, và cả hai đều về một tu viện để tu tập một thời gian.  Vào năm 370, Basiliô được bổ nhiệm làm Giám mục Caesarea, và ngài đã chứng tỏ mình rất phù hợp với vai trò tích cực trong việc bảo vệ giáo lý của Giáo hội chống lại những lạc thuyết thời đó.

 

Đổi lại, hai năm sau, Basiliô đã bổ nhiệm “người bạn miễn cưỡng” của mình là Grêgôriô làm Giám mục Sasima.  Tuy nhiên, thay vì đến Sasima ở, Grêgôriô vẫn ở lại Nazianzus để phụ giúp cha mình, lúc đó cũng đang là Giám mục ở đó (vào thời kỳ đầu của Giáo hội, giáo sĩ chưa bắt buộc phải độc thân).  Điều này khiến Basiliô rất tức giận, có lẽ vì ngài đã quen với chuyện mọi việc phải theo ý mình trong những vấn đề như vậy.  Tuy nhiên, cuối cùng, hai người bạn cũng đã làm hòa với nhau, và nếu sự hòa giải này không xảy ra trong cuộc sống trần thế của họ, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ xảy ra trên Thiên Đàng.

 

Tình bạn là một quà tặng

 

Tình bạn là một quà tặng của Thiên Chúa.  Quả vậy, theo thánh Aelred thành Rievaulx: “Thiên Chúa là tình bạn.”  Đó là lý do tại sao Thánh Phanxicô de Sales có thể tự tin nói rằng: “Tình bạn trên thế giới này sẽ được nối lại, không bao giờ bị tan vỡ.”  Suy nghĩ này có thể là một sự an ủi nếu bạn buồn bã vì sự tan vỡ của một tình bạn từng viên mãn.  Bạn có thể yên tâm rằng trong vương quốc của Thiên Chúa, tất cả các mối quan hệ đổ vỡ sẽ được chữa lành và hoàn thiện.  Nếu bạn không muốn tái lập mối quan hệ với ai đó, ngay cả trên Thiên Đàng, thì tốt hơn hết bạn nên bắt đầu cầu nguyện để thay đổi con tim, vì cách duy nhất để tránh biết và yêu thương ai đó trong cõi vĩnh hằng là một hoặc cả hai bạn đều ở ngoài Nước Trời.

  

Những người bạn thường giúp chúng ta phát triển lòng đạo hạnh, và chúng ta cũng nên làm điều tương tự cho họ.  Giúp đỡ lẫn nhau để trưởng thành trong sự thánh thiện đôi khi có thể cần đến sự sửa dạy trong tình huynh đệ.  Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề này, Thánh Phanxicô Xaviê khuyên rằng: “Các bạn càng thân thiết, các bạn càng có thể nói thẳng thắn, nhưng nếu chỉ là quen biết xã giao thì từ từ rồi hãy quở trách.”

 

Sự quan tâm của chúng ta đến hạnh phúc thiêng liêng của bạn bè luôn đi kèm với sự rủi ro là họ sẽ bị xúc phạm hoặc buồn lòng vì chúng ta.  Nhưng mọi tình bạn – ngay cả khi tan vỡ – đều có thể trở thành phúc lành khi bạn nhìn nhận từ góc độ của sự vĩnh hằng.

 

Suy tư thêm từ các vị thánh

“Khi tôi kiệt sức vì những bất ổn của thế giới, tôi hoàn toàn phó mình cho tình thương của những người đặc biệt gần gũi với tôi.  Tôi biết rằng mình có thể hoàn toàn tin tưởng họ với những suy nghĩ và cân nhắc của mình, bởi vì họ có một tình yêu Kitô giáo nồng nàn và là những người bạn trung thành của tôi.  Vì tôi không tin tưởng họ như tin tưởng một con người khác, mà là tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng ngự trong họ và khiến họ trở nên như hiện tại.”  Thánh Augustinô

 

