Oh! Qu’il est doux de mourir à une religieuse. Je ne vous oublierai pas là- haut.
Ôi! êm dịu thay cho một nữ tu khi từ trần. Trên trời tôi sẽ không quên các Chị.
“TRẺ ĐẸP” MÃI VÌ YÊU THƯƠNG
Là người, ai cũng thích trẻ đẹp, kể cả người luống tuổi cũng níu kéo tuổi trẻ, sắc đẹp của mình bằng chạy đến mỹ viện, cậy nhờ son phấn, trong nuối tiếc thời thanh xuân trẻ đẹp, vì trẻ đẹp là ước mơ khôn nguôi của mọi người.
Trẻ là mơ ước, vì tuổi trẻ hào phóng, quảng đại ; người trẻ dễ gần, dễ thương, dễ cảm thông, chia sẻ ; đời trẻ hăng say, không sợ nguy hiểm, bất chấp thử thách, gian nguy, thế hệ trẻ tràn đầy sức sống, niềm vui, hy vọng. Bên cạnh mơ ước « trẻ » là ước mơ « đẹp », vì người đẹp được chiêm ngưỡng, yêu thương, ca tụng ; nét đẹp luôn làm phấn khởi lòng người, và sắc đẹp ở đâu và thời nào cũng là lợi thế không thể chối cãi.
Nhưng thực tế cho thấy mơ ước vẫn mãi là ước mơ, nếu chẳng may không được sinh ra với nhan sắc mặn mà, để một thời được đời gọi là « người đẹp » ; và một điều không thể tránh, đó là mai ngày tuổi già ập đến, tóc bạc, da nhăn, lưng còng, chân mỏi, và « trẻ đẹp » hờ hững bỏ đi như những dòng sông buồn, cô quạnh.
Chính trong nỗi buồn của những dòng sông cuộc đời không còn trẻ đẹp, Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta những con người không bao giờ hết đẹp, và chẳng bao giờ già nua, những con người đã thực hiện trọn vẹn ước mơ trẻ đẹp của đời mình, vì không chỉ trẻ đẹp mãi dưới ánh mắt, mà còn trong trái tim của Thiên Chúa và loài người. Họ là những con người thánh !
Trước hết, Đức Giêsu giới thiệu những « con người thánh » là những người được Thiên Chúa chúc phúc : họ được chúc phúc vì nghèo khó, hiền lành, công chính, nhân hậu, hay xót thương, trong sạch, yêu mến và xây dựng hoà bình, và bị vu khống, bách hại vì danh Chúa (x. Mt 5, 3-12).
Nhưng có phải họ nghèo khổ, hiền lành, bị bách hại … vì lười biếng, ngu ngốc, khờ dại, hay thiếu khôn ngoan, khéo léo trong cuộc sống không ?
Thưa họ chịu thiệt thòi, thua kém người đời đến nỗi trở nên nghèo khó, bị rơi vào cảnh sầu khổ, bị thiên hạ hàm oan, lên án, chịu mất mát, lép vế, xử tệ vì yêu thương những người anh em của mình. Có người trong số họ nghèo vì quảng đại chia sẻ, sầu buồn vì mang lấy gánh nặng tang thương của người khác, bị hồ đồ tố cáo vì quên mình phục vụ, bị oan uổng kết án vì hết lòng xót thương và hết tình bênh vực, cứu giúp người cô thế, bần cùng, không tiếng nói. Cuộc đời họ trở thành những trang sử bi hùng, không vì «vinh thân phì gia » nhưng vì người khác đang cần trái tim chạnh lòng thương xót và bàn tay chia sẻ của họ ; tiếng tăm, danh dự, chỗ đứng của họ bị đe dọa, bôi nhọ, giật sập vì sự sống và hạnh phúc của những anh chị em « thấp cổ bé miệng » bị đời đàn áp, bóc lột.