“Nếu một người phải chịu đựng sự lăng mạ, đánh đập và bỏ tù vì một trong những người bạn của mình, anh ta sẽ đau khổ biết bao khi biết rằng người bạn của mình không nhớ gì về điều đó và thậm chí không muốn nghe người ta nói về điều đó.  Mặt khác, anh sẽ hài lòng biết bao khi biết rằng bạn anh ta luôn tha thiết nói về điều đó và thường cảm ơn anh về điều đó.  Vì vậy, Chúa Giêsu Kitô rất hài lòng khi chúng ta nhớ lại với lòng biết ơn yêu thương vì những nỗi đau đớn, nỗi buồn và cái chết mà Ngài đã chịu vì chúng ta.  Mỗi lần chúng ta bị một người bạn đối xử tệ bạc, chúng ta có thể tự hỏi mình đã đối xử với “Người Bạn” vĩ đại nhất như thế nào.” Thánh Alphonsus Liguori

 

Một số điều bạn có thể thử

Thánh Augustinô nói rằng vào những lúc chúng ta bị cái nghèo làm khổ cực, buồn bã vì tang chế, ốm đau hoặc dằn vặt bởi nỗi đau, hãy để những người bạn tốt đến thăm chúng ta.  Họ nên là những người không chỉ có thể vui với niềm vui của ta mà còn có thể khóc với nỗi sầu của ta nữa.  Hãy để họ là những người đưa ra lời khuyên hữu ích và giúp ta bày tỏ cảm xúc của mình trong cuộc trò chuyện.

 

Bạn nên cố gắng trở thành người bạn tốt như thánh Augustinô đã đề cập, ngay cả với những người bạn cũ, đặc biệt là khi họ gặp bất hạnh.  Đây sẽ là dấu chỉ của lòng bác ái Kitô giáo chân chính nơi bạn, và trong trường hợp tình bạn rạn nứt, nó thậm chí có thể giúp hàn gắn lại.

 

Duy trì lòng bác ái với những người bạn cũ là điều quan trọng, ngay cả khi họ đối xử bất công với bạn.  Thánh Thomas More, khi bị kết án tử hình vì từ chối chấp nhận cuộc hôn nhân không hợp lệ của Vua Henry VIII, đã nói với các thẩm phán của mình, một số người trong số họ vốn là bạn bè và đồng nghiệp của ngài rằng: “Giống như thánh Phaolô đã giữ áo cho những kẻ ném đá Stêphanô chết, giờ đây cả hai đều là bạn trên Thiên đàng và sẽ mãi mãi là bạn ở đó, thì tôi cũng thật sự tin tưởng và nguyện cầu hết lòng rằng, mặc dù hiện giờ trên trần gian, các ngài là những vị thẩm phán lên án tôi, nhưng sau này chúng ta vẫn có thể gặp nhau trên Thiên đàng trong sự cứu rỗi đời đời.”

 

Tác giả: Fr. Joseph M. Esper - Chuyển ngữ: Mai Ni
Nguồn: Catholic Exchange

 

Suy Niệm Chúa Nhật 18 Thường Niên B

 Con người tìm Chúa vì điều gì?