Tóm lại, những con người thánh luôn thiệt thòi nhiều, mất mát nhiều, thua lỗ nhiều vì anh em ; họ khổ nhiều nỗi, truân chuyên đủ mặt, vất vả đủ kiểu cho sự sống và tương lai của nhiều người, và dưới con mắt người đời, họ là những người không khôn, không khéo. Và một điều chắc chắn : họ đã không nghèo khổ, nhục nhằn, chịu oan sai, lên án, nếu đã ích kỷ co cụm, lo cho thân mình, mà không xả thân gánh vác việc thiên hạ, hy sinh vì hạnh phúc của tha nhân, chạnh lòng thương xót anh chị em cùng khốn.
Nhưng phúc cho họ, vì chỉ một mình Thiên Chúa biết họ khôn, vì họ yêu thương và họ được Thiên Chúa ủi an, được nhìn thấy Thiên Chúa, được Nước Trời làm gia nghiệp và phần thưởng lớn lao trên trời. Và vì có Thiên Chúa, có Nước Trời, họ đạt trọn vẹn ước mơ trẻ đẹp trong Thiên Chúa là Tình Yêu .
Quả thực, trong Tình Yêu, Thiên Chúa là mùa xuân vĩnh cửu mãi mãi làm tươi trẻ tuổi thanh xuân của họ, để họ không bao giờ phải già nua, vì tình yêu luôn làm họ tươi trẻ. Chính tình yêu đã làm tâm hồn một thánh Giáo Hoàng Phaolô II trở thành mùa xuân bất tận của tuổi trẻ thế giới, dù tuổi đời của Ngài cao và sức khỏe tiêu hao, tàn tạ những năm cuối đời. Ai có thể nói tâm hồn của vị thánh giáo hoàng của thế kỷ XX này già nua, cằn cỗi, lạc hậu, bảo thủ ? Ai có thể tìm ra những tiêu cực của tuổi già ở vị thánh của giới trẻ thời đại, ngay cả trên giường bệnh ? Những phong trào trẻ trên khắp thế giới được khai sinh từ « tinh thần trẻ » Gioan Phaolô II, những đại hội giới trẻ thế giới hằng năm từ sáng kiến của vị giáo hoàng suốt đời thao thức làm trẻ trung Đức Tin ở giới trẻ lôi cuốn hàng triệu bạn trẻ khắp nơi về gặp gỡ, chia sẻ làm chứng điều này, bởi chỉ có tình yêu Đức Giêsu mới làm tươi trẻ mãi cuộc đời của những con người thánh như ngài.
Một con người thánh khác, cũng cùng thời đại chúng ta, là Mẹ Têrêsa Calcutta. Nhìn vào cuộc đời của Mẹ, ai dám bảo đó là cuộc đời không đẹp ? Trái lại, mọi người đều trầm trồ ca ngợi Mẹ là con người sống đẹp, sống cuộc đời rất đẹp khi yêu thương và hiến thân phục vụ những con người bị xã hội xô đẩy xuống đáy vực thẳm cuộc đời. Thử hỏi hoa hậu nào đẹp hơn Mẹ ? Mỹ nhân nào đáng yêu, đáng mến hơn Mẹ ? Và một lần nữa, chính tình yêu Đức Giêsu đã làm đẹp mãi con người và cuộc đời con người thánh Têrêsa Calcutta.
Mừng kính các Thánh nam nữ, chúng ta chiêm ngưỡng cuộc đời tươi đẹp của các vị, nhưng quan trọng hơn cả là nhận ra đâu là « bí quyết » đã làm các vị trẻ mãi không già, đẹp hoài không phôi pha, tàn tạ. Bí quyết đó là Tình yêu : tình yêu đã cho các vị được trẻ mãi khi hiện diện sống động và hạnh phúc trong Thiên Chúa và trong tâm hồn anh chị em mình ; tình yêu đã làm các vị đẹp mãi đời đời, vì được Thiên Chúa trang điểm bằng Hồng Ân, và nét đẹp kiều diễm, tráng lệ, thánh thiện của các vị không ngừng thôi thúc, lôi cuốn trái tim người khác nôn nao muốn trở nên giống các vị.
Vâng, khi chiêm ngắm các Thánh nam nữ trên trời, chúng ta mới nhận ra : chỉ Tình Yêu mới bảo đảm đời đời nét trẻ đẹp của chúng ta, vì chúng ta chỉ trẻ mãi, đẹp mãi trong trái tim và cuộc đời của những người chúng ta yêu thương, phục vụ với tình yêu, và vì tình yêu ; chúng ta chỉ tươi trẻ và xinh đẹp trong sự sống và hạnh phúc mà chúng ta đã cưu mang, xây dựng nơi người khác ; chúng ta chỉ hiện diện với niềm vui rạng rỡ của tuổi trẻ, và sức hấp dẫn lạ thường của nhan sắc trong người khác, bên những bó lúa vàng lung linh nước mắt hy sinh, và óng ánh mồ hôi của tháng ngày yêu thương, phục vụ ; và chúng ta, những con người tội lỗi, chưa đạt đến độ « làm người thánh » như các Thánh nam nữ sẽ chỉ thực sự được trẻ mãi không già, đẹp hoài không xấu, khi tìm đến và ở lại trong Thiên Chúa là Tình Yêu không đổi dời, không lừa dối, không dập dờn lên xuống, nhưng trước sau vẫn một tình Cha thương con, vẫn một lời hứa : « tất cả những gì của Cha là của con » (Lc 15,31), vẫn đời đời một mực trân quý và « đi tìm cho kỳ được » những gì đã mất (Lc 15,4), vẫn luôn hào sảng « mở tiệc ăn mừng, vì « con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy » (Lc 15, 23-24).
Chính ở Tình Yêu đời đời bất diệt, không đổi thay, nhưng trung tín đến cùng và sâu thẳm tận cùng của Thiên Chúa, dù chúng ta yếu đuối, thay đổi không ngừng, phản bội không hổ thẹn, mà cuộc đời chúng ta được bảo đảm luôn trẻ, đẹp, vì chính Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ nhân hậu sẽ làm tươi trẻ, xinh đẹp cuộc đời mau già nua, héo úa của chúng ta, như đã làm cho các Thánh được bất tử trong tuổi trẻ và sắc đẹp thánh thiện của hồng ân « được làm người để sống yêu thương như Thiên Chúa là Tình Yêu ».
CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN A
Tình yêu là lẽ sống . . . ?
Đã có lần Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn văn Thuận từng
nói với Bill Gate rằng: “Sự văn minh đích thực là không để ai ở lại phía sau”.
Và Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolo II cũng nói: “Sự văn minh đích thực là phục vụ
sự sống”. Thế nhưng, “những điều trông
thấy mà đau đớn lòng”. Một thế giới quá chênh lệch giầu nghèo. Một thế giới quá
đề cao đồng tiền mà quên cả lương tri con người. Một thế giới lấy kinh tế làm đầu
nên đã làm đảo lộn biết bao thuần phong mỹ tục, và những giá trị đạo đức truyền
thống của các tiền nhân. Khoa học tiến bộ,
nhưng đạo đức và phong hoá xuống cấp trầm trọng. Sự tiến bộ của khoa học dường
như đang giúp sức cho sự dữ gia tăng. Khoa học tiến bộ đang phục vụ cho văn hoá
sự chết hơn là phục vụ cho văn hoá sự sống. Người ta tìm muôn nghìn cách thức để
lừa đảo, gian manh và truỵ lạc. Đứng trước viễn cảnh đen tối của xã hội hôm
nay, Sĩ Phu Bắc Hà đã đúc kết thành bốn câu thơ:
Nhân phẩm từ đây giảm giá rồi
Chỉ còn lương thực tăng giá thôi
Lương tâm bán rẻ hơn lương thực
Chân lý chân giò một giá thôi!