Nhiều người lầm tưởng rằng khi thế giới văn minh thì tôn giáo sẽ không còn. Và khi con người đầy đủ vật chất thì nhu cầu tâm linh sẽ hết. Nhưng xem ra những gì đang diễn ra trong cuộc sống lại ngược lại. Nhu cầu tâm linh nhiều hơn. Người ta tìm đến với tôn giáo nhiều hơn. Các lễ hội biểu lộ niềm tin cũng phong phú hơn...
Thực ra, con người và tôn giáo luôn là một. Đã có con người là có tôn giáo. Niềm tin đi chung với sự phát triển của xã hội con người. Con người không thể phủ nhận niềm tin trong sâu thẳm tâm hồn mình. Dù một thời gian dài người ta rao truyền một chủ thuyết vô thần nhưng cho tới nay những người gọi là vô thần ta vẫn thấy họ biểu lộ niềm tin của mình qua đi lễ, đi Chùa hay làm việc công đức...
Điều đáng nói là họ tìm về thần linh chỉ để cầu lợi cho bản thân. Họ mong thần linh phù hộ cho công thành danh toại, và đáp ứng mọi nhu cầu của họ. Họ tìm đến thần linh như một mối lợi cho công danh sự nghiệp, cho tương lai của họ. Họ tìm đến thần linh để tìm đến nhu cầu trước mắt là cái ăn, cái mặc, là của ăn mau hư nát mà thôi.
Năm xưa, khi những người Do Thái đi tìm Chúa về lý do trần thế, Chúa Giê-su đã mời gọi họ “hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh”. Và muốn có lương thực ấy hãy tin vào Thiên Chúa, một vì Thiên Chúa đang ở giữa dân Người. Đúng vậy, chính Chúa Giê-su đã xác quyết: "Chính Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ!".
Nhưng đáng tiếc, với óc thành kiến dân Do Thái đã không tin nhận nơi Ngài. Họ vẫn loay hoay đi tìm một Đấng Messia theo ý họ, một Đấng có thể chiều lòng họ. Điều ấy đã không bao giờ xảy ra. Vì con người là thụ tạo cần phải vâng phục lời Thiên Chúa và để Ngài dẫn dắt cuộc đời con người.
Nhân loại ngày nay cũng đang loay hoay đi tìm Đấng Tạo Hóa, nhưng họ vẫn đi tìm một thần linh theo ý họ. Một thần linh mà có thể “hô mưa hóan gió” theo ý của con người, nên họ thất vọng, đánh mất niềm tin...
Xem ra con người ngày nay cũng chẳng khá hơn người xưa là mấy! Những người xưa đi theo Chúa năm xưa là những người "xôi thịt », chỉ mong thấy dấu lạ, được ăn no nê nhưng ít ra họ còn lui tới để nghe Chúa giảng, Chúa nói về Nước Trời.
Ngày nay, người đến nhà thờ vẫn còn đông nhưng người thực sự muốn nghe lời Chúa dạy thì liệu đuợc bao nhiêu? Nhất là người thường xuyên rước lễ cũng thưa dần.
Ngày nay, người ta cổ vũ đời sống thực dụng nghĩa là đắm đuối trong chuyện kiếm tiền. Vì như người ta nói "có thực mới vực được đạo!". Nhưng đó chỉ là ngụy biện, thử hỏi ngày hôm nay có ai chết vì đói hay là chết vì no? Chỉ thấy chết vì no mà thôi, bởi lẽ người ta ăn nhiều quá, sinh bệnh mà chết, thế nhưng họ vẫn ưu tiên cho việc tìm kiếm của ăn đời này hơn là của ăn không hư nát đời sau.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho mỗi người chúng ta rằng chính Ngài là Bánh Trường Sinh có thể làm no thỏa lòng khát khao được sống đời đời. Thế nên, hãy tìm kiếm của ăn không hư nát là chính Chúa và hãy sống theo tinh thần của phúc âm, nhờ đó mà ta có được sự sống đời đời. Xin cho chúng ta đừng tìm Chúa vì nhu cầu vật chất mà hãy tìm Chúa để Ngài ban cho chúng ta thứ lương thực trường sinh. Xin Chúa thêm ơn để ta nhận ra chỉ có Chúa mới là lương thực trường tồn, là Bánh Trường Sinh. Amen.

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Con Đường Ít Ai Đi

 


CON ĐƯỜNG ÍT AI ĐI



 

Hai con đường rẽ ra trong một khu rừng – và tôi, tôi chọn con đường ít ai đi, đó là cả một khác biệt.


Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với lời của nhà thơ Mỹ Robert Frost (1874-1963), ông đã nói vô số lần trong các bài phát biểu tốt nghiệp và trong các dịp khác như một thách thức: chúng ta không nên đi theo đám đông, nhưng dám đi trên con đường của chính mình, nâng nỗi cô đơn của mình lên một tầm cao mới.  Đúng, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta như thế khi chúng ta đứng trước hai con đường rất khác nhau.