Một thế giới thượng vàng hạ cám đã làm lệch đi rất
nhiều những giá trị của cuộc sống. Một thế giới xem ra những nghĩa cử yêu
thương thật hiếm hoi. Đó chính là một thách đố cho người ky-tô hữu chúng ta. Liệu
rằng chúng ta có dám sống triệt để giới răn mến Chúa yêu người giữa một xã hội
loại trừ Thiên Chúa và thiếu thốn tình người hay không? Liệu rằng chúng ta có
dám chịu thiệt thòi để người khác hưởng thụ trên lòng quảng đại của chúng ta
hay không? Liệu rằng chúng ta có dám yêu người khi mà người ta đang chơi xấu,
đang lợi dụng, đang làm hại chúng ta? Đây là một thách đố và cũng là đòi hỏi
triệt để, vì căn tính của người môn đệ Chúa là “yêu mến tha nhân như chính
mình”. Vì tình yêu là lẽ sống, là hơi thở của người ky-tô hữu. Không có tình
yêu thì sức sống của người tín hữu đã không còn. Không có lòng quảng đại thì
không còn là nhân chứng cho Tin mừng Nước Trời của Chúa. Chúng ta không thể nói
yêu Chúa mà trong lòng vẫn còn thù ghét anh em của mình. Chúng ta phải vượt lên
trên lòng ích kỷ, sự hẹp hòi của nhân thế để làm chứng cho một tình yêu nhân
ái, bao dung và vị tha.
Đây chính là
sứ điệp mà Tin Mừng hôm nay muốn loan
báo. Chúa mời gọi chúng ta hãy yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Đồng thời Ngài
cũng đòi buộc chúng ta phải yêu mến tha nhân như chính mình. Chính Thầy Chí
Thánh Giê-su đã làm gương cho chúng ta. Chính Ngài khi bị treo trên thập tự giá
đã giới thiệu cho nhân thế một tình yêu tinh ròng đến nỗi “dám chết cho người
mình yêu”. Ngài đã chọn thập tự giá làm biểu tượng cho tình yêu tự hiến của
mình. Với thanh dọc, Chúa chấp nhận cực
hình để tôn vinh Chúa Cha. Với thanh ngang, Ngài muốn ôm trọn nhân loại trong
tình thương của Chúa. Người ky-tô cũng được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng
với Thầy Giê-su khi chúng ta sống tôn vinh Chúa Cha, và yêu mến anh em như
chính mình.
Chính tình yêu đó sẽ giúp chúng ta vượt thắng những
tham lam bất chính, những thói hại người hại đời để tìm tư lợi riêng cho bản
thân mà người đời vẫn đang sống. Có thể là người, chúng ta cần địa vị, cần danh
vọng nhưng vì lòng yêu mến Chúa chúng ta không thể bán rẻ lương tậm, không làm hại đồng loại. Có
thể chúng ta cũng cần của cải để sinh sống, nhưng vì Chúa, chúng ta biết sống
quảng đại để mua lấy hạnh phúc Nước Trời. Có thể đồng loại, vẫn mưu toan làm hại
chúng ta, nhưng vì Chúa chúng ta nhịn nhục và nhẫn nại với nhau trong yêu
thương và tha thứ.
Như vậy, chỉ có ở trong tình yêu Chúa, chúng ta mới
dám sống yêu thương đồng loại như chính mình. Chính nhờ tình yêu Chúa, sẽ giúp
chúng ta trao ban sự sống sung mãn cho nhân thế qua những nghĩa cử yêu thương,
bác ái và vị tha. Chính tình yêu đối với Chúa, sẽ giúp chúng ta sống nhân ái và
bao dung với tha nhân là hình ảnh của Ngài.
Ước gì giữa một thế giới đang băng hoại về tình người,
chúng ta hãy thắp lên ngọn lửa của yêu thương, để sưởi ấm cho những ai đang cô
đơn, thất vọng vì thiếu vắng tình thương, sự cảm thông và nâng đỡ của anh em. Ước
gì giữa một thế giới đang bán rẻ lương tri, người ky-tô hữu hãy biết sống tôn
trọng lẫn nhau, biết sống cho tình người cao quý, hơn là những của cải vật chất
tầm thường. Ước gì người ky-tô hữu chúng ta, đừng vì danh lợi thú mà đánh mất
nhân phẩm con người là hình ảnh Thiên Chúa. Ước gì giữa một xã hội mà chân lý bị
vùi giập, chúng ta dám sống cho sự thật, cho dẫu rằng, có bị nghi kỵ, hiểu lầm,
kết án và tẩy chay. Giữa một thế giới mà người ta có thể nhân danh quyền lợi của
mình để giết hại người khác một cách phi nhân, ác đức, đặc biệt là các thai nhi
vô tội, chúng ta hãy sống theo gương Thầy Giê-su dám chết cho người minh yêu,
dám sống mình vì mọi người, và dám trở nên mọi sự cho mọi người như Thầy
Giê-su.
Nguyện xin Chúa là tình yêu, xin uốn lòng chúng con
nên giống trái tim yêu thương của Chúa. Amen
Jos Tạ duy Tuyền
NỐI
BƯỚC CÁC THỪA SAI
Trong
tông huấn Ecclesia in Asia, Đức Cố Gioan Hoàng Gioan Phao-lô II đã kêu gọi:“Thiên
niên kỷ thứ nhất truyền giáo cho Châu Âu. Thiên niên kỷ thứ hai truyền giáo cho
Châu Mỹ. Thiên niên kỷ thứ ba phải truyền giáo cho Á Châu”.
Cách riêng với Giáo Hội việt Nam năm 2003 mừng
470 năm Tin Mừng được rao giảng trên quê hương đất nước chúng ta, các Đức Giám
mục Việt Nam đã hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha, công bố thư mục vụ
mang tựa đề “SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG CỦA HỘI THÁNH VIỆT NAM HÔM NAY” đã khẳng
định: “Đầu thiên niên kỷ mới, sứ mạng
loan báo Tin mừng được đặc biệt trao vào tay chúng ta. Chúng ta hãy tiếp bước các
vị thừa sai đầy nhiệt tình tông đồ, hãy phát huy truyền thống kiên cường của
các bậc tiền nhân anh hùng tử đạo. Ta hãy đáp lại kỳ vọng của Hội thánh đem Tin
mừng cho anh em trên lục địa mênh mông này. Và đặc biệt đem Tin mừng cho anh
chị em sống ngay trên quê hương Việt nam” (Thư chung 2003)
Hơn nữa, Giáo hội Việt Nam ngày nay là con
cháu của 117 vị thánh Tử Đạo và của hàng chục ngàn người Việt Nam đã chết vì
đạo. Nhưng gần 5 thế kỷ trôi qua, Giáo hội Việt Nam xem ra vẫn còn bé nhỏ giữa lòng
dân tộc Việt nam. Theo thống kê năm 2006 thì Giáo hội việt nam có 26 Giáo Phận,
gồm khoảng 7 triệu giáo dân, trên tổng số hơn 80 triệu người Việt Nam, chiếm tỉ
lệ 6,62%.
Là người con của dân tộc Việt Nam, là dòng máu
các anh hùng Tử đạo Việt Nam chúng ta cần phải có bổn phận loan báo Tin mừng
cho chính quê hương, dân tộc của mình. Đạo làm người dạy chúng ta phải “thương người như thể thương thân”, thì
đạo làm con Chúa đòi hỏi chúng ta chia sẻ tất cả những gì mình có cho tha nhân,
cho đồng loại. Các thánh Tông Đồ, các vị Thừa Sai đã đem niềm vui lớn nhất là Tin
mừng Chúa Giê-su được công bố cho toàn thế giới. Các Ngài đã không quản ngại hy
sinh tính mạng để đổi lấy niềm vui ơn cứu độ được trao ban tới muôn triệu tâm
hồn. “Từng đoàn người vượt suối băng
rừng. Từng đoàn người ra khơi giữa biển rộng sóng lớn. Biết bao người bỏ mạng
nơi rừng sâu núi thẳm. Biết bao người bỏ xác ngoài biển khơi. Nhưng lớp này nằm
xuống, lớp khác đứng lên nối tiếp nhau đem Tin mừng đến tận cùng thế giới” (Thư
chung 2003)
Nhờ các vị thừa sai tràn đầy nhiệt huyết, quê
hương Việt Nam đã được đón nhận Tin mừng. Nhờ đời sống đức tin anh dũng của các
bậc tiền nhân mà thế hệ chúng ta được thừa hưởng một gia tài đức tin vô cùng
quý giá. Gia sản này chúng ta không có quyền lưu giữ cho riêng mình, nhưng phải có bỗn phận chia sẻ cho con
người thời đại hôm nay. Chúa Giê-su sau khi phục sinh, Ngài đã uỷ thác cho Hội
Thánh nhiệm vụ loan báo tin mừng khi Ngài nói: “Anh em hãy đi tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin mừng” (Mc 16,15).