 

Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu tóm tắt nhiều lời dạy quan trọng của Ngài.  Nhưng những lời này dễ bị hiểu lầm và thường chúng ta hợp lý hóa nó.  Phần lớn chúng ta không nắm bắt được điểm chính yếu ở lời dạy này: đức hạnh chúng ta phải sâu sắc hơn đức hạnh của các luật sĩ và của người 
biệt phái Pharisêu.  Vấn đề ở đây là gì?

 

Hầu hết các luật sĩ và người Pharisêu đều là những người tốt, chân thành, tận tụy, mộ đạo, có đức hạnh cao.  Họ tuân giữ các Điều răn, họ là các ông các bà giữ công lý nghiêm ngặt.  Họ công bằng với mọi người, rất nhân từ và quảng đại với người lạ.  Vậy, họ còn thiếu gì?  Đúng, họ tốt nhưng chưa đủ.  Vì sao?

 

Vì chúng ta có thể là người đạo đức, hoàn toàn công bằng và quảng đại nhưng chúng ta vẫn có thể căm ghét, trả thù và hung bạo vì đó là những chuyện chúng ta vẫn có thể làm một cách công bằng.  Công lý nghiêm ngặt cho phép chúng ta có thể ghét người ghét mình.  Trả thù khi bị đối xử bất công và có thể ủng hộ án tử hình.  Mắt đền mắt!

 

Nhưng khi làm như vậy, chúng ta luôn làm những gì đến một cách tự nhiên.  Yêu người yêu mình là chuyện tự nhiên, ghét người ghét mình cũng là chuyện tự nhiên.  Nhưng đức hạnh thực sự đòi hỏi nhiều hơn thế.  Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta đến với điều gì đó cao cả hơn.  Ngài xin chúng ta yêu người ghét chúng ta, chúc phúc cho người nguyền rủa chúng ta, không bao giờ tìm cách trả thù và tha thứ cho những kẻ giết chúng ta – kể cả những kẻ giết người hàng loạt.

 

Phải thừa nhận, đây không phải là con đường dễ đi.  Hầu như mọi bản năng tự nhiên trong chúng ta đều chống lại điều này.  Phản ứng tự phát khi chúng ta bị oan là gì?  Chúng ta muốn trả thù.  Phản ứng tự phát khi chúng ta nghe tin kẻ nổ súng trong vụ thảm sát đã bị giết là gì?  Chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm.  Phản ứng tự phát của chúng ta khi kẻ giết người không hối hận bị hành quyết là gì?  Chúng ta cảm thấy vui vì hắn đã chết; chúng ta không thể kiềm chế các phản ứng này.  Công lý đã được thực thi.  Một điều gì đó đã được thực thi trong vũ trụ.  Sự phẫn nộ về mặt đạo đức của chúng ta đã được xoa dịu.  Đã có một kết luận.

 

Có một kết luận không?  Không.  Những gì chúng ta cảm thấy chỉ là giải thoát về mặt cảm xúc, là thanh tẩy; nhưng có một khác biệt rất lớn giữa thanh tẩy và sự khép lại thực sự.  Mặc dù về mặt tâm lý, sự giải thoát về mặt cảm xúc có thể lành mạnh, chúng ta được Chúa Giêsu và tất cả những gì cao cả nhất bên trong chúng ta mời gọi đến với một điều gì đó khác, đến một con đường vượt ra ngoài cảm giác giải thoát về mặt cảm xúc, cụ thể là con đường ít người đi để đến với lòng trắc ẩn: hiểu biết và tha thứ rộng lớn hơn.

 

Để đánh giá điều này, chúng ta nên xem lại cách Đức Gioan-Phaolô II giải quyết án tử hình.  Ngài là giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử Giáo hội hai ngàn năm lên tiếng phản đối án tử hình.  Ngài không nói án tử hình là sai, vì theo công lý nghiêm ngặt, án tử hình có thể được thực hiện.  Ngài chỉ nói chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu mời gọi chúng ta làm điều khác: tha thứ cho kẻ giết người.