Lệnh truyền này đã trở thành sứ mạng chính yếu của Hội Thánh Chúa Ky-tô. Hội
thánh hiện hữu là để loan báo Tin mừng và làm cho những ai thành tâm đón nhận
Tin mừng trở nên môn đệ Chúa Ky-tô, đồng thời quy tụ cho Thiên Chúa mọi con cái
tản mác khắp nơi về một mối (Ga 10,52). Thế nên, là người công dân của Nước
Trời, chúng ta phản có bỗn phận chu toàn sứ vụ đó cho anh chị em chung quanh chúng
ta, cụ thề là cho chình đồng bào và dân tộc Việt Nam.
Vậy, truyền giáo là gì?
Theo công đồng Vat II: “Việc truyền giáo là tất cả những công tác đặc biệt qua đó các nhà rao
giảng Phúc âm được Giáo hội sai đi khắp thế gian, thi hành nhiệm vụ rao giảng
Phúc âm và vun trồng Giáo hội nơi các dân tộc cũng như giữa những nhóm người
chưa tin vào Chúa” (TG 6c)
Trước đó, cha Pierre Charles cũng cho rằng: “mục tiêu truyền giáo không phải là cứu rỗi
các linh hồn”, hoặc “làm cho dân ngoại trở về với Chúa” . . .; song là “mở rộng biên cương Giáo hội hữu hình, nhằm hoàn tất tiến trình lớn
lên, hầu bao phủ toàn thế giới với lời cầu nguyện và việc phụng tự, tức là để
mang cho Đấng Cứu Thế toàn bộ gia sản của Ngài”.
Như
vậy, việc truyền giáo là “đưa Thiên Chúa
đến với con người và đưa con người trở về với Thiên Chúa”. Đó chính là mục
tiêu chính của việc truyền giáo và cũng là sứ mạng cấp bách của Giáo hội Chúa
Kitô. Vì Giáo hội được hình thành để tiếp nối sứ mạng của Chúa Giê-su, Đấng
sang lập Giáo hội. Khi hoàn tất sứ mạng của mình ở trần gian, Chúa Giê-su đã
sai phái các tông đồ tiếp tục sứ mạng đó cho đến tận cùng trái đất. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sia anh em”
(Ga 20, 21”. “Anh em hãy làm chứng cho Thầy khởi đầu từ Giê-ru-sa-lem đến tận
cùng trái đất” (Lc 24, 47)
Vì vậy, là người công giáo chúng ta phải có
bổn phận mang Tin mừng của Chúa đến cho anh em minh. Hãy tiếp nối sứ mạng của
Chúa Ky-tô đưa muôn người đang còn tản mác khắp nơi về với Chúa. Hãy tiếp nối
truyền thống của các Thừa sai Việt Nam mang Tin mừng đến cho những anh em nghèo
đói, đến những phận người bị bỏ rơi . . … Hãy tiếp nối tinh thần quả cảm hy
sinh, kiên cường của các tiền nhân mà mạnh dạn làm chứng cho Chúa, cho dù có bị
thua thiệt trước mặt người đời, cho dù có bị hiểu lầm, ngược đãi . . . nhưng
cùng chịu chết với Đức Ky-tô là một mối lợi mà không có một gia sản nào trên
trần gian có thể sánh bằng.
Nguyện xin Chúa Giê-su là người thợ lành nghề
được sai đến trần gian để gặt lúa của Người, xin giúp chúng con biết dấn thân
quảng đại vào cánh đồng truyền giáo Việt Nam hôm nay. Amen
LM. Jos Tạ Duy Tuyền