 

Nói thì dễ! Khi nghe tin vụ xả súng hàng loạt, suy nghĩ và cảm xúc của tôi không tự nhiên hướng đến sự hiểu biết và thông cảm với kẻ xả súng.  Tôi không đau khổ về việc người này đã đau khổ như thế nào để làm việc này.  Tôi không thông cảm với những người có vấn đề tinh thần, những người bị tổn thương để họ có thể làm những chuyện như vậy.  Nhưng, cảm xúc tự nhiên của tôi là đi con đường của nhiều người đi: đây là người xấu xa, họ đáng chết!  Sự đồng cảm và tha thứ không phải là điều đầu tiên tôi nghĩ đến trong những tình huống này.  Thù hận và muốn trả thù: có.

 

Tuy nhiên, đó lại là con đường của cảm xúc, con đường được lựa chọn nhiều hơn.  Điều này dễ hiểu.  Ai muốn thông cảm cho kẻ giết người, kẻ ngược đãi, kẻ bắt nạt?

 

Nhưng đó chỉ là cảm xúc khi chúng ta trút giận.  Có điều gì đó khác bên trong chúng ta luôn kêu gọi chúng ta đến với điều cao cả hơn, cụ thể: đến với thông cảm và thấu hiểu mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong Bài giảng trên núi.  Hãy yêu kẻ ghét mình.  Chúc phúc cho kẻ nguyền rủa mình.  Tha thứ cho kẻ làm hại mình.

 

Hơn nữa, đức hạnh này không phải là điều chúng ta có thể có một lần và được mãi mãi.  Không.  Đức tin làm việc theo cách: có ngày chúng ta đi trên mặt nước, có ngày chúng ta chìm lỉm như tảng đá.  Vì vậy, giống như nhà thơ Robert Frost nói, có những khi chúng ta thấy mình đứng giữa hai con đường.  Một con đường nhiều người đi, con đường của căm thù, trả thù, con đường cảm thấy mình là nạn nhân; con đường kia ít người đi, mời tôi đi trên con đường của lòng trắc ẩn, thông cảm và tha thứ cao cả hơn.

 

Tôi sẽ chọn con đường nào?  Đôi khi là con đường này, đôi khi là con đường kia; dù tôi biết con đường nào Chúa Giêsu đang mời tôi.

 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Bổn mạng tháng 8


THÁNG 8


 

NGÀY

LỄ

QUAN THẦY

01/08

Lễ thánh Alphonse

Chị Ngọc Anh

04/08

Lễ thánh Jean-Marie Vianney

Chị Thùy

08/08

Lễ thánh Dominique

Chị Thảo (Dominique)

11/08

Lễ thánh Claire

Chị Thìn

12/08

Lễ thánh Jeanne de Chantal

Chị Hữu

14/08

Lễ thánh Maximilien Kolbe

Chị Mỹ Tiên

15/08

Lễ Đức Mẹ Lên Trời

(Marie Assomption)

*Bổn mạng Tỉnh Dòng

*Các Chị Vĩnh Khấn

*Chị Luyến

18/08

Lễ thánh Hélène.

Chị Sinh

20/08

Lễ thánh Bernard

Chị Hồng Diễm

22/08

Lễ Marie Régine

Chị Hân

23/08

Lễ thánh Rose de Lima

Chị Xuân Châu

24/08

Lễ thánh Emilie de Vialar

Chị Xuyên

27/08

Lễ thánh Monique

Chị Phượng

28/08

Lễ thánh Augustine

Chị Bích Phương

Ghi chú:

Từ ngày 06/08 đến ngày 14/08: làm Tuần Cửu Nhật mừng Lễ Mẹ Lên Trời - Bổn mạng Tỉnh dòng Đức Mẹ La Vang Việt Nam.

LỄ GIỖ BỐ MẸ CHỊ EM

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

 

NGÀY

LỄ GIỖ

07/08

Ông cố Anrê- Thân phụ chị Kim Tiên

08/08

Bà cố Anna - Thân mẫu chị Bích Nga

14/08

Ông cố Phêrô - Thân phụ chị Khiêm

16/08

Bà cố Lucia - Thân mẫu chị Phượng (Monique)